Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sáng ngày 25/4, tỷ giá trung tâm chốt phiên cuối tuần ở mức 25.113 đồng, tăng tổng cộng 11 đồng tuần qua, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng tuần qua lên 26.670 - 26.700 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY chốt tuần quanh 98,5 điểm, giảm nhẹ phiên gần nhất song tăng 0,76% tuần qua, phản ánh trạng thái giằng co do USD vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị và chính sách thận trọng của Fed.
aa
Lãi suất và tỷ giá trở thành biến số chi phối thị trường Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng Bài 3: Dòng tiền mặt trong nền kinh tế: Tác động nào đến điều hành chính sách tiền tệ?

Diễn biến thị trường trong nước

Sáng ngày 25/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố mức 25.113 đồng phiên cuối tuần, tăng tổng cộng 11 đồng tuần qua, trong đó, bật tăng mạnh hơn phiên chốt tuần. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng biến động tương ứng, chốt tuần ở mức 23.908 - 26.318 VND/USD.

Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND phổ biến quanh 26.670 - 26.700 VND/USD, tăng 100 đồng mỗi chiều so với phiên trước, tính chung tăng 70 đồng hai chiều so với cuối tuần trước.

Khảo sát tại các ngân hàng cho thấy phiên cuối tuần, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.108 - 26.368 VND/USD, tăng 8 đồng cả hai chiều; tương tự tại BIDV ở mức 26.138 - 26.368 VND/USD, tăng 8 đồng.

Một số ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh hơn ở chiều mua vào như Techcombank lên 26.163 - 26.368 VND/USD, tăng 31 đồng mua vào và 8 đồng bán ra, cho thấy nhu cầu USD có dấu hiệu cải thiện nhẹ.

Tỷ giá USD giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn cuối tuần (ngày 24/4) gồm: Vietcombank, BIDV, Techcombank, Sacombank, Agribank như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ngược lại, tỷ giá EUR ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều ngân hàng. Tại Vietcombank, EUR ở mức 30.017 - 31.600 VND/EUR, giảm 20 đồng; tại BIDV xuống 30.326 - 31.616 VND/EUR, giảm 52 đồng.

Đối với tỷ giá GBP, xu hướng giảm cũng chiếm ưu thế. Tại Vietcombank, GBP ở mức 34.607 - 36.076 VND/GBP, giảm 36 - 37 đồng; tại BIDV xuống 34.927 - 36.021 VND/GBP, giảm 49 - 51 đồng.

Diễn biến thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - chốt tuần ở mức 98,5 điểm, mất khoảng 0,25% so với phiên trước, song tăng 0,76% tuần qua, cho thấy đà hồi phục của đồng USD vẫn thiếu bền vững sau giai đoạn biến động do yếu tố địa chính trị.

Diễn biến này phản ánh rõ trên các cặp tiền tệ chủ chốt, theo đó, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,8531, giảm 0,33%; tỷ giá USD/GBP xuống 0,7390, giảm 0,47%; tỷ giá USD/JPY còn 159,38, giảm 0,22%, cho thấy đồng USD suy yếu so với các đồng tiền chính. Ngược lại, tỷ giá USD/CNY tăng nhẹ lên 6,8363 (tăng 0,14%). Hiện USD đang trong trạng thái “giằng co”, thiếu xu hướng rõ ràng khi các yếu tố hỗ trợ và rủi ro đan xen.

Đồng USD tạm dừng đà tăng sau ba phiên đi lên liên tiếp khi nhà đầu tư thận trọng chờ diễn biến mới từ căng thẳng Mỹ - Iran. Dù lệnh ngừng bắn được gia hạn, triển vọng hòa bình vẫn mong manh do bất ổn tại eo biển Hormuz. Mỹ tuyên bố cứng rắn về an ninh hàng hải, trong khi Iran đặt điều kiện dỡ bỏ phong tỏa trước khi nối lại đàm phán, khiến rủi ro địa chính trị tiếp tục duy trì, qua đó, hỗ trợ USD với vai trò tài sản trú ẩn.

Căng thẳng leo thang khi Iran tấn công tàu tại Hormuz, làm dấy lên lo ngại gián đoạn nguồn cung năng lượng và đẩy giá dầu tăng, kéo theo áp lực lạm phát toàn cầu. Điều này có thể khiến các ngân hàng trung ương, đặc biệt là Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), duy trì lập trường thận trọng. Cùng với đó, kinh tế Mỹ vẫn tích cực, làm giảm kỳ vọng nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ, tiếp tục hỗ trợ đồng USD.

