Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù các ngân hàng nỗ lực tăng vốn và cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR), nhưng mức tăng vẫn chậm và hệ số CAR toàn hệ thống vẫn thấp so với khu vực. Trong bối cảnh Thông tư 14/2025/TT-NHNN siết chuẩn theo lộ trình, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối quốc doanh, đang đối mặt áp lực tăng vốn rõ rệt.
aa
Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR
Đồ họa: ÁNH TUYẾT

CAR cải thiện chậm

Việc tăng vốn điều lệ vẫn là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng, bởi đây không chỉ là chỉ tiêu then chốt để mở rộng quy mô tài sản và tăng trưởng tín dụng, mà còn đóng vai trò như một “bộ đệm” giúp gia tăng khả năng chống chịu rủi ro tài chính.

CAR sát ngưỡng quy định, rủi ro có thể lộ rõ

"Theo quy chuẩn hiện nay, CAR khoảng 8%. Khi nâng lên trên 10%, các ngân hàng thương mại nhà nước mới đạt mức xấp xỉ như vậy, chỉ cần tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng lên, hệ số này sẽ bị điều chỉnh. Đó là chưa kể, nếu tín dụng phân bổ vào lĩnh vực rủi ro, chỉ cần có sự biến động, thì hệ số CAR sẽ giảm xuống rất lớn" - ông Nguyễn Quốc Hùng lưu ý.

Thống kê của phóng viên cho thấy, năm 2015, tổng vốn điều lệ của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước niêm yết trên sàn đạt 98.071 tỷ đồng, thì đến quý I/2025, con số này tăng lên 207.470 tỷ đồng, gấp 2,1 lần trong giai đoạn 2015 đến nay. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng ấn tượng hơn, từ mức thấp đã vươn lên 608.902 tỷ đồng, tức gấp 3,3 lần cùng giai đoạn.

Dù ngành ngân hàng dành nhiều nỗ lực tăng vốn điều lệ và cải thiện CAR, nhưng CAR của Việt Nam vẫn thấp nhất khi so sánh với nhiều quốc gia trong trong khu vực và trên thế giới. Đáng lưu tâm hơn, CAR nhiều ngân hàng có xu hướng cải thiện chậm qua các năm, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, phản ánh áp lực tăng vốn còn lớn trong bối cảnh lộ trình thực hiện Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) ngày càng đến gần.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup, hệ số CAR của ngành ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp. Theo ước tính, đến cuối năm 2024, CAR toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 12,5%, trong khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh, còn vốn tự có chưa được bổ sung kịp thời. Trong đó, nhóm "big 4" duy trì tỷ lệ CAR ở mức thấp hơn khoảng 10,5%, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trên 12%.

Khi so sánh với khu vực, tại các thị trường như Singapore, Trung Quốc, hay với những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như ANZ, Shinhan Bank..., hệ số CAR có thể đạt 25%, với khoảng cách rất lớn so với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Theo Chủ tịch FiinGroup, việc nâng CAR từ 12,5% lên 25% trong vòng 3 năm tới là điều gần như bất khả thi, dù áp lực tăng vốn đang lớn dần theo lộ trình thực hiện Thông tư 14. Riêng với các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, Nhà nước có thể không muốn pha loãng sở hữu hoặc tăng thêm vốn từ ngân sách, đây là bài toán khó khi bổ sung vốn thế nào, bằng nguồn nào.

Cũng theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hệ số CAR của nhiều ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam duy trì trên 20%, phản ánh năng lực tài chính mạnh và mức độ an toàn vốn rất cao. Trong khi đó, theo lộ trình mới, khi CAR tăng lên 10,5%, nhiều ngân hàng nhà nước chỉ vừa chạm ngưỡng này.

Siết chuẩn an toàn vốn, nới tín dụng có trọng tâm

Thông tư 14 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9/2025, thay thế Thông tư số 41/2016/TT-NHNN (Thông tư 41), nhằm tiến gần hơn tới các chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III.

