Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong quý cuối năm 2025, lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi của nhiều doanh nghiệp phi nhân thọ và tái bảo hiểm niêm yết giảm mạnh do bão lũ, trong khi lợi nhuận đầu tư trở thành phao cứu sinh cho nhiều doanh nghiệp. Danh mục đầu tư của nhóm này vượt 60.000 tỷ đồng, tăng 8,4%, chiến lược đầu tư tiếp tục ưu tiên thanh khoản và quản trị rủi ro, song dự báo sẽ có sự chuyển dịch.
aa

Lợi nhuận đầu tư “gánh đỡ” khi nghiệp vụ bảo hiểm suy yếu

Khảo sát tại các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cho thấy, trong quý cuối năm vừa qua, phí bảo hiểm gốc toàn khối vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, đạt hơn 16.000 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Ngoại trừ hai doanh nghiệp đang trong quá trình tái cơ cấu là BSH và PTI ghi nhận sụt giảm doanh thu phí, song các doanh nghiệp vẫn giữ được nền tảng kinh doanh ổn định, cho thấy hiệu quả bước đầu của việc kiểm soát chi phí và chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn.

Dù doanh thu phí vẫn tăng trưởng khả quan, quý cuối năm qua cũng ghi nhận sự suy giảm rõ rệt của lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi tại nhiều doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí bồi thường và trích lập dự phòng tăng mạnh khi các đợt bão lũ xảy ra dồn dập. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì thị phần và tạo nền tảng để gia tăng sức cạnh tranh cho mùa kinh doanh năm 2026, song cũng khiến hiệu quả hoạt động bảo hiểm chịu nhiều áp lực.

Đầu tư tài chính
Lợi nhuận tài chính quý IV/2025 tăng đã hỗ trợ kết quả kinh doanh cả năm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Ảnh: Dũng Minh

Theo đó, có tới 10/12 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm sụt giảm trong quý IV/2025 (không xét Tập đoàn Bảo Việt do chưa tách riêng được lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo từng phân khúc).

Khi hoạt động bảo hiểm suy giảm, nguồn thu từ đầu tư tài chính trở thành “bệ đỡ” quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp. Trong quý IV/2025, ít nhất 8 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm, nhưng lợi nhuận tài chính tăng, qua đó, hỗ trợ kết quả kinh doanh chung.

Cụ thể, PJICO, PTI và ABIC đều chứng kiến lợi nhuận bảo hiểm giảm từ 3 - 18%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng từ 21 - 27%, riêng PTI đảo chiều từ lỗ sang lãi. Vinare cũng ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm 51,8%, song lợi nhuận tài chính tăng 32%.

Chiến lược đầu tư luôn ưu tiên thanh khoản, quản trị rủi ro

"Nhiệm vụ quan trọng nhất với công ty bảo hiểm phải đảm bảo được tính thanh khoản, để làm sao chi trả nghĩa vụ đối với khách hàng. Chẳng hạn như trong công tác đầu tư của PVI, quan trọng nhất là phải đảm bảo tính thanh khoản, cũng như quản trị những rủi ro để làm sao an toàn nhất. Khi lập chiến lược phân bổ tài sản, sẽ phải đáp ứng điều này đầu tiên".

Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI

Xu hướng này rõ nét hơn tại BIC khi lợi nhuận bảo hiểm giảm xuống còn 191,4 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận tài chính tăng mạnh 142% lên 155 tỷ đồng. Tương tự, BSH ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm sâu gần 80%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng gần 46%, giúp giảm bớt áp lực lên kết quả kinh doanh.

Trái với xu hướng được “bù đắp” bởi nguồn thu tài chính, Bảo hiểm Bảo Long ghi nhận sự suy giảm mạnh ở cả hai trụ cột lợi nhuận trong quý IV/2025. Diễn biến này khiến hai doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, lần lượt 25,4 tỷ đồng và 31,3 tỷ đồng.

Trong bức tranh đầy gam màu "xám", Bảo hiểm DBV là doanh nghiệp hiếm hoi ghi nhận tăng trưởng đồng thời ở cả hai trụ cột trong quý IV/2025. Lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm đạt 118,7 tỷ đồng, tăng 21,2%; trong khi lợi nhuận tài chính đạt 46,2 tỷ đồng, tăng 19,9%.