Hiện thị trường dự báo Fed chỉ có thể cắt giảm 25 điểm cơ bản vào cuối năm, khi áp lực lạm phát dần hạ nhiệt, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) có xu hướng thắt chặt khoảng 60 điểm cơ bản, nhờ lạm phát và dữ liệu kinh tế tích cực.

Trong khi đó, tỷ giá USD/JPY dao động dưới ngưỡng 160, khi dữ liệu lạm phát Nhật Bản chưa đủ để thay đổi kỳ vọng chính sách của Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

(TBTCO) - Giá vàng đang trải qua đợt điều chỉnh mạnh khi vàng thế giới giảm hơn 27% từ đỉnh, còn giá vàng trong nước giảm sâu, với mức giảm khoảng 60 triệu đồng/lượng, xuống thấp nhất kể từ cuối tháng 10/2025. Trong bối cảnh các quỹ ETF vàng bị rút ròng khoảng 2 tỷ USD trong tháng 5 và nhiều tổ chức quốc tế hạ dự báo giá vàng, thị trường vẫn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố.
Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

(TBTCO) - Được Manulife thiết kế dành riêng cho những người mong muốn phát triển sự nghiệp một cách chuyên nghiệp và bền vững, chương trình tuyển dụng Tư vấn Tài chính - Bảo hiểm “Đại sứ Xanh Phú Quý” hỗ trợ ứng viên chuyển đổi nghề nghiệp và xây dựng năng lực tư vấn toàn diện.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh.
Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Tài chính - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
Kim TT/AVPL 13,340 ▼90K 13,840 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,340 ▼90K 13,840 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼250K 13,300 ▼250K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼250K 13,250 ▼250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,250 ▼150K 13,650 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,200 ▼150K 13,600 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,130 ▼150K 13,580 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Hà Nội - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Miền Tây - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
NL 99.90 12,700 ▼350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,750 ▼350K
Trang sức 99.9 13,030 ▲10K 13,730 ▲10K
Trang sức 99.99 13,040 ▲10K 13,740 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,334 ▲1K 13,842 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,334 ▲1K 13,843 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,333 ▲1K 1,383 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,333 ▲1K 1,384 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,313 ▲1K 1,368 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,446 ▲99K 135,446 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,326 ▼83859K 10,276 ▼92409K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,683 ▲68K 93,183 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,106 ▲61K 83,606 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,412 ▲58K 79,912 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,701 ▲42935K 57,201 ▲51485K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Cập nhật: 11/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17875 18149 18734
CAD 18298 18574 19194
CHF 32271 32654 33299
CNY 0 3843 3936
EUR 29723 29945 31028
GBP 34365 34757 35695
HKD 0 3228 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14912 15499
SGD 19890 20172 20749
THB 714 777 831
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26143 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,924 29,948 31,258
JPY 159.73 160.02 169.03
GBP 34,637 34,731 35,800
AUD 18,128 18,193 18,814
CAD 18,549 18,609 19,220
CHF 32,601 32,702 33,540
SGD 20,053 20,115 20,830
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,297 3,307 3,432
KRW 15.89 16.57 17.96
THB 763.12 772.54 823.9
NZD 14,936 15,075 15,464
SEK - 2,728 2,813
DKK - 4,004 4,128
NOK - 2,735 2,821
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,055.3 - 6,809.28
TWD 751.01 - 906.27
SAR - 6,905.29 7,245.31
KWD - 83,526 88,526
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,831 29,951 31,138
GBP 34,583 34,722 35,739
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,397 32,527 33,436
JPY 159.87 160.51 168.31
AUD 18,080 18,153 18,743
SGD 20,097 20,178 20,761
THB 780 783 817
CAD 18,548 18,622 19,188
NZD 15,021 15,557
KRW 16.55 18.14
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26410
AUD 18072 18172 19098
CAD 18483 18583 19597
CHF 32514 32544 34135
CNY 3823.9 3848.9 3984.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29916 29946 31671
GBP 34681 34731 36502
HKD 0 3355 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15026 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20052 20182 20913
THB 0 743.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13340000 13340000 13840000
SBJ 10500000 10500000 13840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,138 18,238 19,350
EUR 30,099 30,099 31,520
CAD 18,481 18,581 19,895
SGD 20,141 20,291 20,859
JPY 160.97 162.47 170.5
GBP 34,626 34,976 35,853
XAU 13,378,000 0 13,882,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80