Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những "tay chơi" lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng đang trải qua đợt điều chỉnh mạnh khi vàng thế giới giảm hơn 27% từ đỉnh, còn giá vàng trong nước giảm sâu, với mức giảm khoảng 60 triệu đồng/lượng, xuống thấp nhất kể từ cuối tháng 10/2025. Trong bối cảnh các quỹ ETF vàng bị rút ròng khoảng 2 tỷ USD trong tháng 5 và nhiều tổ chức quốc tế hạ dự báo giá vàng, thị trường vẫn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố.
aa

Giá vàng xuống thấp nhất 4 tháng, giằng co giữa nhiều lực tác động trái chiều Nhiều ngân hàng chờ “giấy thông hành” nhập cuộc thị trường vàng
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng “gối đầu giường”

Từ vùng đỉnh 190 triệu đồng/lượng, vì sao giá vàng rơi dốc?

Giá vàng thế giới về sát mốc 4.000 USD/ounce, giá vàng SJC giảm hơn 28%

Giá vàng thế giới tiếp tục biến động mạnh khi có thời điểm rơi sát 4.000 USD/ounce trong sáng 11/6, mức thấp nhất kể từ tháng 11/2025, sau cú giảm hơn 5% ở phiên trước.

Dù lực bắt đáy giúp giá phục hồi lên khoảng 4.074 USD/ounce, vàng vẫn thấp hơn 27% so với đỉnh 5.595,46 USD/ounce cuối tháng 1/2026. Trong nước, giá vàng miếng SJC tại SJC và DOJI giảm 2,3 triệu đồng/lượng, xuống còn 131 - 136 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Vàng miếng Bảo Tín Mạnh Hải cũng giảm mạnh, giao dịch ở mức 130,5 - 136 triệu đồng/lượng.

Dòng tiền rút khỏi ETF vàng, áp lực giảm giá chưa dừng lại?

Tính từ đỉnh lịch sử 191 triệu đồng/lượng thiết lập cuối tháng 1/2026, giá vàng SJC hiện đã giảm hơn 28%. Đáng chú ý, nếu tính cả chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra, mức thiệt hại của nhà đầu tư mua vàng ở vùng đỉnh lên tới khoảng 60 triệu đồng/lượng. Giá vàng hiện cũng đã lùi về mức thấp nhất kể từ cuối tháng 10/2025.

Đáng chú ý, trong vòng một tháng qua, giá vàng thế giới giảm mạnh, nhưng giá vàng trong nước còn lao dốc nhanh hơn, nhiều nhà đầu tư mua vàng tại vùng đỉnh chịu áp lực thua lỗ lớn.

Cùng với đó, khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới đang “xóa nhòa” nhanh chóng, giá vàng thế giới quy đổi đã bắt kịp vùng giá mua vào trong nước, quanh 131 triệu đồng/lượng.

Trên các diễn đàn về vàng, nhiều nhà đầu tư đang chia sẻ câu chuyện thua lỗ sau đợt lao dốc mạnh của giá vàng. Anh Q. (TP. Hồ Chí Minh) cho biết đã mua 16 lượng vàng SJC với tổng giá trị khoảng 2,57 tỷ đồng, nhưng nếu bán ra thì chỉ thu về khoảng 2,2 tỷ đồng, tương đương khoản lỗ hơn 370 triệu đồng, tức khoảng 14,4%, chỉ sau chưa đầy 2 tháng nắm giữ.

Không chỉ những người mua vàng ở vùng giá cao chịu thua lỗ, nhiều nhà đầu tư khác cũng rơi vào tình thế khó xử khi giá vàng lao dốc. Một cá nhân chia sẻ đã vay 10 lượng vàng của người quen để đầu tư hồi đầu năm, khi giá vàng khoảng 190 triệu đồng/lượng. Nay giá giảm mạnh, dù đã xoay được tiền để mua vàng hoàn trả, người này vẫn bị yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt theo giá vàng lúc vay.

ETF vàng bị rút ròng 2 tỷ USD, lực đỡ từ ngân hàng trung ương suy yếu

Câu hỏi đặt ra là liệu đà giảm này có tiếp tục hay không, giá vàng thế giới và giá vàng trong nước đã chạm đáy chưa, hay mới chỉ là một nhịp điều chỉnh tạm thời.

Giới đầu tư đặc biệt theo dõi diễn biến của các quỹ ETF vàng và hoạt động mua bán của các ngân hàng trung ương, hai nhóm “tay to” nắm giữ sức ảnh hưởng lớn đối với cung cầu vàng toàn cầu. Chỉ cần dòng vốn ETF đảo chiều hoặc các ngân hàng trung ương gia tăng bán ra, thị trường vàng có thể chứng kiến những biến động mạnh.

Thông tin từ Hội đồng Vàng thế giới (WGC) cho thấy, dòng vốn vào các quỹ ETF vàng toàn cầu đã hạ nhiệt đáng kể trong tháng 5, khi nhà đầu tư giảm nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn trong bối cảnh giá vàng đi ngang và tâm lý ưa thích rủi ro gia tăng. Các quỹ ETF vàng ghi nhận dòng vốn rút ròng khoảng 2 tỷ USD, trong đó, châu Âu là khu vực duy nhất tiếp tục thu hút dòng tiền.

Giá vàng SJC rớt 60 triệu đồng/lượng từ đỉnh cao, giải mã động thái của những
Nguồn: Hội đồng Vàng thế giới (WGC).