Mặc dù Thông tư 14 đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với tỷ lệ an toàn vốn, với mức tối thiểu cao hơn theo lộ trình, song cũng có nhiều điều chỉnh đối với cách xác định tài sản có rủi ro tín dụng theo phương pháp tiêu chuẩn, theo hướng hỗ trợ một số phân khúc tín dụng như cho vay cá nhân và cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đơn cử, cho vay cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn được áp dụng hệ số rủi ro 50% thay vì mức mặc định 100% trước đây. Cho vay cá nhân với dư nợ dưới 8 tỷ đồng giảm từ 100% xuống còn 75%. Tín dụng nhà ở xã hội được áp dụng hệ số rủi ro linh hoạt từ 20% đến 50%, tùy theo mức độ rủi ro cụ thể. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ được điều chỉnh giảm nhẹ hệ số rủi ro từ 90% xuống còn 85%.

Đối với cho vay bất động sản, hệ số rủi ro 200% không còn được áp dụng mặc định mà chỉ áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không cung cấp báo cáo tài chính hoặc có vốn chủ sở hữu âm.

Theo Điều 5 Thông tư 14, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối thiểu đối với vốn lõi cấp 1 là 4,5%; vốn cấp 1 là 6%. Điểm mới của Thông tư 14 là quy định tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) là 2,5% sau năm 2030 trở đi và bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế (CCyB) được thiết kế như một công cụ điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, dao động từ 0 - 2,5%, tùy theo điều kiện kinh tế vĩ mô. Tổng hợp các quy định trên, tỷ lệ vốn lõi cấp 1 tối thiểu sẽ đạt mức 7% và CAR tổng thể bao gồm cả bộ đệm đạt tối thiểu 10,5%.

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới đây, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) cho rằng, việc ban hành Thông tư số 14 được đánh giá là bước chuyển mình tích cực của Ngân hàng Nhà nước, để đưa Việt Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực an toàn quốc tế, giúp nâng cao mức độ an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng phản ứng với rủi ro.

"Mặc dù Thông tư 14 tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả hơn về mặt vốn, nó cũng tiềm ẩn rủi ro nếu không được quản lý một cách thận trọng, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đang ở mức cao" - SSI Research lưu ý.

Bằng cách giảm hệ số rủi ro theo phương pháp tiêu chuẩn ở một vài phân khúc cho vay và cho phép lộ trình triển khai theo từng giai đoạn, Thông tư 14 tạo điều kiện mở rộng tín dụng bền vững, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ.

Cũng theo nhóm phân tích từ SSI Research, trong trường hợp không còn áp dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ cần triển khai các công cụ giám sát linh hoạt hơn như: bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế, hệ thống đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP), cùng với việc tăng cường giám sát rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.

Lộ trình triển khai theo 2 giai đoạn

Lộ trình triển khai Thông tư 14 theo 2 giai đoạn nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng từng bước thích ứng và tuân thủ. Theo đó, giai đoạn chuyển tiếp đến ngày 31/12/2029, các ngân hàng được phép lựa chọn giữa 2 phương pháp tính CAR theo Thông tư 14 hoặc Thông tư 41, với điều kiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Giai đoạn triển khai toàn diện từ ngày 1/1/2030, tất cả các ngân hàng phải áp dụng phương pháp tiêu chuẩn theo Thông tư 14.

Theo lộ trình, CAR có thể tăng lên 10,5%, chưa kể nếu CCyB được kích hoạt cao hơn. Điều này buộc các ngân hàng phải hành động ngay giai đoạn 2025 - 2029, nếu không muốn bị động khi bước vào giai đoạn bắt buộc.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, việc tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước hiện nay vẫn cần sự chấp thuận của Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, có thể đây không còn là rào cản quá lớn, bởi Chính phủ có chủ trương cho phép các ngân hàng được giữ lại một phần lợi nhuận hàng năm để bổ sung vào vốn điều lệ.

"Trước đây các tổ chức dụng kể cả có lợi nhuận đi chăng nữa cũng không được để lại vốn, không được tự tăng" - ông Hùng nói. Từ đó, giúp giữ vững vị thế cũng như tạo điều kiện cho các ngân hàng này bơm vốn cho nền kinh tế, phục vụ các doanh nghiệp chủ lực và hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17609 17882 18455
CAD 17968 18243 18858
CHF 31802 32183 32829
CNY 0 3826 3919
EUR 29287 29507 30585
GBP 33889 34279 35213
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14530 15112
SGD 19758 20039 20610
THB 703 766 819
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26152 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80