Sửa chính sách bảo hiểm nông nghiệp nhằm mở rộng độ phủ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chương trình bảo hiểm nông nghiệp đã ghi nhận những kết quả bước đầu tích cực, góp phần hỗ trợ nông dân giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, song cũng còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp được định hướng sửa đổi theo hướng mở, với mức hỗ trợ tối đa tới 95% phí bảo hiểm, nhằm mở rộng độ phủ bảo hiểm nông nghiệp.
aa

Lan tỏa giá trị tới 99% hộ nghèo và những điểm nghẽn cần gỡ

Chia sẻ tại Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định 58) do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) vừa tổ chức, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ghi nhận những kết quả tích cực trong triển khai bảo hiểm nông nghiệp. Không chỉ mở rộng độ phủ bảo hiểm, chương trình còn mang ý nghĩa xã hội rõ nét khi hỗ trợ người nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo và cận nghèo, giảm thiểu rủi ro trước thiên tai và dịch bệnh.

Ông Vũ Tử Quân - Phó Giám đốc Ban Bảo hiểm tài sản kỹ thuật, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, giai đoạn năm 2019 - 2021, Bảo hiểm Bảo Việt đã triển khai sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp với đối tượng là trâu bò và cây lúa tại một số địa phương. Chương trình có gần 16.000 hộ, tổ chức tham gia, tổng giá trị được bảo hiểm đạt 137,7 tỷ đồng. Tổng doanh thu phí bảo hiểm thu được hơn 6 tỷ đồng.

Sửa chính sách bảo hiểm nông nghiệp nhằm mở rộng độ phủ
Tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp tại Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg lên tới 20.011 hộ. Ảnh: Đức Thanh

Dù vậy, với sản phẩm bảo hiểm cây lúa theo chỉ số viễn thám khi triển khai tại Thái Bình (nay là Hưng Yên) và Nghệ An, trong mùa mưa bão năm 2020, do không đồng nhất giữa thiệt hại thực tế và kết quả viễn thám, chương trình phải dừng lại.

Sau khi Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg được ban hành, Bảo hiểm Bảo Việt đã phối hợp với các nhà tái bảo hiểm để chuyển đổi sản phẩm từ bảo hiểm viễn thám sang bảo hiểm theo thiệt hại thực tế.

"Tuy nhiên, do đây là sản phẩm mới, Tổng Công ty mất nhiều thời gian làm việc với nhà tái bảo hiểm để xây dựng lại sản phẩm, phải thu thập dữ liệu tổn thất tại các địa phương thí điểm. Công tác thu thập dữ liệu gặp nhiều khó khăn, mất thời gian và chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, giai đoạn 2022 - 2025, chúng tôi mới triển khai bảo hiểm trâu bò tại tỉnh Hà Giang" - ông Quân thông tin.

Trong giai đoạn này, gần 3.300 hộ tham gia với tổng giá trị bảo hiểm vật nuôi 65 tỷ đồng, doanh thu phí hơn 2 tỷ đồng. Đáng chú ý, 99% đối tượng tham gia là hộ nghèo và cận nghèo, cho thấy phần lớn người thụ hưởng chính sách thuộc nhóm yếu thế. Qua đó, thể hiện ý nghĩa xã hội lớn của chương trình bảo hiểm nông nghiệp. Dù vậy, sau giai đoạn 2019 - 2021 tạo dấu ấn lan tỏa, giai đoạn 2 ghi nhận sự sụt giảm về số lượng tham gia và cơ cấu chuyển hoàn toàn sang bảo hiểm vật nuôi.

Theo thông tin từ Bảo hiểm Bảo Minh, dù quy mô triển khai còn khiêm tốn, lĩnh vực này vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Hiện diện tích cây trồng được bảo hiểm đạt trên 2.000 ha, vật nuôi được bảo hiểm là 644 con; tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 558 triệu đồng.

"Bảo hiểm nông nghiệp là một nghiệp vụ rất phức tạp, nhiều số liệu, thống kê số liệu không dễ dàng, đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn và nhiều yếu tố khác" - đại diện Bảo hiểm Bảo Minh nhìn nhận.

Sửa đổi chính sách theo hướng mở

Thống kê từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp tại Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg lên tới 20.011 hộ; trong đó, số hộ nghèo và cận nghèo chiếm phần lớn (87,6%). Tổng phí bảo hiểm cả hai giai đoạn là 9,25 tỷ đồng, trong đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ 7,86 tỷ đồng.

