Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù các ngân hàng nỗ lực tăng vốn và cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR), nhưng mức tăng vẫn chậm và hệ số CAR toàn hệ thống vẫn thấp so với khu vực. Trong bối cảnh Thông tư 14/2025/TT-NHNN siết chuẩn theo lộ trình, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối quốc doanh, đang đối mặt áp lực tăng vốn rõ rệt.
aa
Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR
Đồ họa: ÁNH TUYẾT

CAR cải thiện chậm

Việc tăng vốn điều lệ vẫn là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng, bởi đây không chỉ là chỉ tiêu then chốt để mở rộng quy mô tài sản và tăng trưởng tín dụng, mà còn đóng vai trò như một “bộ đệm” giúp gia tăng khả năng chống chịu rủi ro tài chính.

CAR sát ngưỡng quy định, rủi ro có thể lộ rõ

"Theo quy chuẩn hiện nay, CAR khoảng 8%. Khi nâng lên trên 10%, các ngân hàng thương mại nhà nước mới đạt mức xấp xỉ như vậy, chỉ cần tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng lên, hệ số này sẽ bị điều chỉnh. Đó là chưa kể, nếu tín dụng phân bổ vào lĩnh vực rủi ro, chỉ cần có sự biến động, thì hệ số CAR sẽ giảm xuống rất lớn" - ông Nguyễn Quốc Hùng lưu ý.

Thống kê của phóng viên cho thấy, năm 2015, tổng vốn điều lệ của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước niêm yết trên sàn đạt 98.071 tỷ đồng, thì đến quý I/2025, con số này tăng lên 207.470 tỷ đồng, gấp 2,1 lần trong giai đoạn 2015 đến nay. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng ấn tượng hơn, từ mức thấp đã vươn lên 608.902 tỷ đồng, tức gấp 3,3 lần cùng giai đoạn.

Dù ngành ngân hàng dành nhiều nỗ lực tăng vốn điều lệ và cải thiện CAR, nhưng CAR của Việt Nam vẫn thấp nhất khi so sánh với nhiều quốc gia trong trong khu vực và trên thế giới. Đáng lưu tâm hơn, CAR nhiều ngân hàng có xu hướng cải thiện chậm qua các năm, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, phản ánh áp lực tăng vốn còn lớn trong bối cảnh lộ trình thực hiện Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 14) ngày càng đến gần.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup, hệ số CAR của ngành ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp. Theo ước tính, đến cuối năm 2024, CAR toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 12,5%, trong khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh, còn vốn tự có chưa được bổ sung kịp thời. Trong đó, nhóm "big 4" duy trì tỷ lệ CAR ở mức thấp hơn khoảng 10,5%, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trên 12%.

Khi so sánh với khu vực, tại các thị trường như Singapore, Trung Quốc, hay với những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam như ANZ, Shinhan Bank..., hệ số CAR có thể đạt 25%, với khoảng cách rất lớn so với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Theo Chủ tịch FiinGroup, việc nâng CAR từ 12,5% lên 25% trong vòng 3 năm tới là điều gần như bất khả thi, dù áp lực tăng vốn đang lớn dần theo lộ trình thực hiện Thông tư 14. Riêng với các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, Nhà nước có thể không muốn pha loãng sở hữu hoặc tăng thêm vốn từ ngân sách, đây là bài toán khó khi bổ sung vốn thế nào, bằng nguồn nào.

Cũng theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hệ số CAR của nhiều ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam duy trì trên 20%, phản ánh năng lực tài chính mạnh và mức độ an toàn vốn rất cao. Trong khi đó, theo lộ trình mới, khi CAR tăng lên 10,5%, nhiều ngân hàng nhà nước chỉ vừa chạm ngưỡng này.

Siết chuẩn an toàn vốn, nới tín dụng có trọng tâm

Thông tư 14 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9/2025, thay thế Thông tư số 41/2016/TT-NHNN (Thông tư 41), nhằm tiến gần hơn tới các chuẩn mực an toàn vốn theo Basel III.

