Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (9 - 13/3) là lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng xuống quanh 4%, doanh số vay qua đêm hạ nhiệt, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn bớt căng thẳng. Ngân hàng Nhà nước mạnh tay hút ròng 81.476,77 tỷ đồng qua OMO khi tỷ giá USD tiếp tục nhích lên, đặc biệt ở chiều mua vào và chỉ số DXY vượt 100 điểm do xung đột Trung Đông.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm Tỷ giá nhích tăng do tình hình Trung Đông căng thẳng Dự báo USD mạnh lên tạm thời vì xung đột Trung Đông, tỷ giá USD/VND biến động 2 - 3%

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm còn 4%, nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt

Trong tuần qua, từ ngày 9/3 đến ngày 13/3, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh thị trường mở (OMO) đạt khoảng 45.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn ở mức cao, khoảng 126.476,77 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 81.476,77 tỷ đồng qua kênh OMO.

Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều tiết theo hướng rút bớt thanh khoản dư thừa khỏi hệ thống ngân hàng. Tuy vậy, quy mô hút ròng đã thu hẹp dần về cuối tuần, cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống không quá lớn.

Trước đó, để cân đối thanh khoản trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng nhẹ hơn 4.000 tỷ đồng qua kênh OMO. Xa hơn, vào tuần cuối tháng 2/2026, cơ quan điều hành từng hút ròng mạnh khoảng 78.000 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm
Thị trường tiền tệ tuần 9-13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm. Ảnh minh họa.
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết theo hướng hút ròng thanh khoản khỏi hệ thống ngân hàng, qua đó, làm giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường. Theo đó, khối lượng lưu hành trên kênh OMO đã giảm xuống còn 327.382,89 tỷ đồng, so với khoảng 480 nghìn tỷ đồng vào tuần đầu tháng 2/2026, cho thấy lượng vốn được bơm ra qua kênh này đã thu hẹp đáng kể trong thời gian gần đây.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, việc quy mô bơm ròng chỉ ở mức nhẹ cho thấy Ngân hàng Nhà nước vẫn khá thận trọng, chủ yếu xử lý biến động theo ngày thay vì nới lỏng mạnh tay.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục duy trì cao hơn so với tuần trước, nhưng nhiều khả năng sẽ dao động trong biên độ hẹp, hơn nếu nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt sau nhịp căng đầu tháng" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Thực tế, diễn biến trên thị trường liên ngân hàng tuần qua cho thấy, doanh số giao dịch không ghi nhận biến động đột biến, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng đã phần nào hạ nhiệt. Theo đó, doanh số vay liên ngân hàng qua đêm xuống còn 786 nghìn tỷ đồng ngày 10/3, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng giao dịch. Các kỳ hạn dài hơn ghi nhận quy mô giao dịch nhỏ hơn nhiều và biến động theo từng phiên.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi kỳ hạn dài tăng nhẹ, song lãi suất các kỳ hạn dài vẫn ở mức cao.

Theo đó, lãi suất qua đêm xuống còn 4,24%, tương ứng giảm 0,37 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn 1 tuần giảm 0,13 điểm phần trăm còn 5,07%; 2 tuần giảm 0,55 điểm phần trăm còn 5,6%.

Trong khi đó, lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm xuống 7,14%. Trái lại, kỳ hạn 3 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 7,89%, cho thấy áp lực lãi suất chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn dài hơn.

Chỉ số DXY vượt mốc 100 điểm, ngân hàng tăng mạnh tỷ giá mua USD

Ngày 13/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.065 VND/USD, tăng 4 đồng so với ngày 12/3. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần áp dụng trong ngày là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD.

Trên thị trường trong nước, các ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng giá USD so với phiên trước, trong đó mức tăng tập trung chủ yếu ở chiều mua vào. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng có xu hướng nhích lên, bám sát biến động của đồng USD trên thị trường quốc tế.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Đơn cử, trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.048 - 26.318 VND/USD, tăng lần lượt khoảng 49 đồng ở chiều mua vào và 9 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.094 - 26.314 VND/USD, tăng mạnh 65 đồng ở chiều mua vào và 5 đồng ở chiều bán ra. Một số ngân hàng khác cũng niêm yết tỷ giá bán ra USD ở mức trần như: ACB, Agribank, Sacombank, Techcombank...

