Xăng dầu và tỷ giá tạo áp lực lên chính sách tiền tệ

Tú Anh
(TBTCO) - Căng thẳng tại Trung Đông đẩy giá dầu Brent và WTI tăng cao, làm gia tăng lo ngại lạm phát toàn cầu; đồng USD mạnh lên cũng khiến áp lực tỷ giá gia tăng, điều hành chính sách tiền tệ có thể trở nên thận trọng hơn. Dù vậy, các chuyên gia cho rằng, khả năng chậm giảm lãi suất có xác suất cao, trong khi kịch bản tăng lãi suất được đánh giá không lớn.
aa

Căng thẳng Trung Đông gây áp lực tỷ giá

Đánh giá về kịch bản căng thẳng Trung Đông leo thang và kéo dài, theo đánh giá của Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating), các tác động của sự kiện này đối với môi trường tín nhiệm của Việt Nam phần lớn được phản ánh qua sự gia tăng của chi phí năng lượng và vận tải, áp lực lạm phát và tỷ giá, cũng như các điều kiện tài chính có thể thắt chặt hơn, thay vì sự gián đoạn trực tiếp của các tuyến xuất khẩu hàng hóa.

Trong khoảng 10 ngày căng thẳng Trung Đông leo thang, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng trên cả thị trường chính thức và tự do. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 18 đồng, lên 25.062 VND/USD ngày 10/3. Cùng thời gian, tỷ giá bán ra USD tại nhiều ngân hàng thương mại tăng khoảng 85 đồng tuần qua và niêm yết mức kịch trần theo quy định ngày 10/3 (26.315 VND/USD).

Xăng dầu và tỷ giá tạo áp lực lên chính sách tiền tệ
Trong khoảng 10 ngày căng thẳng tại Trung Đông leo thang, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng trên cả thị trường chính thức và tự do. Ảnh: Đức Thanh

Biến động mạnh hơn diễn ra trên thị trường tự do khi giá USD bán ra tăng tới 520 đồng trong vòng hơn một tuần, hiện giao dịch quanh 27.150 - 27.200 VND/USD.

Theo đánh giá của nhóm phân tích VIS Rating, giá năng lượng và chi phí vận tải toàn cầu tăng có thể đẩy lạm phát tại Mỹ lên cao, khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trì hoãn việc nới lỏng tiền tệ, hỗ trợ sức mạnh của đồng USD. "Điều này sẽ gây ra áp lực mất giá kéo dài đối với VND, làm gia tăng rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp Việt Nam có dư nợ bằng USD" - VIS Rating nhận định.

Theo đó, các doanh nghiệp chịu tác động lớn nhất thuộc nhóm ngành sản xuất điện và cung cấp nước sạch, bao gồm: Tổng công ty Phát điện 3; Công ty cổ phần Tập đoàn PC1, Công ty cổ phần BCG Energy và Công ty cổ phần Nước - Môi trường Bình Dương.

Các hãng vận tải hàng không cũng chịu tác động, do các doanh nghiệp này vừa có tỷ trọng đáng kể nợ vay bằng USD vừa có nhiều chi phí hoạt động bằng USD như chi phí nhiên liệu, thuê máy bay và bảo dưỡng. Thông tin từ Cục Hàng không Việt Nam (Bộ Xây dựng) cho thấy, trước diễn biến phức tạp của xung đột tại Trung Đông, giá nhiên liệu hàng không Jet A1 đã tăng khoảng 3 lần so với thời điểm trước khi xảy ra căng thẳng. Diễn biến này khiến các hãng hàng không đối mặt với nhiều khó khăn khi chi phí khai thác có thể tăng thêm khoảng 60 - 70%, tạo áp lực lớn lên hoạt động kinh doanh.

Biến động tỷ giá kéo dài sẽ làm suy yếu khả năng trả nợ và hồ sơ tín nhiệm của các doanh nghiệp này, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có mức độ phòng ngừa rủi ro hạn chế.

Ngân hàng trung ương trước thế “tiến thoái lưỡng nan”

Cũng theo nhóm phân tích VIS Rating, rủi ro lạm phát và tỷ giá gia tăng có thể khiến chính sách tiền tệ trong nước thắt chặt hơn, lãi suất tăng; đồng thời, việc quản lý thanh khoản chặt chẽ hơn. Điều này sẽ làm tăng chi phí vốn và rủi ro tái cấp vốn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp bất động sản và hạ tầng có đòn bẩy cao, khả năng chi trả lãi vay hạn chế và áp lực đáo hạn nợ lớn trong ngắn hạn.

