ACB báo lãi hơn 16.000 tỷ đồng sau 9 tháng, giữ đà tăng trưởng nhờ thu ngoài lãi

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2025, ngân hàng ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 16.071,7 tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ, nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 36,2% cùng kiểm soát chi phí hiệu quả. Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh số hóa, tối ưu vận hành và giữ tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp 1,09%.
aa
ACB tiên phong hiện thực hóa Nghị quyết 68, đưa doanh nghiệp vừa và nhỏ bứt phá ACB lần đầu lãi vượt 6.000 tỷ đồng trong quý, thu nhập ngoài lãi bứt tốc ACB duy trì kinh doanh vàng miếng cũ, để ngỏ khả năng tái khởi động sản xuất

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB - mã Ck: ACB) vừa công bố báo cáo tài chính quý III/2025.

Theo báo cáo tài chính do ACB công bố, trong quý III/2025, ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 5.381,8 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ nguồn thu ngoài lãi bứt phá và chi phí giảm.

Thu ngoài lãi tăng bứt phá hơn 36%

Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 16.071,7 tỷ đồng, tăng 4,8%. Động lực giúp ACB tăng trưởng lợi nhuận đến từ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 36,2% trong 9 tháng năm 2025, lên 5.779,4 tỷ đồng và hiệu quả chi phí được kiểm soát. Tỷ lệ CIR (tỷ lệ chi phí trên thu nhập) giữ ở mức 32%, phản ánh nỗ lực số hóa, tối ưu vận hành và gia tăng năng suất lao động.

Trong đó, thu nhập dịch vụ tăng 6,5% lên 795,4 tỷ đồng. Hoạt động kinh doanh ngoại hối vọt lên 449 tỷ đồng, tăng 170% cùng kỳ. Lãi thuần từ hoạt động chứng khoán kinh doanh đạt 367 tỷ đồng, tăng 415%.

Các nhân tố kể trên kéo tổng thu nhập hoạt động tăng 3,1% lên 8.384,7 tỷ đồng. Song song, chi phí hoạt động giảm 7,5% giúp lợi nhuận thuần trước dự phòng tăng 9%. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng cũng giảm 19%, tiếp tục củng cố lợi nhuận quý III.

Dù vậy, trong quý vừa qua, thu nhập lãi thuần ACB giảm nhẹ, hoạt động khác suy giảm do chi phí khác tăng, cùng việc không còn lãi bán chứng khoán đầu tư.

ACB báo lãi hơn 16.000 tỷ đồng sau 9 tháng, giữ đà tăng trưởng nhờ thu ngoài lãi
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Không chỉ ngân hàng mẹ, các công ty con trong hệ sinh thái cũng đóng góp đáng kể nên kết quả nêu trên. Trong đó, Chứng khoán ACB (ACBS) đạt lợi nhuận trước thuế 895 tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ; hoạt động cho vay margin ghi nhận tăng trưởng 87% so với đầu năm, đạt hơn 16 nghìn tỷ đồng.

Cùng với đó, ACB Leasing, Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA), Công ty Quản lý Quỹ ACB (ACBC) đều tăng trưởng tích cực, tổng cộng chiếm khoảng 6% lợi nhuận hợp nhất. Mô hình hợp lực này giúp ACB dần tiến gần mục tiêu trở thành “tập đoàn tài chính hiệu quả”, mô hình hoạt động đa năng, có khả năng tạo giá trị toàn diện cho khách hàng, cổ đông và thị trường.

Tính đến cuối tháng 9/2025, dư nợ tín dụng của ACB đạt 669 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm, cao hơn bình quân toàn ngành. Trong đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, tăng 20%, tập trung ở các lĩnh vực thương mại, chế biến chế tạo, đây là những ngành chủ lực của nền kinh tế.

Song song đó, dư nợ mảng bán lẻ, vốn là nòng cốt trong chiến lược kinh doanh của ACB, cũng ghi nhận sự phục hồi khởi sắc, nhờ các chương trình tín dụng linh hoạt và các giải pháp tài chính được thiết kế riêng cho từng phân khúc khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh và tiểu thương.

Các sản phẩm dịch vụ mang tính tiên phong như “Ngôi nhà đầu tiên”, gói giải pháp tài chính chuyên biệt cho hộ kinh doanh, giải pháp thanh toán Flex, thẻ hội viên tích hợp thanh toán mang tên Lotusmiles Pay..., giúp ACB mở rộng tệp khách hàng.

Là ngân hàng tiên phong đồng hành cùng khách hàng thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ACB nhanh nhạy trong chiến lược phát triển và khả năng đổi mới sản phẩm, dịch vụ. Nhờ chính sách cho vay có chọn lọc và kiểm soát rủi ro chặt chẽ, ACB đảm bảo dòng vốn hướng vào các lĩnh vực sinh lời thực, rủi ro thấp, tạo nền tảng giúp ngân hàng tăng trưởng bền vững mà không đánh đổi chất lượng tài sản.

Tỷ lệ nợ xấu của ACB giảm còn 1,09%, thuộc nhóm thấp nhất ngành. Trong chiến lược phát triển bền vững, các hoạt động quản trị rủi ro được ACB coi là yếu tố nền tảng, đảm bảo tăng trưởng an toàn và giá trị lâu dài cho khách hàng và cổ đông.

Vừa qua, ACB cũng công bố hoàn thành dự án xây dựng nền tảng tính vốn cho rủi ro tín dụng trên phương pháp xếp hạng nội bộ (Internal Ratings-Based - IRB), bao gồm cả hai cấp độ cơ bản (FIRB) và nâng cao (AIRB), thể hiện vai trò tiên phong của ngân hàng trong việc triển khai các chuẩn mực tiên tiến Basel.

Cùng với đó, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng ở mức 21,8%, thấp hơn quy định của Ngân hàng Nhà nước, giúp ngân hàng có dư địa tối ưu lợi suất khi mở rộng cho vay trung dài hạn.

Theo chia sẻ của ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB, ngân hàng chỉ thực sự phát triển bền vững khi có thể vừa quản trị tốt rủi ro, vừa tạo ra giá trị thực cho xã hội. Với ACB, tăng trưởng không chỉ là con số, mà là sự cân bằng giữa hiệu quả, an toàn và trách nhiệm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲270K 14,670 ▲270K
Trang sức 99.99 14,080 ▲270K 14,680 ▲270K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30