Trên thị trường quốc tế, chỉ số US Dollar Index (DXY) - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt -tăng 0,35%, hiện ở 100,1 điểm. Đồng USD tăng giá mạnh nhất trong hơn 1 năm qua kể từ tháng 11/2025, trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh. Trong nước, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng 2 tuần liên tiếp tổng cộng 8 đồng sau 5 tuần ròng rã giảm; tỷ giá USD tiếp tục nhích lên trong hệ thống ngân hàng, chủ yếu tăng mạnh ở chiều mua vào.

Chia sẻ tại phiên đối thoại do Ngân hàng UOB tổ chức mới đây về triển vọng kinh tế toàn cầu và Việt Nam, bà Thiều Thị Nhật Lệ -Tổng Giám đốc, Công ty Quản lý quỹ UOBAM Việt Nam cũng lưu ý, một số rủi ro chính trong năm 2026.

Đó là các xung đột địa chính trị phức tạp và chính sách thuế bất ổn của Mỹ có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, việc luân chuyển dòng vốn đầu tư và tình hình lạm phát tòan cầu.

"Rủi ro về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể gây áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước" - lãnh đạo UOBAM lưu ý.

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo rằng căng thẳng kéo dài tại Trung Đông có thể làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu khi giá năng lượng leo thang nhanh.

Trong bối cảnh đó, nhiều đồng tiền của các quốc gia nhập khẩu năng lượng lớn đã suy yếu đáng kể so với USD. Đồng rupee Ấn Độ và yên Nhật giảm hơn 1,5%, trong khi EUR và won Hàn Quốc lần lượt giảm khoảng 2% và 3%.

Xu hướng tăng của đồng bạc xanh tiếp tục được hỗ trợ bởi vai trò tài sản trú ẩn trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, đồng thời hưởng lợi từ vị thế của Mỹ là quốc gia xuất khẩu năng lượng ròng.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, hiện mặt bằng lãi suất toàn cầu đang trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro lạm phát, khi giá dầu tăng, khiến thị trường cắt giảm kỳ vọng hạ lãi suất tại Mỹ, châu Âu và Anh, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước.

Cũng theo Chứng khoán Yuanta, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ và châu Âu đồng loạt đi lên, kéo theo việc nhà đầu tư cắt giảm kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất của Fed, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và thậm chí xuất hiện các đặt cược rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có thể phải duy trì lập trường chính sách tiền tệ cứng rắn hơn.

Mặc dù số liệu việc làm của Mỹ công bố thấp hơn kỳ vọng, phần nào giúp duy trì hy vọng rằng Fed vẫn còn dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, nhưng các thông tin xuất hiện trong tuần nhìn chung vẫn ủng hộ xu hướng tăng của đồng USD. Trong khi đó, các đồng tiền chủ chốt khác diễn biến khá phân hóa, song nhìn chung chưa đủ mạnh để cản lại đà phục hồi của đồng USD.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR/VND, GBP/VND cũng ghi nhận xu hướng giảm. Trong khi đó, tỷ giá CNY/VND tiếp đà tăng giá trong tuần qua. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY được niêm yết ở mức 3.717,78 - 3.875,6 VND/CNY, tăng khoảng 8,1 đồng ở chiều mua vào và 8,4 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

"Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực gia tăng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông tăng cao. Tính tới ngày 6/3, VND vẫn đang tăng giá khoảng 0,25% so với USD. Cho cả năm 2026 chúng tôi dự báo VND sẽ mất giá khoảng 2,4%" - Chứng khoán Yuanta dự báo./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Tỷ giá USD hôm nay (13/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ đầu tuần, DXY suy yếu nhẹ

Tỷ giá USD hôm nay (13/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ đầu tuần, DXY suy yếu nhẹ

(TBTCO) - Sáng 13/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 1 đồng lên 25.106 VND/USD trong phiên đầu tuần. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng được phép dao động trong khoảng 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, áp lực tỷ giá phần nào hạ nhiệt khi chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,65 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (11/4): Tỷ giá USD tự do rớt xa mốc 27.000 đồng, cùng đà giảm của DXY