Theo đánh giá của TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp, nếu xung đột Trung Đông leo thang và ảnh hưởng đến nguồn cung năng lượng, khả năng tái diễn một cú sốc năng lượng tương tự giai đoạn Nga - Ukraine năm 2022 là điều không thể loại trừ, tuy nhiên xác suất và mức độ tác động sẽ phụ thuộc vào phạm vi lan rộng của xung đột.

Điều hành tiền tệ trước áp lực lạm phát

"Nếu giá xăng dầu và lạm phát tăng trở lại, áp lực điều chỉnh chính sách tiền tệ là có thật. Tuy nhiên, khả năng “xoay trục” mạnh mẽ sẽ phụ thuộc vào việc cú sốc đó mang tính tạm thời hay kéo dài. Trong kịch bản xấu, chu kỳ nới lỏng có thể bị trì hoãn đáng kể; còn trong kịch bản trung tính, các ngân hàng trung ương sẽ ưu tiên giữ ổn định kỳ vọng và tránh làm tổn thương tăng trưởng quá mức".

TS. Lê Bá Chí Nhân

Theo ông Nhân, nếu giá dầu tăng mạnh trở lại và kéo theo lạm phát toàn cầu đi lên do căng thẳng địa chính trị, các ngân hàng trung ương lớn sẽ rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan”.

Trước hết là áp lực kiểm soát lạm phát gia tăng, bởi khi giá năng lượng tăng, lạm phát không chỉ đến từ xăng dầu mà còn lan sang chi phí vận tải, sản xuất và dịch vụ. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng trung ương lớn như Fed hay Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ phải cân nhắc việc trì hoãn hoặc làm chậm chu kỳ nới lỏng tiền tệ, thậm chí phát tín hiệu thắt chặt trở lại nếu kỳ vọng lạm phát bị “mất neo”.

"Điểm khó là cú sốc giá dầu thường làm suy giảm sức mua và lợi nhuận doanh nghiệp. Nếu vừa thắt chặt để chống lạm phát, vừa phải đối mặt với tăng trưởng chậm lại, kinh tế toàn cầu có thể rơi vào trạng thái gần với “stagflation” tăng trưởng thấp, lạm phát cao. Đây là kịch bản mà các ngân hàng trung ương rất muốn tránh" - ông Nhân đặt vấn đề.

Vị chuyên gia này cũng cho rằng, phản ứng chính sách giữa các nền kinh tế có thể phân hóa rõ rệt hơn. Mỹ có lợi thế là nhà sản xuất năng lượng lớn, trong khi châu Âu và nhiều nền kinh tế nhập khẩu ròng dầu mỏ sẽ chịu áp lực mạnh hơn. Vì vậy, mức độ điều chỉnh chính sách tiền tệ có thể khác nhau, thay vì đồng pha như giai đoạn chống lạm phát 2022 - 2023.

Cũng có góc nhìn thận trọng, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho rằng, Fed đứng trước lựa chọn có nới lỏng tiếp hay không, chứ không đặt vấn đề tăng lãi suất.

Theo ông Độ, lạm phát của Mỹ hiện đang cao hơn mục tiêu, mặc dù có xu hướng giảm nhưng lại giảm chậm. Vì vậy, cân bằng giữa yếu tố này với khả năng kinh tế Mỹ có thể yếu đi khiến kịch bản giữ nguyên lãi suất trong một thời gian, hoặc chậm giảm lãi suất có xác suất xảy ra cao hơn, còn xác suất tăng lãi suất là không nhiều.

Ngay cả Trung Quốc hiện nay kinh tế cũng đang yếu và vài tháng trước còn rơi vào giảm phát, nên khả năng tăng lãi suất không cao; khả năng chậm giảm lãi suất vẫn là kịch bản có xác suất lớn nhất. Cùng cung quan điểm, TS. Lê Bá Chí Nhân cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, trọng tâm của các ngân hàng trung ương nhiều khả năng sẽ là kiểm soát kỳ vọng thị trường, hơn là những hành động chính sách cực đoan. Họ có xu hướng sử dụng công cụ truyền thông chính sách để ổn định tâm lý trước khi thay đổi lãi suất. Nếu cú sốc năng lượng được đánh giá chỉ mang tính tạm thời, các nhà điều hành có thể cho rằng đây là biến động giá ngắn hạn, thay vì phản ứng mạnh.

Tú Anh

Đọc thêm

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▲50K 15,400 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▲50K 15,350 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲50K 16,400 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲50K 16,380 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 01/05/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/05/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80