Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong quý cuối năm 2025, lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi của nhiều doanh nghiệp phi nhân thọ và tái bảo hiểm niêm yết giảm mạnh do bão lũ, trong khi lợi nhuận đầu tư trở thành phao cứu sinh cho nhiều doanh nghiệp. Danh mục đầu tư của nhóm này vượt 60.000 tỷ đồng, tăng 8,4%, chiến lược đầu tư tiếp tục ưu tiên thanh khoản và quản trị rủi ro, song dự báo sẽ có sự chuyển dịch.
aa

Lợi nhuận đầu tư “gánh đỡ” khi nghiệp vụ bảo hiểm suy yếu

Khảo sát tại các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cho thấy, trong quý cuối năm vừa qua, phí bảo hiểm gốc toàn khối vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, đạt hơn 16.000 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Ngoại trừ hai doanh nghiệp đang trong quá trình tái cơ cấu là BSH và PTI ghi nhận sụt giảm doanh thu phí, song các doanh nghiệp vẫn giữ được nền tảng kinh doanh ổn định, cho thấy hiệu quả bước đầu của việc kiểm soát chi phí và chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn.

Dù doanh thu phí vẫn tăng trưởng khả quan, quý cuối năm qua cũng ghi nhận sự suy giảm rõ rệt của lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi tại nhiều doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí bồi thường và trích lập dự phòng tăng mạnh khi các đợt bão lũ xảy ra dồn dập. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì thị phần và tạo nền tảng để gia tăng sức cạnh tranh cho mùa kinh doanh năm 2026, song cũng khiến hiệu quả hoạt động bảo hiểm chịu nhiều áp lực.

Đầu tư tài chính
Lợi nhuận tài chính quý IV/2025 tăng đã hỗ trợ kết quả kinh doanh cả năm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Ảnh: Dũng Minh

Theo đó, có tới 10/12 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm sụt giảm trong quý IV/2025 (không xét Tập đoàn Bảo Việt do chưa tách riêng được lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo từng phân khúc).

Khi hoạt động bảo hiểm suy giảm, nguồn thu từ đầu tư tài chính trở thành “bệ đỡ” quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp. Trong quý IV/2025, ít nhất 8 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm, nhưng lợi nhuận tài chính tăng, qua đó, hỗ trợ kết quả kinh doanh chung.

Cụ thể, PJICO, PTI và ABIC đều chứng kiến lợi nhuận bảo hiểm giảm từ 3 - 18%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng từ 21 - 27%, riêng PTI đảo chiều từ lỗ sang lãi. Vinare cũng ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm 51,8%, song lợi nhuận tài chính tăng 32%.

Chiến lược đầu tư luôn ưu tiên thanh khoản, quản trị rủi ro

"Nhiệm vụ quan trọng nhất với công ty bảo hiểm phải đảm bảo được tính thanh khoản, để làm sao chi trả nghĩa vụ đối với khách hàng. Chẳng hạn như trong công tác đầu tư của PVI, quan trọng nhất là phải đảm bảo tính thanh khoản, cũng như quản trị những rủi ro để làm sao an toàn nhất. Khi lập chiến lược phân bổ tài sản, sẽ phải đáp ứng điều này đầu tiên".

Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI

Xu hướng này rõ nét hơn tại BIC khi lợi nhuận bảo hiểm giảm xuống còn 191,4 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận tài chính tăng mạnh 142% lên 155 tỷ đồng. Tương tự, BSH ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm sâu gần 80%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng gần 46%, giúp giảm bớt áp lực lên kết quả kinh doanh.

Trái với xu hướng được “bù đắp” bởi nguồn thu tài chính, Bảo hiểm Bảo Long ghi nhận sự suy giảm mạnh ở cả hai trụ cột lợi nhuận trong quý IV/2025. Diễn biến này khiến hai doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, lần lượt 25,4 tỷ đồng và 31,3 tỷ đồng.

Trong bức tranh đầy gam màu "xám", Bảo hiểm DBV là doanh nghiệp hiếm hoi ghi nhận tăng trưởng đồng thời ở cả hai trụ cột trong quý IV/2025. Lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm đạt 118,7 tỷ đồng, tăng 21,2%; trong khi lợi nhuận tài chính đạt 46,2 tỷ đồng, tăng 19,9%.

Dự báo lãi suất tăng nhẹ, trái phiếu chất lượng giúp cơ cấu danh mục

Theo chuyên gia bảo hiểm Trần Nguyên Đán, việc tăng thu nhập từ hoạt động tài chính phần nào đến từ việc gia tăng quy mô tài sản. Khi doanh thu bảo hiểm tăng, các công ty bảo hiểm phải tăng vốn điều lệ tương ứng, dẫn tới lượng vốn và nguồn tiền nhàn rỗi lớn hơn và phần này thường được gửi vào ngân hàng hoặc đầu tư tài chính.

Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp bán được nhiều bảo hiểm hơn, các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ cũng tăng lên. Trong thời gian chưa chi trả bồi thường, phần dự phòng tạm thời này cũng được đem đi đầu tư, phổ biến nhất là gửi ngân hàng, hoặc đầu tư vào các tài sản tài chính an toàn. Vì vậy, khi quy mô kinh doanh mở rộng, doanh thu tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm cũng tăng lên tương ứng.

"Nguồn thu từ hoạt động tài chính phụ thuộc khá lớn vào mặt bằng lãi suất thị trường" - ông Đán nhấn mạnh. Khi lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm, lợi nhuận đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng bị ảnh hưởng ngay lập tức.

Dù là một "chân kiềng" quan trọng, song theo bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVI AM), quan trọng nhất đối với một công ty bảo hiểm không phải vấn đề liên quan đến lợi nhuận đầu tư cao, mà phải bảo đảm tính thanh khoản.

Chia sẻ thực tế tại PVI AM, bà Giao cho hay, khi xây dựng chiến lược phân bổ tài sản, PVI AM trước hết phải đảm bảo yêu cầu này, sau đó mới quyết định tỷ trọng phân bổ vào tiền gửi, trái phiếu hay cổ phiếu, sao cho vừa tối ưu lợi suất, vừa duy trì khả năng thanh khoản của Công ty.

Theo dự báo của PVI AM, lãi suất tiền gửi năm 2026 dự kiến tăng khoảng 50 điểm cơ bản so với năm 2025, tức tăng nhẹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hướng tới GDP tăng 10%, mức tăng này nhiều khả năng chỉ mang tính mùa vụ, diễn ra vào giai đoạn cuối năm và duy trì tăng nhẹ sang đầu năm, chứ không tăng quá cao.

Trong năm 2026, ngoài việc điều chỉnh kỳ vọng lãi suất, bà Giao cho biết, PVI AM cũng xem xét điều chỉnh cơ cấu phân bổ tài sản. Theo đó, danh mục có thể được tăng tỷ trọng trái phiếu hơn so với giai đoạn 2024 - 2025, tùy thuộc vào diễn biến thị trường, khi thị trường xuất hiện các trái phiếu có chất lượng tốt hơn, phù hợp với khẩu vị rủi ro của công ty, qua đó, cải thiện lợi suất đầu tư của danh mục.

Nguồn thu đầu tư vượt trội, song danh mục ngắn hạn vẫn áp đảo

Khảo sát từ nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cũng cho thấy, lợi nhuận đầu tư quý cuối năm 2025 không chỉ tăng trưởng, mà còn vượt lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm.

Theo đó, nhóm 7 doanh nghiệp gồm: Bảo Long, Hanoi Re, MIC, Vinare, BSH... đều ghi nhận lợi nhuận tài chính cao hơn lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm cốt lõi trong quý IV/2025. Điều này cho thấy trong bối cảnh chi phí bồi thường tăng mạnh do bão lũ cuối năm, nguồn thu từ danh mục đầu tư tài chính đã trở thành lực đỡ quan trọng, giúp nhiều doanh nghiệp duy trì lợi nhuận và giảm bớt tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác bảo hiểm.

Cùng với đó, cơ cấu danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục mở rộng trong năm 2025, với xu hướng gia tăng tỷ trọng các khoản đầu tư ngắn hạn nhằm nâng cao tính thanh khoản và khả năng linh hoạt trước biến động thị trường.

Đến cuối năm 2025, tổng giá trị đầu tư ngắn và dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (ngoại trừ Bảo Việt) đạt khoảng 60.226,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Trong đó, đầu tư ngắn hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng từ 80,5% lên 85,6% danh mục, với giá trị 51.570,7 tỷ đồng, tăng 15,2%.

Danh mục ngắn hạn chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi nhờ ưu thế an toàn và thanh khoản cao; trái phiếu ngắn hạn cũng nhích tăng. Đáng chú ý, chứng khoán kinh doanh ngắn hạn tăng mạnh nhất, lên trên 3.800 tỷ đồng, tăng 280%, cho thấy một số doanh nghiệp đang gia tăng phân bổ vào tài sản linh hoạt hơn, nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá trên thị trường

Trên đà tăng trưởng này, năm 2026, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trở lại nền kinh tế, với tổng giá trị ước vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ; riêng khối phi nhân thọ đạt khoảng gần 105 nghìn tỷ đồng, tăng 12,65%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 02/05/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/05/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80