Dự báo lãi suất tăng nhẹ, trái phiếu chất lượng giúp cơ cấu danh mục

Theo chuyên gia bảo hiểm Trần Nguyên Đán, việc tăng thu nhập từ hoạt động tài chính phần nào đến từ việc gia tăng quy mô tài sản. Khi doanh thu bảo hiểm tăng, các công ty bảo hiểm phải tăng vốn điều lệ tương ứng, dẫn tới lượng vốn và nguồn tiền nhàn rỗi lớn hơn và phần này thường được gửi vào ngân hàng hoặc đầu tư tài chính.

Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp bán được nhiều bảo hiểm hơn, các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ cũng tăng lên. Trong thời gian chưa chi trả bồi thường, phần dự phòng tạm thời này cũng được đem đi đầu tư, phổ biến nhất là gửi ngân hàng, hoặc đầu tư vào các tài sản tài chính an toàn. Vì vậy, khi quy mô kinh doanh mở rộng, doanh thu tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm cũng tăng lên tương ứng.

"Nguồn thu từ hoạt động tài chính phụ thuộc khá lớn vào mặt bằng lãi suất thị trường" - ông Đán nhấn mạnh. Khi lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm, lợi nhuận đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng bị ảnh hưởng ngay lập tức.

Dù là một "chân kiềng" quan trọng, song theo bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVI AM), quan trọng nhất đối với một công ty bảo hiểm không phải vấn đề liên quan đến lợi nhuận đầu tư cao, mà phải bảo đảm tính thanh khoản.

Chia sẻ thực tế tại PVI AM, bà Giao cho hay, khi xây dựng chiến lược phân bổ tài sản, PVI AM trước hết phải đảm bảo yêu cầu này, sau đó mới quyết định tỷ trọng phân bổ vào tiền gửi, trái phiếu hay cổ phiếu, sao cho vừa tối ưu lợi suất, vừa duy trì khả năng thanh khoản của Công ty.

Theo dự báo của PVI AM, lãi suất tiền gửi năm 2026 dự kiến tăng khoảng 50 điểm cơ bản so với năm 2025, tức tăng nhẹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hướng tới GDP tăng 10%, mức tăng này nhiều khả năng chỉ mang tính mùa vụ, diễn ra vào giai đoạn cuối năm và duy trì tăng nhẹ sang đầu năm, chứ không tăng quá cao.

Trong năm 2026, ngoài việc điều chỉnh kỳ vọng lãi suất, bà Giao cho biết, PVI AM cũng xem xét điều chỉnh cơ cấu phân bổ tài sản. Theo đó, danh mục có thể được tăng tỷ trọng trái phiếu hơn so với giai đoạn 2024 - 2025, tùy thuộc vào diễn biến thị trường, khi thị trường xuất hiện các trái phiếu có chất lượng tốt hơn, phù hợp với khẩu vị rủi ro của công ty, qua đó, cải thiện lợi suất đầu tư của danh mục.

Nguồn thu đầu tư vượt trội, song danh mục ngắn hạn vẫn áp đảo

Khảo sát từ nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cũng cho thấy, lợi nhuận đầu tư quý cuối năm 2025 không chỉ tăng trưởng, mà còn vượt lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm.

Theo đó, nhóm 7 doanh nghiệp gồm: Bảo Long, Hanoi Re, MIC, Vinare, BSH... đều ghi nhận lợi nhuận tài chính cao hơn lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm cốt lõi trong quý IV/2025. Điều này cho thấy trong bối cảnh chi phí bồi thường tăng mạnh do bão lũ cuối năm, nguồn thu từ danh mục đầu tư tài chính đã trở thành lực đỡ quan trọng, giúp nhiều doanh nghiệp duy trì lợi nhuận và giảm bớt tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác bảo hiểm.

Cùng với đó, cơ cấu danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục mở rộng trong năm 2025, với xu hướng gia tăng tỷ trọng các khoản đầu tư ngắn hạn nhằm nâng cao tính thanh khoản và khả năng linh hoạt trước biến động thị trường.

Đến cuối năm 2025, tổng giá trị đầu tư ngắn và dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (ngoại trừ Bảo Việt) đạt khoảng 60.226,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Trong đó, đầu tư ngắn hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng từ 80,5% lên 85,6% danh mục, với giá trị 51.570,7 tỷ đồng, tăng 15,2%.