Mặc dù Thông tư 14 đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt hơn đối với tỷ lệ an toàn vốn, với mức tối thiểu cao hơn theo lộ trình, song cũng có nhiều điều chỉnh đối với cách xác định tài sản có rủi ro tín dụng theo phương pháp tiêu chuẩn, theo hướng hỗ trợ một số phân khúc tín dụng như cho vay cá nhân và cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đơn cử, cho vay cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn được áp dụng hệ số rủi ro 50% thay vì mức mặc định 100% trước đây. Cho vay cá nhân với dư nợ dưới 8 tỷ đồng giảm từ 100% xuống còn 75%. Tín dụng nhà ở xã hội được áp dụng hệ số rủi ro linh hoạt từ 20% đến 50%, tùy theo mức độ rủi ro cụ thể. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ được điều chỉnh giảm nhẹ hệ số rủi ro từ 90% xuống còn 85%.

Đối với cho vay bất động sản, hệ số rủi ro 200% không còn được áp dụng mặc định mà chỉ áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không cung cấp báo cáo tài chính hoặc có vốn chủ sở hữu âm.

Theo Điều 5 Thông tư 14, các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối thiểu đối với vốn lõi cấp 1 là 4,5%; vốn cấp 1 là 6%. Điểm mới của Thông tư 14 là quy định tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) là 2,5% sau năm 2030 trở đi và bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế (CCyB) được thiết kế như một công cụ điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, dao động từ 0 - 2,5%, tùy theo điều kiện kinh tế vĩ mô. Tổng hợp các quy định trên, tỷ lệ vốn lõi cấp 1 tối thiểu sẽ đạt mức 7% và CAR tổng thể bao gồm cả bộ đệm đạt tối thiểu 10,5%.

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới đây, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) cho rằng, việc ban hành Thông tư số 14 được đánh giá là bước chuyển mình tích cực của Ngân hàng Nhà nước, để đưa Việt Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực an toàn quốc tế, giúp nâng cao mức độ an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng phản ứng với rủi ro.

"Mặc dù Thông tư 14 tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng hiệu quả hơn về mặt vốn, nó cũng tiềm ẩn rủi ro nếu không được quản lý một cách thận trọng, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đang ở mức cao" - SSI Research lưu ý.

Bằng cách giảm hệ số rủi ro theo phương pháp tiêu chuẩn ở một vài phân khúc cho vay và cho phép lộ trình triển khai theo từng giai đoạn, Thông tư 14 tạo điều kiện mở rộng tín dụng bền vững, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ.

Cũng theo nhóm phân tích từ SSI Research, trong trường hợp không còn áp dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ cần triển khai các công cụ giám sát linh hoạt hơn như: bộ đệm vốn theo chu kỳ kinh tế, hệ thống đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP), cùng với việc tăng cường giám sát rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.

Lộ trình triển khai theo 2 giai đoạn

Lộ trình triển khai Thông tư 14 theo 2 giai đoạn nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng từng bước thích ứng và tuân thủ. Theo đó, giai đoạn chuyển tiếp đến ngày 31/12/2029, các ngân hàng được phép lựa chọn giữa 2 phương pháp tính CAR theo Thông tư 14 hoặc Thông tư 41, với điều kiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Giai đoạn triển khai toàn diện từ ngày 1/1/2030, tất cả các ngân hàng phải áp dụng phương pháp tiêu chuẩn theo Thông tư 14.

Theo lộ trình, CAR có thể tăng lên 10,5%, chưa kể nếu CCyB được kích hoạt cao hơn. Điều này buộc các ngân hàng phải hành động ngay giai đoạn 2025 - 2029, nếu không muốn bị động khi bước vào giai đoạn bắt buộc.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, việc tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước hiện nay vẫn cần sự chấp thuận của Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, có thể đây không còn là rào cản quá lớn, bởi Chính phủ có chủ trương cho phép các ngân hàng được giữ lại một phần lợi nhuận hàng năm để bổ sung vào vốn điều lệ.

"Trước đây các tổ chức dụng kể cả có lợi nhuận đi chăng nữa cũng không được để lại vốn, không được tự tăng" - ông Hùng nói. Từ đó, giúp giữ vững vị thế cũng như tạo điều kiện cho các ngân hàng này bơm vốn cho nền kinh tế, phục vụ các doanh nghiệp chủ lực và hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80