Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (9 - 13/3) là lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng xuống quanh 4%, doanh số vay qua đêm hạ nhiệt, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn bớt căng thẳng. Ngân hàng Nhà nước mạnh tay hút ròng 81.476,77 tỷ đồng qua OMO khi tỷ giá USD tiếp tục nhích lên, đặc biệt ở chiều mua vào và chỉ số DXY vượt 100 điểm do xung đột Trung Đông.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm Tỷ giá nhích tăng do tình hình Trung Đông căng thẳng Dự báo USD mạnh lên tạm thời vì xung đột Trung Đông, tỷ giá USD/VND biến động 2 - 3%

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm còn 4%, nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt

Trong tuần qua, từ ngày 9/3 đến ngày 13/3, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh thị trường mở (OMO) đạt khoảng 45.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn ở mức cao, khoảng 126.476,77 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 81.476,77 tỷ đồng qua kênh OMO.

Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều tiết theo hướng rút bớt thanh khoản dư thừa khỏi hệ thống ngân hàng. Tuy vậy, quy mô hút ròng đã thu hẹp dần về cuối tuần, cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống không quá lớn.

Trước đó, để cân đối thanh khoản trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng nhẹ hơn 4.000 tỷ đồng qua kênh OMO. Xa hơn, vào tuần cuối tháng 2/2026, cơ quan điều hành từng hút ròng mạnh khoảng 78.000 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm
Thị trường tiền tệ tuần 9-13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm. Ảnh minh họa.
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết theo hướng hút ròng thanh khoản khỏi hệ thống ngân hàng, qua đó, làm giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường. Theo đó, khối lượng lưu hành trên kênh OMO đã giảm xuống còn 327.382,89 tỷ đồng, so với khoảng 480 nghìn tỷ đồng vào tuần đầu tháng 2/2026, cho thấy lượng vốn được bơm ra qua kênh này đã thu hẹp đáng kể trong thời gian gần đây.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, việc quy mô bơm ròng chỉ ở mức nhẹ cho thấy Ngân hàng Nhà nước vẫn khá thận trọng, chủ yếu xử lý biến động theo ngày thay vì nới lỏng mạnh tay.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục duy trì cao hơn so với tuần trước, nhưng nhiều khả năng sẽ dao động trong biên độ hẹp, hơn nếu nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt sau nhịp căng đầu tháng" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Thực tế, diễn biến trên thị trường liên ngân hàng tuần qua cho thấy, doanh số giao dịch không ghi nhận biến động đột biến, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng đã phần nào hạ nhiệt. Theo đó, doanh số vay liên ngân hàng qua đêm xuống còn 786 nghìn tỷ đồng ngày 10/3, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng giao dịch. Các kỳ hạn dài hơn ghi nhận quy mô giao dịch nhỏ hơn nhiều và biến động theo từng phiên.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi kỳ hạn dài tăng nhẹ, song lãi suất các kỳ hạn dài vẫn ở mức cao.

Theo đó, lãi suất qua đêm xuống còn 4,24%, tương ứng giảm 0,37 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn 1 tuần giảm 0,13 điểm phần trăm còn 5,07%; 2 tuần giảm 0,55 điểm phần trăm còn 5,6%.

Trong khi đó, lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm xuống 7,14%. Trái lại, kỳ hạn 3 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 7,89%, cho thấy áp lực lãi suất chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn dài hơn.

Chỉ số DXY vượt mốc 100 điểm, ngân hàng tăng mạnh tỷ giá mua USD

Ngày 13/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.065 VND/USD, tăng 4 đồng so với ngày 12/3. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần áp dụng trong ngày là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD.

Trên thị trường trong nước, các ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng giá USD so với phiên trước, trong đó mức tăng tập trung chủ yếu ở chiều mua vào. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng có xu hướng nhích lên, bám sát biến động của đồng USD trên thị trường quốc tế.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Đơn cử, trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.048 - 26.318 VND/USD, tăng lần lượt khoảng 49 đồng ở chiều mua vào và 9 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.094 - 26.314 VND/USD, tăng mạnh 65 đồng ở chiều mua vào và 5 đồng ở chiều bán ra. Một số ngân hàng khác cũng niêm yết tỷ giá bán ra USD ở mức trần như: ACB, Agribank, Sacombank, Techcombank...

