Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù các ngân hàng nỗ lực tăng vốn và cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR), nhưng mức tăng vẫn chậm và hệ số CAR toàn hệ thống vẫn thấp so với khu vực. Trong bối cảnh Thông tư 14/2025/TT-NHNN siết chuẩn theo lộ trình, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối quốc doanh, đang đối mặt áp lực tăng vốn rõ rệt.
aa
Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR
Đồ họa: ÁNH TUYẾT

CAR cải thiện chậm

Việc tăng vốn điều lệ vẫn là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng, bởi đây không chỉ là chỉ tiêu then chốt để mở rộng quy mô tài sản và tăng trưởng tín dụng, mà còn đóng vai trò như một “bộ đệm” giúp gia tăng khả năng chống chịu rủi ro tài chính.

CAR sát ngưỡng quy định, rủi ro có thể lộ rõ

"Theo quy chuẩn hiện nay, CAR khoảng 8%. Khi nâng lên trên 10%, các ngân hàng thương mại nhà nước mới đạt mức xấp xỉ như vậy, chỉ cần tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng lên, hệ số này sẽ bị điều chỉnh. Đó là chưa kể, nếu tín dụng phân bổ vào lĩnh vực rủi ro, chỉ cần có sự biến động, thì hệ số CAR sẽ giảm xuống rất lớn" - ông Nguyễn Quốc Hùng lưu ý.

Thống kê của phóng viên cho thấy, năm 2015, tổng vốn điều lệ của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước niêm yết trên sàn đạt 98.071 tỷ đồng, thì đến quý I/2025, con số này tăng lên 207.470 tỷ đồng, gấp 2,1 lần trong giai đoạn 2015 đến nay. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng ấn tượng hơn, từ mức thấp đã vươn lên 608.902 tỷ đồng, tức gấp 3,3 lần cùng giai đoạn.

Dù ngành ngân hàng dành nhiều nỗ lực tăng vốn điều lệ và cải thiện CAR, nhưng CAR của Việt Nam vẫn thấp nhất khi so sánh với nhiều quốc gia trong trong khu vực và trên thế giới. Đáng lưu tâm hơn, CAR nhiều ngân hàng có xu hướng cải thiện chậm qua các năm, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, phản ánh áp lực tăng vốn còn lớn trong bối cảnh lộ trình thực hiện Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) ngày càng đến gần.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup, hệ số CAR của ngành ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp. Theo ước tính, đến cuối năm 2024, CAR toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 12,5%, trong khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh, còn vốn tự có chưa được bổ sung kịp thời. Trong đó, nhóm "big 4" duy trì tỷ lệ CAR ở mức thấp hơn khoảng 10,5%, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trên 12%.

Khi so sánh với khu vực, tại các thị trường như Singapore, Trung Quốc, hay với những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như ANZ, Shinhan Bank..., hệ số CAR có thể đạt 25%, với khoảng cách rất lớn so với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Theo Chủ tịch FiinGroup, việc nâng CAR từ 12,5% lên 25% trong vòng 3 năm tới là điều gần như bất khả thi, dù áp lực tăng vốn đang lớn dần theo lộ trình thực hiện Thông tư 14. Riêng với các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, Nhà nước có thể không muốn pha loãng sở hữu hoặc tăng thêm vốn từ ngân sách, đây là bài toán khó khi bổ sung vốn thế nào, bằng nguồn nào.

Cũng theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hệ số CAR của nhiều ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam duy trì trên 20%, phản ánh năng lực tài chính mạnh và mức độ an toàn vốn rất cao. Trong khi đó, theo lộ trình mới, khi CAR tăng lên 10,5%, nhiều ngân hàng nhà nước chỉ vừa chạm ngưỡng này.

Siết chuẩn an toàn vốn, nới tín dụng có trọng tâm

Thông tư 14 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9/2025, thay thế Thông tư số 41/2016/TT-NHNN (Thông tư 41), nhằm tiến gần hơn tới các chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III.

Mặc dù Thông tư 14 đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với tỷ lệ an toàn vốn, với mức tối thiểu cao hơn theo lộ trình, song cũng có nhiều điều chỉnh đối với cách xác định tài sản có rủi ro tín dụng theo phương pháp tiêu chuẩn, theo hướng hỗ trợ một số phân khúc tín dụng như cho vay cá nhân và cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đơn cử, cho vay cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn được áp dụng hệ số rủi ro 50% thay vì mức mặc định 100% trước đây. Cho vay cá nhân với dư nợ dưới 8 tỷ đồng giảm từ 100% xuống còn 75%. Tín dụng nhà ở xã hội được áp dụng hệ số rủi ro linh hoạt từ 20% đến 50%, tùy theo mức độ rủi ro cụ thể. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ được điều chỉnh giảm nhẹ hệ số rủi ro từ 90% xuống còn 85%.

