Sửa chính sách bảo hiểm nông nghiệp nhằm mở rộng độ phủ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chương trình bảo hiểm nông nghiệp đã ghi nhận những kết quả bước đầu tích cực, góp phần hỗ trợ nông dân giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, song cũng còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp được định hướng sửa đổi theo hướng mở, với mức hỗ trợ tối đa tới 95% phí bảo hiểm, nhằm mở rộng độ phủ bảo hiểm nông nghiệp.
aa

Lan tỏa giá trị tới 99% hộ nghèo và những điểm nghẽn cần gỡ

Chia sẻ tại Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định 58) do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) vừa tổ chức, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ghi nhận những kết quả tích cực trong triển khai bảo hiểm nông nghiệp. Không chỉ mở rộng độ phủ bảo hiểm, chương trình còn mang ý nghĩa xã hội rõ nét khi hỗ trợ người nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo và cận nghèo, giảm thiểu rủi ro trước thiên tai và dịch bệnh.

Ông Vũ Tử Quân - Phó Giám đốc Ban Bảo hiểm tài sản kỹ thuật, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, giai đoạn năm 2019 - 2021, Bảo hiểm Bảo Việt đã triển khai sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp với đối tượng là trâu bò và cây lúa tại một số địa phương. Chương trình có gần 16.000 hộ, tổ chức tham gia, tổng giá trị được bảo hiểm đạt 137,7 tỷ đồng. Tổng doanh thu phí bảo hiểm thu được hơn 6 tỷ đồng.

Sửa chính sách bảo hiểm nông nghiệp nhằm mở rộng độ phủ
Tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp tại Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg lên tới 20.011 hộ. Ảnh: Đức Thanh

Dù vậy, với sản phẩm bảo hiểm cây lúa theo chỉ số viễn thám khi triển khai tại Thái Bình (nay là Hưng Yên) và Nghệ An, trong mùa mưa bão năm 2020, do không đồng nhất giữa thiệt hại thực tế và kết quả viễn thám, chương trình phải dừng lại.

Sau khi Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg được ban hành, Bảo hiểm Bảo Việt đã phối hợp với các nhà tái bảo hiểm để chuyển đổi sản phẩm từ bảo hiểm viễn thám sang bảo hiểm theo thiệt hại thực tế.

"Tuy nhiên, do đây là sản phẩm mới, Tổng Công ty mất nhiều thời gian làm việc với nhà tái bảo hiểm để xây dựng lại sản phẩm, phải thu thập dữ liệu tổn thất tại các địa phương thí điểm. Công tác thu thập dữ liệu gặp nhiều khó khăn, mất thời gian và chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, giai đoạn 2022 - 2025, chúng tôi mới triển khai bảo hiểm trâu bò tại tỉnh Hà Giang" - ông Quân thông tin.

Trong giai đoạn này, gần 3.300 hộ tham gia với tổng giá trị bảo hiểm vật nuôi 65 tỷ đồng, doanh thu phí hơn 2 tỷ đồng. Đáng chú ý, 99% đối tượng tham gia là hộ nghèo và cận nghèo, cho thấy phần lớn người thụ hưởng chính sách thuộc nhóm yếu thế. Qua đó, thể hiện ý nghĩa xã hội lớn của chương trình bảo hiểm nông nghiệp. Dù vậy, sau giai đoạn 2019 - 2021 tạo dấu ấn lan tỏa, giai đoạn 2 ghi nhận sự sụt giảm về số lượng tham gia và cơ cấu chuyển hoàn toàn sang bảo hiểm vật nuôi.

Theo thông tin từ Bảo hiểm Bảo Minh, dù quy mô triển khai còn khiêm tốn, lĩnh vực này vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Hiện diện tích cây trồng được bảo hiểm đạt trên 2.000 ha, vật nuôi được bảo hiểm là 644 con; tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 558 triệu đồng.

