Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong quý cuối năm 2025, lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi của nhiều doanh nghiệp phi nhân thọ và tái bảo hiểm niêm yết giảm mạnh do bão lũ, trong khi lợi nhuận đầu tư trở thành phao cứu sinh cho nhiều doanh nghiệp. Danh mục đầu tư của nhóm này vượt 60.000 tỷ đồng, tăng 8,4%, chiến lược đầu tư tiếp tục ưu tiên thanh khoản và quản trị rủi ro, song dự báo sẽ có sự chuyển dịch.
aa

Lợi nhuận đầu tư “gánh đỡ” khi nghiệp vụ bảo hiểm suy yếu

Khảo sát tại các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cho thấy, trong quý cuối năm vừa qua, phí bảo hiểm gốc toàn khối vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, đạt hơn 16.000 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Ngoại trừ hai doanh nghiệp đang trong quá trình tái cơ cấu là BSH và PTI ghi nhận sụt giảm doanh thu phí, song các doanh nghiệp vẫn giữ được nền tảng kinh doanh ổn định, cho thấy hiệu quả bước đầu của việc kiểm soát chi phí và chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn.

Dù doanh thu phí vẫn tăng trưởng khả quan, quý cuối năm qua cũng ghi nhận sự suy giảm rõ rệt của lợi nhuận bảo hiểm cốt lõi tại nhiều doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí bồi thường và trích lập dự phòng tăng mạnh khi các đợt bão lũ xảy ra dồn dập. Đây được xem là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì thị phần và tạo nền tảng để gia tăng sức cạnh tranh cho mùa kinh doanh năm 2026, song cũng khiến hiệu quả hoạt động bảo hiểm chịu nhiều áp lực.

Đầu tư tài chính
Lợi nhuận tài chính quý IV/2025 tăng đã hỗ trợ kết quả kinh doanh cả năm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Ảnh: Dũng Minh

Theo đó, có tới 10/12 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm sụt giảm trong quý IV/2025 (không xét Tập đoàn Bảo Việt do chưa tách riêng được lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo từng phân khúc).

Khi hoạt động bảo hiểm suy giảm, nguồn thu từ đầu tư tài chính trở thành “bệ đỡ” quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp. Trong quý IV/2025, ít nhất 8 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm, nhưng lợi nhuận tài chính tăng, qua đó, hỗ trợ kết quả kinh doanh chung.

Cụ thể, PJICO, PTI và ABIC đều chứng kiến lợi nhuận bảo hiểm giảm từ 3 - 18%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng từ 21 - 27%, riêng PTI đảo chiều từ lỗ sang lãi. Vinare cũng ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm 51,8%, song lợi nhuận tài chính tăng 32%.

Chiến lược đầu tư luôn ưu tiên thanh khoản, quản trị rủi ro

"Nhiệm vụ quan trọng nhất với công ty bảo hiểm phải đảm bảo được tính thanh khoản, để làm sao chi trả nghĩa vụ đối với khách hàng. Chẳng hạn như trong công tác đầu tư của PVI, quan trọng nhất là phải đảm bảo tính thanh khoản, cũng như quản trị những rủi ro để làm sao an toàn nhất. Khi lập chiến lược phân bổ tài sản, sẽ phải đáp ứng điều này đầu tiên".

Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI

Xu hướng này rõ nét hơn tại BIC khi lợi nhuận bảo hiểm giảm xuống còn 191,4 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận tài chính tăng mạnh 142% lên 155 tỷ đồng. Tương tự, BSH ghi nhận lợi nhuận bảo hiểm giảm sâu gần 80%, trong khi lợi nhuận tài chính tăng gần 46%, giúp giảm bớt áp lực lên kết quả kinh doanh.

Trái với xu hướng được “bù đắp” bởi nguồn thu tài chính, Bảo hiểm Bảo Long ghi nhận sự suy giảm mạnh ở cả hai trụ cột lợi nhuận trong quý IV/2025. Diễn biến này khiến hai doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, lần lượt 25,4 tỷ đồng và 31,3 tỷ đồng.

Trong bức tranh đầy gam màu "xám", Bảo hiểm DBV là doanh nghiệp hiếm hoi ghi nhận tăng trưởng đồng thời ở cả hai trụ cột trong quý IV/2025. Lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm đạt 118,7 tỷ đồng, tăng 21,2%; trong khi lợi nhuận tài chính đạt 46,2 tỷ đồng, tăng 19,9%.

