Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong quý cuối năm 2025, lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi của nhiều doanh nghiệp phi nhân thọ và tái bảo hiểm niêm yết giảm mạnh do bão lũ, trong khi lợi nhuận đầu tư trở thành phao cứu sinh cho nhiều doanh nghiệp. Danh mục đầu tư của nhóm này vượt 60.000 tỷ đồng, tăng 8,4%, chiến lược đầu tư tiếp tục ưu tiên thanh khoản và quản trị rủi ro, song dự báo sẽ có sự chuyển dịch.
aa

Lợi nhuận đầu tư “gánh đỡ” khi nghiệp vụ bảo hiểm suy yếu

Khảo sát tại các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cho thấy, trong quý cuối năm vừa qua, phí bảo hiểm gốc toàn khối vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, đạt hơn 16.000 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Ngoại trừ hai doanh nghiệp đang trong quá trình tái cơ cấu là BSH và PTI ghi nhận sụt giảm doanh thu phí, song các doanh nghiệp vẫn giữ được nền tảng kinh doanh ổn định, cho thấy hiệu quả bước đầu của việc kiểm soát chi phí và chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn.

Dù doanh thu phí vẫn tăng trưởng khả quan, quý cuối năm qua cũng ghi nhận sự suy giảm rõ rệt của lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi tại nhiều doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí bồi thường và trích lập dự phòng tăng mạnh khi các đợt bão lũ xảy ra dồn dập. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì thị phần và tạo nền tảng để gia tăng sức cạnh tranh cho mùa kinh doanh năm 2026, song cũng khiến hiệu quả hoạt động bảo hiểm chịu nhiều áp lực.

Đầu tư tài chính
Lợi nhuận tài chính quý IV/2025 tăng đã hỗ trợ kết quả kinh doanh cả năm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Ảnh: Dũng Minh

Theo đó, có tới 10/12 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm sụt giảm trong quý IV/2025 (không xét Tập đoàn Bảo Việt do chưa tách riêng được lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo từng phân khúc).

Khi hoạt động bảo hiểm suy giảm, nguồn thu từ đầu tư tài chính trở thành “bệ đỡ” quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp. Trong quý IV/2025, ít nhất 8 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm, nhưng lợi nhuận tài chính tăng, qua đó, hỗ trợ kết quả kinh doanh chung.

Cụ thể, PJICO, PTI và ABIC đều chứng kiến lợi nhuận bảo hiểm giảm từ 3 - 18%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng từ 21 - 27%, riêng PTI đảo chiều từ lỗ sang lãi. Vinare cũng ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm 51,8%, song lợi nhuận tài chính tăng 32%.

Chiến lược đầu tư luôn ưu tiên thanh khoản, quản trị rủi ro

"Nhiệm vụ quan trọng nhất với công ty bảo hiểm phải đảm bảo được tính thanh khoản, để làm sao chi trả nghĩa vụ đối với khách hàng. Chẳng hạn như trong công tác đầu tư của PVI, quan trọng nhất là phải đảm bảo tính thanh khoản, cũng như quản trị những rủi ro để làm sao an toàn nhất. Khi lập chiến lược phân bổ tài sản, sẽ phải đáp ứng điều này đầu tiên".

Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI

Xu hướng này rõ nét hơn tại BIC khi lợi nhuận bảo hiểm giảm xuống còn 191,4 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận tài chính tăng mạnh 142% lên 155 tỷ đồng. Tương tự, BSH ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm sâu gần 80%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng gần 46%, giúp giảm bớt áp lực lên kết quả kinh doanh.

Trái với xu hướng được “bù đắp” bởi nguồn thu tài chính, Bảo hiểm Bảo Long ghi nhận sự suy giảm mạnh ở cả hai trụ cột lợi nhuận trong quý IV/2025. Diễn biến này khiến hai doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, lần lượt 25,4 tỷ đồng và 31,3 tỷ đồng.

Trong bức tranh đầy gam màu "xám", Bảo hiểm DBV là doanh nghiệp hiếm hoi ghi nhận tăng trưởng đồng thời ở cả hai trụ cột trong quý IV/2025. Lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm đạt 118,7 tỷ đồng, tăng 21,2%; trong khi lợi nhuận tài chính đạt 46,2 tỷ đồng, tăng 19,9%.

Dự báo lãi suất tăng nhẹ, trái phiếu chất lượng giúp cơ cấu danh mục

Theo chuyên gia bảo hiểm Trần Nguyên Đán, việc tăng thu nhập từ hoạt động tài chính phần nào đến từ việc gia tăng quy mô tài sản. Khi doanh thu bảo hiểm tăng, các công ty bảo hiểm phải tăng vốn điều lệ tương ứng, dẫn tới lượng vốn và nguồn tiền nhàn rỗi lớn hơn và phần này thường được gửi vào ngân hàng hoặc đầu tư tài chính.

Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp bán được nhiều bảo hiểm hơn, các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ cũng tăng lên. Trong thời gian chưa chi trả bồi thường, phần dự phòng tạm thời này cũng được đem đi đầu tư, phổ biến nhất là gửi ngân hàng, hoặc đầu tư vào các tài sản tài chính an toàn. Vì vậy, khi quy mô kinh doanh mở rộng, doanh thu tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm cũng tăng lên tương ứng.

"Nguồn thu từ hoạt động tài chính phụ thuộc khá lớn vào mặt bằng lãi suất thị trường" - ông Đán nhấn mạnh. Khi lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm, lợi nhuận đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng bị ảnh hưởng ngay lập tức.

Dù là một "chân kiềng" quan trọng, song theo bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVI AM), quan trọng nhất đối với một công ty bảo hiểm không phải vấn đề liên quan đến lợi nhuận đầu tư cao, mà phải bảo đảm tính thanh khoản.

Chia sẻ thực tế tại PVI AM, bà Giao cho hay, khi xây dựng chiến lược phân bổ tài sản, PVI AM trước hết phải đảm bảo yêu cầu này, sau đó mới quyết định tỷ trọng phân bổ vào tiền gửi, trái phiếu hay cổ phiếu, sao cho vừa tối ưu lợi suất, vừa duy trì khả năng thanh khoản của Công ty.

Theo dự báo của PVI AM, lãi suất tiền gửi năm 2026 dự kiến tăng khoảng 50 điểm cơ bản so với năm 2025, tức tăng nhẹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hướng tới GDP tăng 10%, mức tăng này nhiều khả năng chỉ mang tính mùa vụ, diễn ra vào giai đoạn cuối năm và duy trì tăng nhẹ sang đầu năm, chứ không tăng quá cao.

Trong năm 2026, ngoài việc điều chỉnh kỳ vọng lãi suất, bà Giao cho biết, PVI AM cũng xem xét điều chỉnh cơ cấu phân bổ tài sản. Theo đó, danh mục có thể được tăng tỷ trọng trái phiếu hơn so với giai đoạn 2024 - 2025, tùy thuộc vào diễn biến thị trường, khi thị trường xuất hiện các trái phiếu có chất lượng tốt hơn, phù hợp với khẩu vị rủi ro của công ty, qua đó, cải thiện lợi suất đầu tư của danh mục.

Nguồn thu đầu tư vượt trội, song danh mục ngắn hạn vẫn áp đảo

Khảo sát từ nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cũng cho thấy, lợi nhuận đầu tư quý cuối năm 2025 không chỉ tăng trưởng, mà còn vượt lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm.

Theo đó, nhóm 7 doanh nghiệp gồm: Bảo Long, Hanoi Re, MIC, Vinare, BSH... đều ghi nhận lợi nhuận tài chính cao hơn lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm cốt lõi trong quý IV/2025. Điều này cho thấy trong bối cảnh chi phí bồi thường tăng mạnh do bão lũ cuối năm, nguồn thu từ danh mục đầu tư tài chính đã trở thành lực đỡ quan trọng, giúp nhiều doanh nghiệp duy trì lợi nhuận và giảm bớt tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác bảo hiểm.

Cùng với đó, cơ cấu danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục mở rộng trong năm 2025, với xu hướng gia tăng tỷ trọng các khoản đầu tư ngắn hạn nhằm nâng cao tính thanh khoản và khả năng linh hoạt trước biến động thị trường.

Đến cuối năm 2025, tổng giá trị đầu tư ngắn và dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (ngoại trừ Bảo Việt) đạt khoảng 60.226,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Trong đó, đầu tư ngắn hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng từ 80,5% lên 85,6% danh mục, với giá trị 51.570,7 tỷ đồng, tăng 15,2%.

Danh mục ngắn hạn chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi nhờ ưu thế an toàn và thanh khoản cao; trái phiếu ngắn hạn cũng nhích tăng. Đáng chú ý, chứng khoán kinh doanh ngắn hạn tăng mạnh nhất, lên trên 3.800 tỷ đồng, tăng 280%, cho thấy một số doanh nghiệp đang gia tăng phân bổ vào tài sản linh hoạt hơn, nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá trên thị trường

Trên đà tăng trưởng này, năm 2026, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trở lại nền kinh tế, với tổng giá trị ước vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ; riêng khối phi nhân thọ đạt khoảng gần 105 nghìn tỷ đồng, tăng 12,65%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh và nhu cầu trở nên đa dạng, VPBank đã xây dựng hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ được “may đo” cho từng lớp khách hàng. Cách tiếp cận này giúp ngân hàng mở rộng quy mô và khai thác sâu hơn giá trị vòng đời khách hàng, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, với mục tiêu dư nợ cấp tín dụng năm 2026 vượt mốc triệu tỷ đồng.
70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