Trên thị trường quốc tế, chỉ số US Dollar Index (DXY) - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt -tăng 0,35%, hiện ở 100,1 điểm. Đồng USD tăng giá mạnh nhất trong hơn 1 năm qua kể từ tháng 11/2025, trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh. Trong nước, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng 2 tuần liên tiếp tổng cộng 8 đồng sau 5 tuần ròng rã giảm; tỷ giá USD tiếp tục nhích lên trong hệ thống ngân hàng, chủ yếu tăng mạnh ở chiều mua vào.

Chia sẻ tại phiên đối thoại do Ngân hàng UOB tổ chức mới đây về triển vọng kinh tế toàn cầu và Việt Nam, bà Thiều Thị Nhật Lệ -Tổng Giám đốc, Công ty Quản lý quỹ UOBAM Việt Nam cũng lưu ý, một số rủi ro chính trong năm 2026.

Đó là các xung đột địa chính trị phức tạp và chính sách thuế bất ổn của Mỹ có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, việc luân chuyển dòng vốn đầu tư và tình hình lạm phát tòan cầu.

"Rủi ro về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể gây áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước" - lãnh đạo UOBAM lưu ý.

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo rằng căng thẳng kéo dài tại Trung Đông có thể làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu khi giá năng lượng leo thang nhanh.

Trong bối cảnh đó, nhiều đồng tiền của các quốc gia nhập khẩu năng lượng lớn đã suy yếu đáng kể so với USD. Đồng rupee Ấn Độ và yên Nhật giảm hơn 1,5%, trong khi EUR và won Hàn Quốc lần lượt giảm khoảng 2% và 3%.

Xu hướng tăng của đồng bạc xanh tiếp tục được hỗ trợ bởi vai trò tài sản trú ẩn trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, đồng thời hưởng lợi từ vị thế của Mỹ là quốc gia xuất khẩu năng lượng ròng.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, hiện mặt bằng lãi suất toàn cầu đang trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro lạm phát, khi giá dầu tăng, khiến thị trường cắt giảm kỳ vọng hạ lãi suất tại Mỹ, châu Âu và Anh, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước.

Cũng theo Chứng khoán Yuanta, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ và châu Âu đồng loạt đi lên, kéo theo việc nhà đầu tư cắt giảm kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất của Fed, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và thậm chí xuất hiện các đặt cược rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có thể phải duy trì lập trường chính sách tiền tệ cứng rắn hơn.

Mặc dù số liệu việc làm của Mỹ công bố thấp hơn kỳ vọng, phần nào giúp duy trì hy vọng rằng Fed vẫn còn dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, nhưng các thông tin xuất hiện trong tuần nhìn chung vẫn ủng hộ xu hướng tăng của đồng USD. Trong khi đó, các đồng tiền chủ chốt khác diễn biến khá phân hóa, song nhìn chung chưa đủ mạnh để cản lại đà phục hồi của đồng USD.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR/VND, GBP/VND cũng ghi nhận xu hướng giảm. Trong khi đó, tỷ giá CNY/VND tiếp đà tăng giá trong tuần qua. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY được niêm yết ở mức 3.717,78 - 3.875,6 VND/CNY, tăng khoảng 8,1 đồng ở chiều mua vào và 8,4 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

"Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực gia tăng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông tăng cao. Tính tới ngày 6/3, VND vẫn đang tăng giá khoảng 0,25% so với USD. Cho cả năm 2026 chúng tôi dự báo VND sẽ mất giá khoảng 2,4%" - Chứng khoán Yuanta dự báo./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.632 đồng, tỷ giá USD tại ngân hàng tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY cũng tăng mạnh 0,73%, lên 100,34 điểm. Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75% - 4% với tỷ lệ nhất trí 12-0, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17693 17966 18540
CAD 17833 18107 18726
CHF 30694 31070 31704
CNY 0 3828 3924
EUR 28913 29132 30213
GBP 33525 33913 34858
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14377 14965
SGD 19767 20049 20627
THB 692 755 809
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26169
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30