Danh mục ngắn hạn chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi nhờ ưu thế an toàn và thanh khoản cao; trái phiếu ngắn hạn cũng nhích tăng. Đáng chú ý, chứng khoán kinh doanh ngắn hạn tăng mạnh nhất, lên trên 3.800 tỷ đồng, tăng 280%, cho thấy một số doanh nghiệp đang gia tăng phân bổ vào tài sản linh hoạt hơn, nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá trên thị trường

Trên đà tăng trưởng này, năm 2026, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trở lại nền kinh tế, với tổng giá trị ước vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ; riêng khối phi nhân thọ đạt khoảng gần 105 nghìn tỷ đồng, tăng 12,65%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép về niềm tin và khai thác mới, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ra mắt sản phẩm mới theo hướng đơn giản hơn, thiết thực hơn và sát nhu cầu bảo vệ tài chính của khách hàng, qua đó kỳ vọng mở rộng tệp khách hàng và hỗ trợ thị trường phục hồi bền vững trong thời gian tới.
Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 3/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.203 đồng. Cùng xu hướng, trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,05% còn 100,8 điểm, mất mốc 101 khi dữ liệu việc làm tại Mỹ kém tích cực, qua đó, làm giảm áp lực để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 2026: Lan tỏa an sinh, mở rộng diện bao phủ

Theo tổng hợp từ bảo hiểm xã hội các địa phương, chỉ trong ngày cao điểm kỷ niệm Ngày Bảo hiểm y tế (1/7), toàn hệ thống đã huy động nhiều nguồn lực xã hội để trao tặng hàng nghìn sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người dân có hoàn cảnh khó khăn.
Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

Bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh nào chi trả 50% bảo hiểm y tế khám trái tuyến?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người bệnh khám, chữa bệnh ngoại trú tại 518 cơ sở y tế cấp cơ bản và chuyên sâu, trong đó có nhiều bệnh viện trước đây là tuyến trung ương và tuyến tỉnh sẽ được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 50% mức hưởng, góp phần giảm gánh nặng chi phí và tạo thuận lợi trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng chặn đứng hành vi can thiệp mobile banking, hệ thống SIMO ngăn hơn 5.200 tỷ đồng nghi lừa đảo

Ngân hàng chặn đứng hành vi can thiệp mobile banking, hệ thống SIMO ngăn hơn 5.200 tỷ đồng nghi lừa đảo

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết, hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận (SIMO) đã phát cảnh báo tới khoảng 4,6 triệu lượt khách hàng, giúp tạm dừng hoặc hủy giao dịch nghi ngờ lừa đảo với tổng giá trị hơn 5.200 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng tiếp tục siết chặt biện pháp bảo mật thanh toán trực tuyến, phòng chống gian lận và ngăn chặn can thiệp trái phép vào ứng dụng ngân hàng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Kim TT/AVPL 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Nguyên Liệu 99.99 13,600 ▲300K 13,800 ▲300K
Nguyên Liệu 99.9 13,550 ▲300K 13,750 ▲300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 ▲300K 14,600 ▲300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 ▲300K 14,550 ▲300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 ▲300K 14,530 ▲300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 ▲3000K 151,400 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 14,840 ▲300K 15,140 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲250K 15,100 ▲300K
NL 99.90 13,050 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲100K
Trang sức 99.9 14,290 ▲300K 14,990 ▲300K
Trang sức 99.99 14,300 ▲300K 15,000 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 ▲30K 15,142 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 ▲30K 15,143 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 ▲30K 1,513 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 ▲30K 1,514 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 ▲30K 1,498 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 ▲2970K 148,317 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 ▲2250K 112,511 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 ▲2040K 102,024 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 ▲1830K 91,537 ▲1830K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 ▲1749K 87,492 ▲1749K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 ▲1251K 62,623 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 ▲30K 1,514 ▲30K
Cập nhật: 03/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17708 17982 18562
CAD 18006 18281 18898
CHF 32108 32490 33133
CNY 0 3836 3929
EUR 29478 29699 30774
GBP 34321 34712 35646
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14716 15304
SGD 19833 20115 20681
THB 709 772 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26105 26105 26463
AUD 17899 17999 18925
CAD 18188 18288 19303
CHF 32350 32380 33971
CNY 3817.1 3842.1 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29652 29682 31407
GBP 34618 34668 36426
HKD 0 3355 0
JPY 159.82 160.32 170.86
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14829 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19989 20119 20851
THB 0 737.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15300000
SBJ 13000000 13000000 15300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,124 26,174 26,463
USD20 26,124 26,174 26,463
USD1 26,124 26,174 26,463
AUD 17,938 18,038 19,142
EUR 29,775 29,775 31,184
CAD 18,153 18,253 19,557
SGD 20,056 20,206 20,762
JPY 160.09 161.59 166.14
GBP 34,516 34,866 35,741
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80