Dự báo lãi suất tăng nhẹ, trái phiếu chất lượng giúp cơ cấu danh mục

Theo chuyên gia bảo hiểm Trần Nguyên Đán, việc tăng thu nhập từ hoạt động tài chính phần nào đến từ việc gia tăng quy mô tài sản. Khi doanh thu bảo hiểm tăng, các công ty bảo hiểm phải tăng vốn điều lệ tương ứng, dẫn tới lượng vốn và nguồn tiền nhàn rỗi lớn hơn và phần này thường được gửi vào ngân hàng hoặc đầu tư tài chính.

Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp bán được nhiều bảo hiểm hơn, các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ cũng tăng lên. Trong thời gian chưa chi trả bồi thường, phần dự phòng tạm thời này cũng được đem đi đầu tư, phổ biến nhất là gửi ngân hàng, hoặc đầu tư vào các tài sản tài chính an toàn. Vì vậy, khi quy mô kinh doanh mở rộng, doanh thu tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm cũng tăng lên tương ứng.

"Nguồn thu từ hoạt động tài chính phụ thuộc khá lớn vào mặt bằng lãi suất thị trường" - ông Đán nhấn mạnh. Khi lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm, lợi nhuận đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng bị ảnh hưởng ngay lập tức.

Dù là một "chân kiềng" quan trọng, song theo bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVI AM), quan trọng nhất đối với một công ty bảo hiểm không phải vấn đề liên quan đến lợi nhuận đầu tư cao, mà phải bảo đảm tính thanh khoản.

Chia sẻ thực tế tại PVI AM, bà Giao cho hay, khi xây dựng chiến lược phân bổ tài sản, PVI AM trước hết phải đảm bảo yêu cầu này, sau đó mới quyết định tỷ trọng phân bổ vào tiền gửi, trái phiếu hay cổ phiếu, sao cho vừa tối ưu lợi suất, vừa duy trì khả năng thanh khoản của Công ty.

Theo dự báo của PVI AM, lãi suất tiền gửi năm 2026 dự kiến tăng khoảng 50 điểm cơ bản so với năm 2025, tức tăng nhẹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hướng tới GDP tăng 10%, mức tăng này nhiều khả năng chỉ mang tính mùa vụ, diễn ra vào giai đoạn cuối năm và duy trì tăng nhẹ sang đầu năm, chứ không tăng quá cao.

Trong năm 2026, ngoài việc điều chỉnh kỳ vọng lãi suất, bà Giao cho biết, PVI AM cũng xem xét điều chỉnh cơ cấu phân bổ tài sản. Theo đó, danh mục có thể được tăng tỷ trọng trái phiếu hơn so với giai đoạn 2024 - 2025, tùy thuộc vào diễn biến thị trường, khi thị trường xuất hiện các trái phiếu có chất lượng tốt hơn, phù hợp với khẩu vị rủi ro của công ty, qua đó, cải thiện lợi suất đầu tư của danh mục.

Nguồn thu đầu tư vượt trội, song danh mục ngắn hạn vẫn áp đảo

Khảo sát từ nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cũng cho thấy, lợi nhuận đầu tư quý cuối năm 2025 không chỉ tăng trưởng, mà còn vượt lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm.

Theo đó, nhóm 7 doanh nghiệp gồm: Bảo Long, Hanoi Re, MIC, Vinare, BSH... đều ghi nhận lợi nhuận tài chính cao hơn lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm cốt lõi trong quý IV/2025. Điều này cho thấy trong bối cảnh chi phí bồi thường tăng mạnh do bão lũ cuối năm, nguồn thu từ danh mục đầu tư tài chính đã trở thành lực đỡ quan trọng, giúp nhiều doanh nghiệp duy trì lợi nhuận và giảm bớt tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác bảo hiểm.

Cùng với đó, cơ cấu danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục mở rộng trong năm 2025, với xu hướng gia tăng tỷ trọng các khoản đầu tư ngắn hạn nhằm nâng cao tính thanh khoản và khả năng linh hoạt trước biến động thị trường.

Đến cuối năm 2025, tổng giá trị đầu tư ngắn và dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (ngoại trừ Bảo Việt) đạt khoảng 60.226,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Trong đó, đầu tư ngắn hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng từ 80,5% lên 85,6% danh mục, với giá trị 51.570,7 tỷ đồng, tăng 15,2%.