Đối với cho vay bất động sản, hệ số rủi ro 200% không còn được áp dụng mặc định mà chỉ áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không cung cấp báo cáo tài chính hoặc có vốn chủ sở hữu âm.

Theo Điều 5 Thông tư 14, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối thiểu đối với vốn lõi cấp 1 là 4,5%; vốn cấp 1 là 6%. Điểm mới của Thông tư 14 là quy định tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) là 2,5% sau năm 2030 trở đi và bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế (CCyB) được thiết kế như một công cụ điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, dao động từ 0 - 2,5%, tùy theo điều kiện kinh tế vĩ mô. Tổng hợp các quy định trên, tỷ lệ vốn lõi cấp 1 tối thiểu sẽ đạt mức 7% và CAR tổng thể bao gồm cả bộ đệm đạt tối thiểu 10,5%.

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới đây, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) cho rằng, việc ban hành Thông tư số 14 được đánh giá là bước chuyển mình tích cực của Ngân hàng Nhà nước, để đưa Việt Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực an toàn quốc tế, giúp nâng cao mức độ an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng phản ứng với rủi ro.

"Mặc dù Thông tư 14 tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả hơn về mặt vốn, nó cũng tiềm ẩn rủi ro nếu không được quản lý một cách thận trọng, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đang ở mức cao" - SSI Research lưu ý.

Bằng cách giảm hệ số rủi ro theo phương pháp tiêu chuẩn ở một vài phân khúc cho vay và cho phép lộ trình triển khai theo từng giai đoạn, Thông tư 14 tạo điều kiện mở rộng tín dụng bền vững, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ.

Cũng theo nhóm phân tích từ SSI Research, trong trường hợp không còn áp dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ cần triển khai các công cụ giám sát linh hoạt hơn như: bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế, hệ thống đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP), cùng với việc tăng cường giám sát rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.

Lộ trình triển khai theo 2 giai đoạn

Lộ trình triển khai Thông tư 14 theo 2 giai đoạn nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng từng bước thích ứng và tuân thủ. Theo đó, giai đoạn chuyển tiếp đến ngày 31/12/2029, các ngân hàng được phép lựa chọn giữa 2 phương pháp tính CAR theo Thông tư 14 hoặc Thông tư 41, với điều kiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Giai đoạn triển khai toàn diện từ ngày 1/1/2030, tất cả các ngân hàng phải áp dụng phương pháp tiêu chuẩn theo Thông tư 14.

Theo lộ trình, CAR có thể tăng lên 10,5%, chưa kể nếu CCyB được kích hoạt cao hơn. Điều này buộc các ngân hàng phải hành động ngay giai đoạn 2025 - 2029, nếu không muốn bị động khi bước vào giai đoạn bắt buộc.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, việc tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước hiện nay vẫn cần sự chấp thuận của Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, có thể đây không còn là rào cản quá lớn, bởi Chính phủ có chủ trương cho phép các ngân hàng được giữ lại một phần lợi nhuận hàng năm để bổ sung vào vốn điều lệ.

"Trước đây các tổ chức dụng kể cả có lợi nhuận đi chăng nữa cũng không được để lại vốn, không được tự tăng" - ông Hùng nói. Từ đó, giúp giữ vững vị thế cũng như tạo điều kiện cho các ngân hàng này bơm vốn cho nền kinh tế, phục vụ các doanh nghiệp chủ lực và hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18565
CAD 18111 18386 19003
CHF 31670 32050 32700
CNY 0 3833 3926
EUR 29300 29520 30595
GBP 34321 34712 35654
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14922 15513
SGD 19776 20057 20625
THB 699 762 815
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,085 26,135 26,450
USD20 26,085 26,135 26,450
USD1 26,085 26,135 26,450
AUD 17,921 18,021 19,128
EUR 29,268 29,368 31,026
CAD 18,209 18,309 19,612
SGD 19,999 20,149 20,930
JPY 158.72 160.22 165.75
GBP 34,474 34,624 35,686
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80