Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù các ngân hàng nỗ lực tăng vốn và cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR), nhưng mức tăng vẫn chậm và hệ số CAR toàn hệ thống vẫn thấp so với khu vực. Trong bối cảnh Thông tư 14/2025/TT-NHNN siết chuẩn theo lộ trình, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối quốc doanh, đang đối mặt áp lực tăng vốn rõ rệt.
aa
Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR
Đồ họa: ÁNH TUYẾT

CAR cải thiện chậm

Việc tăng vốn điều lệ vẫn là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng, bởi đây không chỉ là chỉ tiêu then chốt để mở rộng quy mô tài sản và tăng trưởng tín dụng, mà còn đóng vai trò như một “bộ đệm” giúp gia tăng khả năng chống chịu rủi ro tài chính.

CAR sát ngưỡng quy định, rủi ro có thể lộ rõ

"Theo quy chuẩn hiện nay, CAR khoảng 8%. Khi nâng lên trên 10%, các ngân hàng thương mại nhà nước mới đạt mức xấp xỉ như vậy, chỉ cần tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng lên, hệ số này sẽ bị điều chỉnh. Đó là chưa kể, nếu tín dụng phân bổ vào lĩnh vực rủi ro, chỉ cần có sự biến động, thì hệ số CAR sẽ giảm xuống rất lớn" - ông Nguyễn Quốc Hùng lưu ý.

Thống kê của phóng viên cho thấy, năm 2015, tổng vốn điều lệ của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước niêm yết trên sàn đạt 98.071 tỷ đồng, thì đến quý I/2025, con số này tăng lên 207.470 tỷ đồng, gấp 2,1 lần trong giai đoạn 2015 đến nay. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng ấn tượng hơn, từ mức thấp đã vươn lên 608.902 tỷ đồng, tức gấp 3,3 lần cùng giai đoạn.

Dù ngành ngân hàng dành nhiều nỗ lực tăng vốn điều lệ và cải thiện CAR, nhưng CAR của Việt Nam vẫn thấp nhất khi so sánh với nhiều quốc gia trong trong khu vực và trên thế giới. Đáng lưu tâm hơn, CAR nhiều ngân hàng có xu hướng cải thiện chậm qua các năm, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, phản ánh áp lực tăng vốn còn lớn trong bối cảnh lộ trình thực hiện Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) ngày càng đến gần.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup, hệ số CAR của ngành ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp. Theo ước tính, đến cuối năm 2024, CAR toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 12,5%, trong khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh, còn vốn tự có chưa được bổ sung kịp thời. Trong đó, nhóm "big 4" duy trì tỷ lệ CAR ở mức thấp hơn khoảng 10,5%, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trên 12%.

Khi so sánh với khu vực, tại các thị trường như Singapore, Trung Quốc, hay với những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như ANZ, Shinhan Bank..., hệ số CAR có thể đạt 25%, với khoảng cách rất lớn so với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Theo Chủ tịch FiinGroup, việc nâng CAR từ 12,5% lên 25% trong vòng 3 năm tới là điều gần như bất khả thi, dù áp lực tăng vốn đang lớn dần theo lộ trình thực hiện Thông tư 14. Riêng với các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, Nhà nước có thể không muốn pha loãng sở hữu hoặc tăng thêm vốn từ ngân sách, đây là bài toán khó khi bổ sung vốn thế nào, bằng nguồn nào.

Cũng theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hệ số CAR của nhiều ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam duy trì trên 20%, phản ánh năng lực tài chính mạnh và mức độ an toàn vốn rất cao. Trong khi đó, theo lộ trình mới, khi CAR tăng lên 10,5%, nhiều ngân hàng nhà nước chỉ vừa chạm ngưỡng này.

Siết chuẩn an toàn vốn, nới tín dụng có trọng tâm

Thông tư 14 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9/2025, thay thế Thông tư số 41/2016/TT-NHNN (Thông tư 41), nhằm tiến gần hơn tới các chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III.

Mặc dù Thông tư 14 đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với tỷ lệ an toàn vốn, với mức tối thiểu cao hơn theo lộ trình, song cũng có nhiều điều chỉnh đối với cách xác định tài sản có rủi ro tín dụng theo phương pháp tiêu chuẩn, theo hướng hỗ trợ một số phân khúc tín dụng như cho vay cá nhân và cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đơn cử, cho vay cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn được áp dụng hệ số rủi ro 50% thay vì mức mặc định 100% trước đây. Cho vay cá nhân với dư nợ dưới 8 tỷ đồng giảm từ 100% xuống còn 75%. Tín dụng nhà ở xã hội được áp dụng hệ số rủi ro linh hoạt từ 20% đến 50%, tùy theo mức độ rủi ro cụ thể. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ được điều chỉnh giảm nhẹ hệ số rủi ro từ 90% xuống còn 85%.