Đại diện Bảo hiểm Bảo Việt cho rằng, cần có cơ chế khơi thông dòng chảy hành chính để vốn ngân sách và sản phẩm bảo hiểm đến tay nông dân đúng thời điểm mùa vụ. Theo ông Vũ Tử Quân, cần bổ sung trách nhiệm cung cấp dữ liệu cấp thiết từ các cơ quan, vì phải có dữ liệu thống kê, các doanh nghiệp bảo hiểm và nhà tái bảo hiểm mới có thể xây dựng được sản phẩm và định phí.

Chắt lọc các đề xuất khả thi, hoàn thiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp

Ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, trên cơ sở các ý kiến đóng góp, thảo luận và đề xuất sửa đổi Nghị định số

58/2018/NĐ-CP, cơ quan soạn thảo sẽ chắt lọc những ý kiến có tính khả thi để hoàn thiện chính sách. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm, các bộ, ngành và địa phương cần đồng hành cùng cơ quan quản lý trong quá trình triển khai.

Doanh nghiệp đề xuất gộp chung nhóm hộ nghèo và cận nghèo thay vì tách riêng như quy định tại Nghị định 58, đồng thời áp dụng mức hỗ trợ 95% phí bảo hiểm theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58. Theo đại diện Bảo hiểm Bảo Việt, ranh giới giữa hai nhóm khá mong manh và việc phân tách làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây phức tạp trong quá trình phê duyệt và triển khai chính sách.

Trong khi đó, đại diện Bảo hiểm Bảo Minh nhấn mạnh, cần có các nhà tái bảo hiểm hỗ trợ tài chính trong trường hợp rủi ro lớn, phức tạp. Đồng thời, cần hệ thống số liệu thống kê đầy đủ, chính xác phục vụ giám định, bồi thường và giúp người nông dân tiếp cận thông tin tin cậy. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đề xuất bổ sung các rủi ro được bảo hiểm phù hợp với nhu cầu sản xuất nông nghiệp.

Dưới góc độ quản lý, ông Lê Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh, không thể có một nền nông nghiệp hiện đại nếu thiếu vai trò của bảo hiểm. Bảo hiểm giúp giảm thiểu thiệt hại, quản trị rủi ro, đồng thời ổn định thu nhập và duy trì sản xuất cho người nông dân.

"Nếu có một phần hỗ trợ để vượt qua thiệt hại, ví dụ như giống, nông dân có thể tái sản xuất; còn nếu không, thì không có cách nào khác. Chỉ một năm mất mùa, 3 - 4 năm lao đao" - ông Thịnh bày tỏ.

Chia sẻ về định hướng sửa Nghị định 58, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, cơ quan quản lý sẽ xây dựng khung quy định pháp lý chung cho bảo hiểm nông nghiệp. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp bảo hiểm cùng các nhà tái bảo hiểm phối hợp thiết kế sản phẩm, cùng các bộ, ngành, địa phương và tổ chức xây dựng các sản phẩm bảo hiểm phù hợp, hướng tới phát triển nông nghiệp xanh, sạch, công nghệ cao và thúc đẩy liên kết sản xuất nông nghiệp.

Theo đó, tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58, chính sách được xây dựng theo hướng mở, cơ quan quản lý sẽ giám sát trong quá trình triển khai.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17827 18101 18673
CAD 18120 18395 19010
CHF 31503 31883 32519
CNY 0 3850 3942
EUR 29309 29530 30606
GBP 34208 34599 35529
HKD 0 3227 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14888 15473
SGD 19832 20114 20682
THB 698 761 815
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26148 26512
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,429 29,453 30,858
JPY 156.44 156.72 166.18
GBP 34,368 34,461 35,658
AUD 18,017 18,082 18,764
CAD 18,305 18,364 19,039
CHF 31,758 31,857 32,794
SGD 19,949 20,011 20,792
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.61 17.32 18.84
THB 746.29 755.51 809.03
NZD 14,864 15,002 15,445
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,075
NOK - 2,676 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,019.21 - 6,794.39
TWD 733.68 - 888.71
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26510
AUD 18057 18157 19080
CAD 18297 18397 19409
CHF 31749 31779 33369
CNY 3831.5 3856.5 3991.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29495 29525 31250
GBP 34498 34548 36306
HKD 0 3355 0
JPY 157.27 157.77 168.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19999 20129 20856
THB 0 727 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80