Tỷ giá USD hôm nay (11/4): Tỷ giá USD tự do rớt xa mốc 27.000 đồng, cùng đà giảm của DXY

(TBTCO) - Sáng 11/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng phiên cuối tuần lên 25.105 VND/USD, trong tuần biến động nhẹ 2 - 4 đồng/phiên. Tuần qua, tỷ giá USD tự do gây bất ngờ khi lao dốc gần 700 đồng và lùi sâu về vùng 26.800 - 26.830 VND/USD. Áp lực hạ nhiệt này cộng hưởng từ việc chỉ số DXY vừa ghi nhận tuần giảm điểm mạnh 1,54%, chốt tuần tại 98,68 điểm.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (10/4): USD tự do mất mốc 27.000 đồng, DXY hưởng lợi từ lo ngại ngừng bắn mong manh

Tỷ giá USD hôm nay (10/4): USD tự do mất mốc 27.000 đồng, DXY hưởng lợi từ lo ngại ngừng bắn mong manh

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.105 VND/USD phiên cuối tuần. Trên thị trường tự do, tỷ giá VND/USD giao dịch phổ biến quanh 26.910 - 26.960 VND/USD, tiếp đà suy yếu khi mất mốc 27.000 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY ở mức 98,93 điểm, tăng 0,11%; USD thu hẹp đà giảm, phục hồi từ đáy 98,5 điểm trước lo ngại thỏa thuận ngừng bắn Mỹ - Iran mong manh.
Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Sáng ngày 9/4, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.102 VND/USD. Trong biên độ 5%, tỷ giá ngân hàng dao động 23.847 - 26.357 VND/USD, trong khi thị trường tự do rớt mất mốc 27.000 đồng. Chỉ số DXY quanh 99,07 điểm, biến động trước rủi ro địa chính trị, tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz vẫn chưa được giải quyết triệt để, bất chấp lệnh ngừng bắn tạm thời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼30K 15,700 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼30K 15,650 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼80K 16,760 ▼80K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼80K 16,710 ▼80K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼80K 16,690 ▼80K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Hà Nội - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đà Nẵng - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Miền Tây - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Tây Nguyên - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,260 ▼230K 16,960 ▼230K
Trang sức 99.99 16,270 ▼230K 16,970 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,677 ▲1507K 17,122 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,677 ▲1507K 17,123 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,672 ▼25K 1,707 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,672 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,652 ▼25K 1,692 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,025 ▲159390K 167,525 ▲167355K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,163 ▼1875K 127,063 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,318 ▼1700K 115,218 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,472 ▼1525K 103,372 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,903 ▼1458K 98,803 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,813 ▼1043K 70,713 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cập nhật: 16/04/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18341 18616 19191
CAD 18642 18920 19536
CHF 32939 33324 33963
CNY 0 3800 3870
EUR 30381 30655 31680
GBP 34839 35232 36162
HKD 0 3233 3435
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15201 15783
SGD 20156 20439 20966
THB 738 801 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,621 30,646 31,925
JPY 161.7 161.99 170.77
GBP 35,192 35,287 36,293
AUD 18,622 18,689 19,284
CAD 18,883 18,944 19,528
CHF 33,384 33,488 34,273
SGD 20,350 20,413 21,100
CNY - 3,798 3,921
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 787.87 797.6 849.56
NZD 15,260 15,402 15,766
SEK - 2,835 2,919
DKK - 4,097 4,218
NOK - 2,766 2,847
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,239.76 - 7,001.87
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,916.81 7,244
KWD - 83,892 88,745
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,517 30,640 31,826
GBP 35,109 35,250 36,261
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,120 33,253 34,197
JPY 162.01 162.66 170
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,371 20,453 21,039
THB 803 806 842
CAD 18,830 18,906 19,479
NZD 15,318 15,852
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18527 18627 19550
CAD 18827 18927 19941
CHF 33204 33234 34812
CNY 3800.7 3825.7 3961
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32322
GBP 35148 35198 36956
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20323 20453 21175
THB 0 767.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16720000 16720000 17120000
SBJ 15000000 15000000 17120000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/04/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80