Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (9 - 13/3) là lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng xuống quanh 4%, doanh số vay qua đêm hạ nhiệt, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn bớt căng thẳng. Ngân hàng Nhà nước mạnh tay hút ròng 81.476,77 tỷ đồng qua OMO khi tỷ giá USD tiếp tục nhích lên, đặc biệt ở chiều mua vào và chỉ số DXY vượt 100 điểm do xung đột Trung Đông.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm Tỷ giá nhích tăng do tình hình Trung Đông căng thẳng Dự báo USD mạnh lên tạm thời vì xung đột Trung Đông, tỷ giá USD/VND biến động 2 - 3%

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm còn 4%, nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt

Trong tuần qua, từ ngày 9/3 đến ngày 13/3, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh thị trường mở (OMO) đạt khoảng 45.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn ở mức cao, khoảng 126.476,77 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 81.476,77 tỷ đồng qua kênh OMO.

Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều tiết theo hướng rút bớt thanh khoản dư thừa khỏi hệ thống ngân hàng. Tuy vậy, quy mô hút ròng đã thu hẹp dần về cuối tuần, cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống không quá lớn.

Trước đó, để cân đối thanh khoản trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng nhẹ hơn 4.000 tỷ đồng qua kênh OMO. Xa hơn, vào tuần cuối tháng 2/2026, cơ quan điều hành từng hút ròng mạnh khoảng 78.000 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm
Thị trường tiền tệ tuần 9-13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm. Ảnh minh họa.
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết theo hướng hút ròng thanh khoản khỏi hệ thống ngân hàng, qua đó, làm giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường. Theo đó, khối lượng lưu hành trên kênh OMO đã giảm xuống còn 327.382,89 tỷ đồng, so với khoảng 480 nghìn tỷ đồng vào tuần đầu tháng 2/2026, cho thấy lượng vốn được bơm ra qua kênh này đã thu hẹp đáng kể trong thời gian gần đây.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, việc quy mô bơm ròng chỉ ở mức nhẹ cho thấy Ngân hàng Nhà nước vẫn khá thận trọng, chủ yếu xử lý biến động theo ngày thay vì nới lỏng mạnh tay.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục duy trì cao hơn so với tuần trước, nhưng nhiều khả năng sẽ dao động trong biên độ hẹp, hơn nếu nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt sau nhịp căng đầu tháng" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Thực tế, diễn biến trên thị trường liên ngân hàng tuần qua cho thấy, doanh số giao dịch không ghi nhận biến động đột biến, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng đã phần nào hạ nhiệt. Theo đó, doanh số vay liên ngân hàng qua đêm xuống còn 786 nghìn tỷ đồng ngày 10/3, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng giao dịch. Các kỳ hạn dài hơn ghi nhận quy mô giao dịch nhỏ hơn nhiều và biến động theo từng phiên.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi kỳ hạn dài tăng nhẹ, song lãi suất các kỳ hạn dài vẫn ở mức cao.

Theo đó, lãi suất qua đêm xuống còn 4,24%, tương ứng giảm 0,37 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn 1 tuần giảm 0,13 điểm phần trăm còn 5,07%; 2 tuần giảm 0,55 điểm phần trăm còn 5,6%.

Trong khi đó, lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm xuống 7,14%. Trái lại, kỳ hạn 3 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 7,89%, cho thấy áp lực lãi suất chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn dài hơn.

Chỉ số DXY vượt mốc 100 điểm, ngân hàng tăng mạnh tỷ giá mua USD

Ngày 13/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.065 VND/USD, tăng 4 đồng so với ngày 12/3. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần áp dụng trong ngày là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD.

Trên thị trường trong nước, các ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng giá USD so với phiên trước, trong đó mức tăng tập trung chủ yếu ở chiều mua vào. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng có xu hướng nhích lên, bám sát biến động của đồng USD trên thị trường quốc tế.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Đơn cử, trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.048 - 26.318 VND/USD, tăng lần lượt khoảng 49 đồng ở chiều mua vào và 9 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.094 - 26.314 VND/USD, tăng mạnh 65 đồng ở chiều mua vào và 5 đồng ở chiều bán ra. Một số ngân hàng khác cũng niêm yết tỷ giá bán ra USD ở mức trần như: ACB, Agribank, Sacombank, Techcombank...