Đối với cho vay bất động sản, hệ số rủi ro 200% không còn được áp dụng mặc định mà chỉ áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không cung cấp báo cáo tài chính hoặc có vốn chủ sở hữu âm.

Theo Điều 5 Thông tư 14, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối thiểu đối với vốn lõi cấp 1 là 4,5%; vốn cấp 1 là 6%. Điểm mới của Thông tư 14 là quy định tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) là 2,5% sau năm 2030 trở đi và bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế (CCyB) được thiết kế như một công cụ điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, dao động từ 0 - 2,5%, tùy theo điều kiện kinh tế vĩ mô. Tổng hợp các quy định trên, tỷ lệ vốn lõi cấp 1 tối thiểu sẽ đạt mức 7% và CAR tổng thể bao gồm cả bộ đệm đạt tối thiểu 10,5%.

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới đây, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) cho rằng, việc ban hành Thông tư số 14 được đánh giá là bước chuyển mình tích cực của Ngân hàng Nhà nước, để đưa Việt Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực an toàn quốc tế, giúp nâng cao mức độ an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng phản ứng với rủi ro.

"Mặc dù Thông tư 14 tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả hơn về mặt vốn, nó cũng tiềm ẩn rủi ro nếu không được quản lý một cách thận trọng, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đang ở mức cao" - SSI Research lưu ý.

Bằng cách giảm hệ số rủi ro theo phương pháp tiêu chuẩn ở một vài phân khúc cho vay và cho phép lộ trình triển khai theo từng giai đoạn, Thông tư 14 tạo điều kiện mở rộng tín dụng bền vững, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ.

Cũng theo nhóm phân tích từ SSI Research, trong trường hợp không còn áp dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ cần triển khai các công cụ giám sát linh hoạt hơn như: bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế, hệ thống đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP), cùng với việc tăng cường giám sát rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.

Lộ trình triển khai theo 2 giai đoạn

Lộ trình triển khai Thông tư 14 theo 2 giai đoạn nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng từng bước thích ứng và tuân thủ. Theo đó, giai đoạn chuyển tiếp đến ngày 31/12/2029, các ngân hàng được phép lựa chọn giữa 2 phương pháp tính CAR theo Thông tư 14 hoặc Thông tư 41, với điều kiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Giai đoạn triển khai toàn diện từ ngày 1/1/2030, tất cả các ngân hàng phải áp dụng phương pháp tiêu chuẩn theo Thông tư 14.

Theo lộ trình, CAR có thể tăng lên 10,5%, chưa kể nếu CCyB được kích hoạt cao hơn. Điều này buộc các ngân hàng phải hành động ngay giai đoạn 2025 - 2029, nếu không muốn bị động khi bước vào giai đoạn bắt buộc.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, việc tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước hiện nay vẫn cần sự chấp thuận của Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, có thể đây không còn là rào cản quá lớn, bởi Chính phủ có chủ trương cho phép các ngân hàng được giữ lại một phần lợi nhuận hàng năm để bổ sung vào vốn điều lệ.

"Trước đây các tổ chức dụng kể cả có lợi nhuận đi chăng nữa cũng không được để lại vốn, không được tự tăng" - ông Hùng nói. Từ đó, giúp giữ vững vị thế cũng như tạo điều kiện cho các ngân hàng này bơm vốn cho nền kinh tế, phục vụ các doanh nghiệp chủ lực và hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 14,500
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 14,410
Trang sức 99.99 13,820 14,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17837 18111 18685
CAD 18147 18423 19039
CHF 31410 31789 32432
CNY 0 3830 3940
EUR 29408 29629 30705
GBP 34328 34720 35652
HKD 0 3192 3394
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14891 15479
SGD 19817 20098 20667
THB 702 765 818
USD (1,2) 25805 0 0
USD (5,10,20) 25845 0 0
USD (50,100) 25873 25907 26273
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25880 25880 26240
AUD 18010 18110 19041
CAD 18322 18422 19436
CHF 31620 31650 33236
CNY 3803.1 3828.1 3963.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29574 29604 31329
GBP 34624 34674 36442
HKD 0 3355 0
JPY 159.98 160.48 171.02
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14987 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19964 20094 20815
THB 0 731.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80