(TBTCO) - Mặc dù kỳ vọng có cuộc sống ý nghĩa sau khi về hưu đang ngày càng tăng cao, song phần lớn người Việt vẫn thiếu các kế hoạch tài chính sẵn sàng để chuẩn bị cho giai đoạn nghỉ hưu.
Tỷ giá USD hôm nay (16/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.102 đồng, USD mất đà khi căng thẳng dịu đi

Tỷ giá USD hôm nay (16/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.102 đồng, USD mất đà khi căng thẳng dịu đi

(TBTCO) - Sáng ngày 16/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động từ 23.847 - 26.357 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY lùi về 98,02 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ khi dòng tiền dịch chuyển sang tài sản rủi ro nhờ kỳ vọng căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt tiếp tục cải thiện tâm lý nhà đầu tư.
Giá vàng hôm nay ngày 16/4: Giá vàng điều chỉnh trái chiều quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/4: Giá vàng điều chỉnh trái chiều quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 16/4, giá vàng trong nước điều chỉnh trái chiều tại nhiều doanh nghiệp, dao động quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng.
Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng "Sức khỏe thương hiệu ngân hàng Việt Nam 2025". Brand Beat Score (BBS) là báo cáo thường niên do Mibrand thực hiện và duy trì công bố từ năm 2017 đến nay, nhằm theo dõi diễn biến sức khỏe thương hiệu trong ngành ngân hàng.
Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

(TBTCO) - Chiều 15/4/2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) ký kết hợp tác cùng Cục Thuế (Bộ Tài chính) và cơ quan thuế tại 14 tỉnh, thành phố nhằm triển khai các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh trong quản lý doanh thu, xuất hóa đơn điện tử, kê khai và nộp thuế.
Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

(TBTCO) - OCB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 6.960 tỷ đồng, tăng 39%, trong bối cảnh tín dụng bị kiểm soát và kinh tế còn nhiều biến động. Ngân hàng tiếp tục coi tín dụng là trụ cột, tiếp tục mở rộng các lĩnh vực mới; đồng thời, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi, tăng trên 80% ngay quý I/2026. Nhiều giải pháp được triển khai, đưa cổ phiếu OCB định giá về mức hợp lý, phản ánh đúng giá trị.
Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼30K 15,700 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼30K 15,650 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼80K 16,760 ▼80K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼80K 16,710 ▼80K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼80K 16,690 ▼80K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Hà Nội - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đà Nẵng - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Miền Tây - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Tây Nguyên - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,260 ▼230K 16,960 ▼230K
Trang sức 99.99 16,270 ▼230K 16,970 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,677 ▲1507K 17,122 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,677 ▲1507K 17,123 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,672 ▼25K 1,707 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,672 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,652 ▼25K 1,692 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,025 ▲159390K 167,525 ▲167355K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,163 ▼1875K 127,063 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,318 ▼1700K 115,218 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,472 ▼1525K 103,372 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,903 ▼1458K 98,803 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,813 ▼1043K 70,713 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cập nhật: 16/04/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18341 18616 19191
CAD 18642 18920 19536
CHF 32939 33324 33963
CNY 0 3800 3870
EUR 30381 30655 31680
GBP 34839 35232 36162
HKD 0 3233 3435
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15201 15783
SGD 20156 20439 20966
THB 738 801 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,621 30,646 31,925
JPY 161.7 161.99 170.77
GBP 35,192 35,287 36,293
AUD 18,622 18,689 19,284
CAD 18,883 18,944 19,528
CHF 33,384 33,488 34,273
SGD 20,350 20,413 21,100
CNY - 3,798 3,921
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 787.87 797.6 849.56
NZD 15,260 15,402 15,766
SEK - 2,835 2,919
DKK - 4,097 4,218
NOK - 2,766 2,847
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,239.76 - 7,001.87
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,916.81 7,244
KWD - 83,892 88,745
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,517 30,640 31,826
GBP 35,109 35,250 36,261
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,120 33,253 34,197
JPY 162.01 162.66 170
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,371 20,453 21,039
THB 803 806 842
CAD 18,830 18,906 19,479
NZD 15,318 15,852
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18527 18627 19550
CAD 18827 18927 19941
CHF 33204 33234 34812
CNY 3800.7 3825.7 3961
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32322
GBP 35148 35198 36956
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20323 20453 21175
THB 0 767.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16720000 16720000 17120000
SBJ 15000000 15000000 17120000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/04/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80