Trên thị trường quốc tế, chỉ số US Dollar Index (DXY) - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt -tăng 0,35%, hiện ở 100,1 điểm. Đồng USD tăng giá mạnh nhất trong hơn 1 năm qua kể từ tháng 11/2025, trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh. Trong nước, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng 2 tuần liên tiếp tổng cộng 8 đồng sau 5 tuần ròng rã giảm; tỷ giá USD tiếp tục nhích lên trong hệ thống ngân hàng, chủ yếu tăng mạnh ở chiều mua vào.

Chia sẻ tại phiên đối thoại do Ngân hàng UOB tổ chức mới đây về triển vọng kinh tế toàn cầu và Việt Nam, bà Thiều Thị Nhật Lệ -Tổng Giám đốc, Công ty Quản lý quỹ UOBAM Việt Nam cũng lưu ý, một số rủi ro chính trong năm 2026.

Đó là các xung đột địa chính trị phức tạp và chính sách thuế bất ổn của Mỹ có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, việc luân chuyển dòng vốn đầu tư và tình hình lạm phát tòan cầu.

"Rủi ro về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể gây áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước" - lãnh đạo UOBAM lưu ý.

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo rằng căng thẳng kéo dài tại Trung Đông có thể làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu khi giá năng lượng leo thang nhanh.

Trong bối cảnh đó, nhiều đồng tiền của các quốc gia nhập khẩu năng lượng lớn đã suy yếu đáng kể so với USD. Đồng rupee Ấn Độ và yên Nhật giảm hơn 1,5%, trong khi EUR và won Hàn Quốc lần lượt giảm khoảng 2% và 3%.

Xu hướng tăng của đồng bạc xanh tiếp tục được hỗ trợ bởi vai trò tài sản trú ẩn trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, đồng thời hưởng lợi từ vị thế của Mỹ là quốc gia xuất khẩu năng lượng ròng.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, hiện mặt bằng lãi suất toàn cầu đang trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro lạm phát, khi giá dầu tăng, khiến thị trường cắt giảm kỳ vọng hạ lãi suất tại Mỹ, châu Âu và Anh, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước.

Cũng theo Chứng khoán Yuanta, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ và châu Âu đồng loạt đi lên, kéo theo việc nhà đầu tư cắt giảm kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất của Fed, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và thậm chí xuất hiện các đặt cược rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có thể phải duy trì lập trường chính sách tiền tệ cứng rắn hơn.

Mặc dù số liệu việc làm của Mỹ công bố thấp hơn kỳ vọng, phần nào giúp duy trì hy vọng rằng Fed vẫn còn dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, nhưng các thông tin xuất hiện trong tuần nhìn chung vẫn ủng hộ xu hướng tăng của đồng USD. Trong khi đó, các đồng tiền chủ chốt khác diễn biến khá phân hóa, song nhìn chung chưa đủ mạnh để cản lại đà phục hồi của đồng USD.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR/VND, GBP/VND cũng ghi nhận xu hướng giảm. Trong khi đó, tỷ giá CNY/VND tiếp đà tăng giá trong tuần qua. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY được niêm yết ở mức 3.717,78 - 3.875,6 VND/CNY, tăng khoảng 8,1 đồng ở chiều mua vào và 8,4 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

"Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực gia tăng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông tăng cao. Tính tới ngày 6/3, VND vẫn đang tăng giá khoảng 0,25% so với USD. Cho cả năm 2026 chúng tôi dự báo VND sẽ mất giá khoảng 2,4%" - Chứng khoán Yuanta dự báo./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

(TBTCO) - Sáng ngày 27/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.113 đồng, đi ngang do trùng kỳ nghỉ lễ, trong khi DXY nhích tăng nhẹ lên 98,61 điểm. Đồng USD tăng nhẹ khi đàm phán Mỹ - Iran chưa tiến triển, làm dấy lên lo ngại lạm phát và khiến kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất năm 2026 suy yếu, trong bối cảnh thị trường chờ loạt dữ liệu và quyết sách quan trọng tuần này.
Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

