Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (9 - 13/3) là lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng xuống quanh 4%, doanh số vay qua đêm hạ nhiệt, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn bớt căng thẳng. Ngân hàng Nhà nước mạnh tay hút ròng 81.476,77 tỷ đồng qua OMO khi tỷ giá USD tiếp tục nhích lên, đặc biệt ở chiều mua vào và chỉ số DXY vượt 100 điểm do xung đột Trung Đông.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm Tỷ giá nhích tăng do tình hình Trung Đông căng thẳng Dự báo USD mạnh lên tạm thời vì xung đột Trung Đông, tỷ giá USD/VND biến động 2 - 3%

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm còn 4%, nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt

Trong tuần qua, từ ngày 9/3 đến ngày 13/3, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh thị trường mở (OMO) đạt khoảng 45.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn ở mức cao, khoảng 126.476,77 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 81.476,77 tỷ đồng qua kênh OMO.

Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều tiết theo hướng rút bớt thanh khoản dư thừa khỏi hệ thống ngân hàng. Tuy vậy, quy mô hút ròng đã thu hẹp dần về cuối tuần, cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống không quá lớn.

Trước đó, để cân đối thanh khoản trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng nhẹ hơn 4.000 tỷ đồng qua kênh OMO. Xa hơn, vào tuần cuối tháng 2/2026, cơ quan điều hành từng hút ròng mạnh khoảng 78.000 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm
Thị trường tiền tệ tuần 9-13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm. Ảnh minh họa.
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết theo hướng hút ròng thanh khoản khỏi hệ thống ngân hàng, qua đó, làm giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường. Theo đó, khối lượng lưu hành trên kênh OMO đã giảm xuống còn 327.382,89 tỷ đồng, so với khoảng 480 nghìn tỷ đồng vào tuần đầu tháng 2/2026, cho thấy lượng vốn được bơm ra qua kênh này đã thu hẹp đáng kể trong thời gian gần đây.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, việc quy mô bơm ròng chỉ ở mức nhẹ cho thấy Ngân hàng Nhà nước vẫn khá thận trọng, chủ yếu xử lý biến động theo ngày thay vì nới lỏng mạnh tay.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục duy trì cao hơn so với tuần trước, nhưng nhiều khả năng sẽ dao động trong biên độ hẹp, hơn nếu nhu cầu vốn ngắn hạn hạ nhiệt sau nhịp căng đầu tháng" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Thực tế, diễn biến trên thị trường liên ngân hàng tuần qua cho thấy, doanh số giao dịch không ghi nhận biến động đột biến, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng đã phần nào hạ nhiệt. Theo đó, doanh số vay liên ngân hàng qua đêm xuống còn 786 nghìn tỷ đồng ngày 10/3, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng giao dịch. Các kỳ hạn dài hơn ghi nhận quy mô giao dịch nhỏ hơn nhiều và biến động theo từng phiên.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi kỳ hạn dài tăng nhẹ, song lãi suất các kỳ hạn dài vẫn ở mức cao.

Theo đó, lãi suất qua đêm xuống còn 4,24%, tương ứng giảm 0,37 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn 1 tuần giảm 0,13 điểm phần trăm còn 5,07%; 2 tuần giảm 0,55 điểm phần trăm còn 5,6%.

Trong khi đó, lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm xuống 7,14%. Trái lại, kỳ hạn 3 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 7,89%, cho thấy áp lực lãi suất chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn dài hơn.

Chỉ số DXY vượt mốc 100 điểm, ngân hàng tăng mạnh tỷ giá mua USD

Ngày 13/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.065 VND/USD, tăng 4 đồng so với ngày 12/3. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần áp dụng trong ngày là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD.