"Bảo hiểm nông nghiệp là một nghiệp vụ rất phức tạp, nhiều số liệu, thống kê số liệu không dễ dàng, đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn và nhiều yếu tố khác" - đại diện Bảo hiểm Bảo Minh nhìn nhận.

Sửa đổi chính sách theo hướng mở

Thống kê từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp tại Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg lên tới 20.011 hộ; trong đó, số hộ nghèo và cận nghèo chiếm phần lớn (87,6%). Tổng phí bảo hiểm cả hai giai đoạn là 9,25 tỷ đồng, trong đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ 7,86 tỷ đồng.

Đại diện Bảo hiểm Bảo Việt cho rằng, cần có cơ chế khơi thông dòng chảy hành chính để vốn ngân sách và sản phẩm bảo hiểm đến tay nông dân đúng thời điểm mùa vụ. Theo ông Vũ Tử Quân, cần bổ sung trách nhiệm cung cấp dữ liệu cấp thiết từ các cơ quan, vì phải có dữ liệu thống kê, các doanh nghiệp bảo hiểm và nhà tái bảo hiểm mới có thể xây dựng được sản phẩm và định phí.

Chắt lọc các đề xuất khả thi, hoàn thiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp

Ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, trên cơ sở các ý kiến đóng góp, thảo luận và đề xuất sửa đổi Nghị định số

58/2018/NĐ-CP, cơ quan soạn thảo sẽ chắt lọc những ý kiến có tính khả thi để hoàn thiện chính sách. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm, các bộ, ngành và địa phương cần đồng hành cùng cơ quan quản lý trong quá trình triển khai.

Doanh nghiệp đề xuất gộp chung nhóm hộ nghèo và cận nghèo thay vì tách riêng như quy định tại Nghị định 58, đồng thời áp dụng mức hỗ trợ 95% phí bảo hiểm theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58. Theo đại diện Bảo hiểm Bảo Việt, ranh giới giữa hai nhóm khá mong manh và việc phân tách làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây phức tạp trong quá trình phê duyệt và triển khai chính sách.

Trong khi đó, đại diện Bảo hiểm Bảo Minh nhấn mạnh, cần có các nhà tái bảo hiểm hỗ trợ tài chính trong trường hợp rủi ro lớn, phức tạp. Đồng thời, cần hệ thống số liệu thống kê đầy đủ, chính xác phục vụ giám định, bồi thường và giúp người nông dân tiếp cận thông tin tin cậy. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đề xuất bổ sung các rủi ro được bảo hiểm phù hợp với nhu cầu sản xuất nông nghiệp.

Dưới góc độ quản lý, ông Lê Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh, không thể có một nền nông nghiệp hiện đại nếu thiếu vai trò của bảo hiểm. Bảo hiểm giúp giảm thiểu thiệt hại, quản trị rủi ro, đồng thời ổn định thu nhập và duy trì sản xuất cho người nông dân.

"Nếu có một phần hỗ trợ để vượt qua thiệt hại, ví dụ như giống, nông dân có thể tái sản xuất; còn nếu không, thì không có cách nào khác. Chỉ một năm mất mùa, 3 - 4 năm lao đao" - ông Thịnh bày tỏ.

Chia sẻ về định hướng sửa Nghị định 58, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, cơ quan quản lý sẽ xây dựng khung quy định pháp lý chung cho bảo hiểm nông nghiệp. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp bảo hiểm cùng các nhà tái bảo hiểm phối hợp thiết kế sản phẩm, cùng các bộ, ngành, địa phương và tổ chức xây dựng các sản phẩm bảo hiểm phù hợp, hướng tới phát triển nông nghiệp xanh, sạch, công nghệ cao và thúc đẩy liên kết sản xuất nông nghiệp.

Theo đó, tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58, chính sách được xây dựng theo hướng mở, cơ quan quản lý sẽ giám sát trong quá trình triển khai.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80