(TBTCO) - Sáng ngày 25/4, tỷ giá trung tâm chốt phiên cuối tuần ở mức 25.113 đồng, tăng tổng cộng 11 đồng tuần qua, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng tuần qua lên 26.670 - 26.700 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY chốt tuần quanh 98,5 điểm, giảm nhẹ phiên gần nhất song tăng 0,76% tuần qua, phản ánh trạng thái giằng co do USD vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị và chính sách thận trọng của Fed.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/4): Tỷ giá trung tâm đi lên, USD tự do tăng vọt 100 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (24/4): Tỷ giá trung tâm đi lên, USD tự do tăng vọt 100 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 24/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.113 đồng, tăng 10 đồng so với phiên trước, cao hơn nhiều phiên gần đây. Trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND phổ biến quanh 26.670 - 26.700 VND/USD, tăng vọt 100 đồng. Trên thị trường quốc tế, USD dần mất xu hướng rõ ràng sau cú tăng do địa chính trị, khi DXY giằng co, phản ánh tâm lý thận trọng trước diễn biến xung đột và chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 21/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.630 - 26.670 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lùi nhẹ về 98,09 điểm nhưng vẫn duy trì nền ổn định. Tâm điểm chú ý dồn vào đàm phán Mỹ - Iran cuối tuần, yếu tố có thể định hướng xu hướng thị trường ngắn hạn, dù kỳ vọng tích cực đang chiếm ưu thế.
Tỷ giá USD hôm nay (20/4): USD nhích nhẹ, DXY mạnh lên giữa căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tuần thứ 8

Tỷ giá USD hôm nay (20/4): USD nhích nhẹ, DXY mạnh lên giữa căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tuần thứ 8

(TBTCO) - Sáng ngày 20/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần 25.103 đồng, tăng 1 đồng so với trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.610 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,2% phản ánh USD mạnh lên so với các đồng tiền chủ chốt. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh giá dầu bật tăng mạnh khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, xung đột khu vực kéo dài sang tuần thứ 8 và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt rõ ràng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▼200K 16,550 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼200K 15,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼200K 15,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▼200K 16,450 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▼200K 16,400 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▼200K 16,380 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Hà Nội - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đà Nẵng - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Miền Tây - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Tây Nguyên - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
NL 99.90 15,150 ▼180K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200 ▼180K
Trang sức 99.9 15,740 ▼150K 16,440 ▼150K
Trang sức 99.99 15,750 ▼150K 16,450 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▼1482K 16,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▼1482K 16,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1461K 1,655 ▲1488K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1461K 1,656 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1443K 164 ▼1491K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▼1485K 162,376 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▼1125K 123,162 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▼1020K 111,681 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▼91302K 1,002 ▼100113K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▼874K 95,772 ▼874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲53618K 68,545 ▲61628K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cập nhật: 29/04/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18331 18607 19182
CAD 18717 18995 19612
CHF 32746 33131 33775
CNY 0 3812 3904
EUR 30211 30485 31513
GBP 34795 35188 36122
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15132 15717
SGD 20090 20373 20897
THB 723 786 839
USD (1,2) 26080 0 0
USD (5,10,20) 26121 0 0
USD (50,100) 26149 26169 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,412 30,436 31,703
JPY 161.01 161.3 170.03
GBP 35,070 35,165 36,168
AUD 18,617 18,684 19,279
CAD 18,944 19,005 19,590
CHF 33,048 33,151 33,932
SGD 20,257 20,320 21,002
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.5 17.21 18.62
THB 774.24 783.8 833.81
NZD 15,201 15,342 15,702
SEK - 2,799 2,881
DKK - 4,069 4,188
NOK - 2,785 2,868
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.74 - 7,014.79
TWD 755.14 - 908.94
SAR - 6,924.46 7,251.19
KWD - 83,907 88,761
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26368
AUD 18564 18664 19589
CAD 18899 18999 20015
CHF 32967 32997 34580
CNY 3793.7 3818.7 3953.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30401 30431 32156
GBP 35109 35159 36920
HKD 0 3355 0
JPY 161.56 162.06 172.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15296 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20249 20379 21109
THB 0 754.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16500000 16500000 16800000
SBJ 15000000 15000000 16800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,368
USD20 26,170 26,220 26,368
USD1 23,858 26,220 26,368
AUD 18,607 18,707 19,821
EUR 30,542 30,542 31,958
CAD 18,843 18,943 20,258
SGD 20,320 20,470 21,250
JPY 162 163.5 168.08
GBP 34,999 35,349 36,470
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/04/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80