Trên thị trường trong nước, các ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng giá USD so với phiên trước, trong đó mức tăng tập trung chủ yếu ở chiều mua vào. Diễn biến này phản ánh nhu cầu ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng có xu hướng nhích lên, bám sát biến động của đồng USD trên thị trường quốc tế.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm

Đơn cử, trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại nhìn chung tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.048 - 26.318 VND/USD, tăng lần lượt khoảng 49 đồng ở chiều mua vào và 9 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.094 - 26.314 VND/USD, tăng mạnh 65 đồng ở chiều mua vào và 5 đồng ở chiều bán ra. Một số ngân hàng khác cũng niêm yết tỷ giá bán ra USD ở mức trần như: ACB, Agribank, Sacombank, Techcombank...

Trên thị trường quốc tế, chỉ số US Dollar Index (DXY) - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt -tăng 0,35%, hiện ở 100,1 điểm. Đồng USD tăng giá mạnh nhất trong hơn 1 năm qua kể từ tháng 11/2025, trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh. Trong nước, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng 2 tuần liên tiếp tổng cộng 8 đồng sau 5 tuần ròng rã giảm; tỷ giá USD tiếp tục nhích lên trong hệ thống ngân hàng, chủ yếu tăng mạnh ở chiều mua vào.

Chia sẻ tại phiên đối thoại do Ngân hàng UOB tổ chức mới đây về triển vọng kinh tế toàn cầu và Việt Nam, bà Thiều Thị Nhật Lệ -Tổng Giám đốc, Công ty Quản lý quỹ UOBAM Việt Nam cũng lưu ý, một số rủi ro chính trong năm 2026.

Đó là các xung đột địa chính trị phức tạp và chính sách thuế bất ổn của Mỹ có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, việc luân chuyển dòng vốn đầu tư và tình hình lạm phát tòan cầu.

"Rủi ro về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể gây áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước" - lãnh đạo UOBAM lưu ý.

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo rằng căng thẳng kéo dài tại Trung Đông có thể làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu khi giá năng lượng leo thang nhanh.

Trong bối cảnh đó, nhiều đồng tiền của các quốc gia nhập khẩu năng lượng lớn đã suy yếu đáng kể so với USD. Đồng rupee Ấn Độ và yên Nhật giảm hơn 1,5%, trong khi EUR và won Hàn Quốc lần lượt giảm khoảng 2% và 3%.

Xu hướng tăng của đồng bạc xanh tiếp tục được hỗ trợ bởi vai trò tài sản trú ẩn trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, đồng thời hưởng lợi từ vị thế của Mỹ là quốc gia xuất khẩu năng lượng ròng.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, hiện mặt bằng lãi suất toàn cầu đang trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro lạm phát, khi giá dầu tăng, khiến thị trường cắt giảm kỳ vọng hạ lãi suất tại Mỹ, châu Âu và Anh, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước.

Cũng theo Chứng khoán Yuanta, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ và châu Âu đồng loạt đi lên, kéo theo việc nhà đầu tư cắt giảm kỳ vọng về khả năng hạ lãi suất của Fed, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và thậm chí xuất hiện các đặt cược rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có thể phải duy trì lập trường chính sách tiền tệ cứng rắn hơn.

Mặc dù số liệu việc làm của Mỹ công bố thấp hơn kỳ vọng, phần nào giúp duy trì hy vọng rằng Fed vẫn còn dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, nhưng các thông tin xuất hiện trong tuần nhìn chung vẫn ủng hộ xu hướng tăng của đồng USD. Trong khi đó, các đồng tiền chủ chốt khác diễn biến khá phân hóa, song nhìn chung chưa đủ mạnh để cản lại đà phục hồi của đồng USD.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR/VND, GBP/VND cũng ghi nhận xu hướng giảm. Trong khi đó, tỷ giá CNY/VND tiếp đà tăng giá trong tuần qua. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY được niêm yết ở mức 3.717,78 - 3.875,6 VND/CNY, tăng khoảng 8,1 đồng ở chiều mua vào và 8,4 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước./.

"Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực gia tăng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông tăng cao. Tính tới ngày 6/3, VND vẫn đang tăng giá khoảng 0,25% so với USD. Cho cả năm 2026 chúng tôi dự báo VND sẽ mất giá khoảng 2,4%" - Chứng khoán Yuanta dự báo./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80