Danh mục ngắn hạn chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi nhờ ưu thế an toàn và thanh khoản cao; trái phiếu ngắn hạn cũng nhích tăng. Đáng chú ý, chứng khoán kinh doanh ngắn hạn tăng mạnh nhất, lên trên 3.800 tỷ đồng, tăng 280%, cho thấy một số doanh nghiệp đang gia tăng phân bổ vào tài sản linh hoạt hơn, nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá trên thị trường

Trên đà tăng trưởng này, năm 2026, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trở lại nền kinh tế, với tổng giá trị ước vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ; riêng khối phi nhân thọ đạt khoảng gần 105 nghìn tỷ đồng, tăng 12,65%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

(TBTCO) - FTSE Russell vừa công bố kết quả rà soát bán niên tháng 9/2026 đối với FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS) khu vực châu Á – Thái Bình Dương (không bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc). Theo đó, cổ phiếu SSB của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) là 1 trong 27 cổ phiếu Việt Nam mới được đưa vào FTSE Global All Cap Index. Thay đổi dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Điều này có thể giúp SSB được nhiều quỹ và nhà đầu tư quốc tế theo dõi hơn, kéo theo cơ hội gia tăng thanh khoản, thu hút dòng tiền và hỗ trợ giá cổ phiếu.
Một kênh tài trợ thương mại ngoài “bộ lọc” room tín dụng tăng mạnh quy mô lên 158.000 tỷ đồng

Một kênh tài trợ thương mại ngoài “bộ lọc” room tín dụng tăng mạnh quy mô lên 158.000 tỷ đồng

Theo VDSC, số dư phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành đã tăng hơn gấp đôi sau 6 quý, lên khoảng 158.000 tỷ đồng vào quý II/2026. Nghiệp vụ này không đi qua bộ lọc giám sát về room tín dụng, phân loại nhóm nợ, trích lập dự phòng, song quy mô tăng nhanh, đặt ra yêu cầu theo dõi rủi ro chất lượng tài sản tiềm ẩn.
Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

(TBTCO) - Bảo hiểm nhân thọ không phải khoản tiết kiệm có lãi suất cố định, cũng không phải kênh đầu tư hứa hẹn sinh lời cao. Giá trị cốt lõi của sản phẩm là bảo vệ tài chính trước những rủi ro khó lường. Để khách hàng thực sự “hiểu đúng để yên tâm”, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai khách hàng với yêu cầu đọc kỹ hợp đồng; doanh nghiệp và người tư vấn phải cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, minh bạch ngay từ thời điểm tham gia.
Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 30 USD/ounce, xuống mức 4.604 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cùng đi xuống, có nơi giảm tới 1,3 triệu đồng/lượng.
Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

(TBTCO) - Khối ngoại đang sở hữu 20,54% vốn Techcombank, trong khi giới hạn tối đa là 22,5386%, khiến room ngoại chỉ còn khoảng 2 điểm phần trăm. Trong bối cảnh hai “ông lớn” ngân hàng Pháp và Hàn Quốc được cho là đang đàm phán mua ít nhất 15% vốn Techcombank trị giá khoảng 2 tỷ USD, phương án nhận chuyển nhượng cổ phần từ nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu được đặt ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 150,200
Hà Nội - PNJ 147,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 147,200 150,200
Miền Tây - PNJ 147,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 147,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,720 15,020
Miếng SJC Nghệ An 14,720 15,020
Miếng SJC Thái Bình 14,720 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,720 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,720 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,720 15,020
NL 99.99 14,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000
Trang sức 99.9 14,330 14,930
Trang sức 99.99 14,340 14,940
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,472 15,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,472 15,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,467 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,442 1,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,228 147,228
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,886 111,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,476 101,276
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,066 90,866
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,051 86,851
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,364 62,164
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,472 1,502
Cập nhật: 29/08/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18237 18512 19096
CAD 18297 18573 19200
CHF 31806 32187 32849
CNY 0 3837 3934
EUR 29739 29961 31053
GBP 34631 35023 35970
HKD 0 3195 3399
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15209 15802
SGD 19975 20258 20837
THB 707 770 824
USD (1,2) 25808 0 0
USD (5,10,20) 25848 0 0
USD (50,100) 25876 25890 26270
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 29/08/2026 07:30
Ngân hàng