Ngược lại, tại Bắc Mỹ, các quỹ ETF vàng bị rút ròng 1,1 tỷ USD. Châu Á ghi nhận tháng đầu tiên bị rút vốn kể từ tháng 8/2025 với giá trị khoảng 1,2 tỷ USD, chủ yếu đến từ Trung Quốc. Giá vàng trong nước suy yếu, đồng Nhân dân tệ mạnh lên cùng đà khởi sắc của thị trường chứng khoán đã làm giảm sức hấp dẫn của các quỹ ETF vàng. Tại Ấn Độ, dòng vốn cũng đảo chiều rút ròng 61 triệu USD, chấm dứt chuỗi 12 tháng liên tiếp hút vốn.

Dù vậy, tính từ đầu năm đến nay, các quỹ ETF vàng vẫn hút ròng gần 17 tỷ USD, cho thấy dòng tiền chưa rời bỏ hoàn toàn thị trường vàng.

Hiện chưa có số liệu tổng thể mới nhất, nhưng sau giai đoạn chững lại, các ngân hàng trung ương đã quay lại mua vàng trong tháng 4/2026. Ba Lan dẫn đầu với 14 tấn, nâng tổng lượng mua từ đầu năm lên 45 tấn. Trung Quốc mua thêm 8 tấn, đánh dấu tháng mua ròng thứ 18 liên tiếp và mức mua cao nhất kể từ cuối năm 2024. Trong khi đó, Cộng hòa Séc kéo dài chuỗi mua vàng lên 38 tháng liên tiếp.

Ngược lại, Uzbekistan bán ròng 1 tấn trong tháng, nhưng vẫn là nước mua vàng lớn thứ hai từ đầu năm với 24 tấn. Trái ngược xu hướng chung, Nga tiếp tục bán ròng 6 tấn trong tháng 4, nâng tổng lượng bán ra từ đầu năm lên 22 tấn.

Tổ chức quốc tế hạ dự báo giá vàng, nhà đầu tư cần thận trọng

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, những yếu tố từng hỗ trợ mạnh cho giá vàng vẫn chưa hoàn toàn biến mất.

“Yếu tố tác động mạnh nhất đến thị trường vàng hiện nay vẫn là tình hình địa chính trị tại Trung Đông. Trước đó, giá vàng đã được đẩy lên rất cao do những lo ngại liên quan đến xung đột tại Iran. Tuy nhiên, khi giá vàng tăng mạnh, nhiều nhà đầu tư đã lựa chọn bán ra để chốt lời” - ông Hiếu nêu quan điểm.

Không “bỏ tất cả trứng vào một giỏ”

“Không bao giờ bỏ tất cả trứng vào một rổ. Hiện tại, giá vàng đang đi xuống và ở điểm thấp, song có thể tiếp tục xuống nữa, không có gì bảo đảm là đã ở mức đáy” - TS. Nguyễn Trí Hiếu lưu ý. Vì vậy, ông Hiếu khuyến nghị, nếu có nguồn tiền nhàn rỗi, nhà đầu tư nên phân bổ vốn vào nhiều loại tài sản khác nhau như: vàng, chứng khoán, bất động sản...

Đợt điều chỉnh hiện nay khiến nhiều nhà đầu tư mua vàng ở vùng giá cao rơi vào thua lỗ nếu bán ra. Trong khi một số đã chấp nhận cắt lỗ, nhiều người vẫn đang chịu khoản lỗ trên sổ sách.

Vị chuyên gia này khuyến nghị nhà đầu tư hiện hữu, cũng như người có ý định “bắt đáy” vàng cần hết sức thận trọng.

Về triển vọng giá vàng, nhóm nghiên cứu hàng hóa của Tập đoàn tài chính Citigroup (Mỹ) đã hạ dự báo giá vàng trong 3 tháng tới xuống còn 4.000 USD/ounce, do các yếu tố hỗ trợ nhu cầu vàng suy yếu.

Citigroup cũng lưu ý, nhu cầu mua vàng từ các ngân hàng trung ương và dòng vốn vào các quỹ ETF vàng đã chậm lại đáng kể, khiến dư địa tăng giá ngắn hạn trở nên hạn chế. Giá vàng khó có thể bứt phá nếu không xuất hiện một cú sốc mới tác động đến thị trường.

Dù vậy, WGC cho rằng, vàng đã phản ứng tích cực sau các đợt Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trong một số giai đoạn trong quá khứ. Bởi thị trường coi đây là tín hiệu lạm phát dai dẳng, rủi ro tài chính gia tăng và nhu cầu trú ẩn an toàn tăng lên. Bên cạnh đó, lực mua từ Trung Quốc, Ấn Độ và các ngân hàng trung ương được đánh giá ít nhạy cảm với lãi suất của Mỹ, tiếp tục đóng vai trò hỗ trợ thị trường, trong khi lãi suất cao kéo dài có thể gây áp lực lên các tài sản rủi ro như chứng khoán./.

Hiểu đúng vai trò của vàng trong danh mục đầu tư

Trước diễn biến khó lường của giá vàng, ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC lưu ý, điều quan trọng là nhà đầu tư cần hiểu rõ đặc tính tài chính của vàng cũng như vai trò của vàng đối với hiệu quả tổng thể của danh mục đầu tư. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng nên tìm hiểu các hình thức đầu tư vàng khác nhau và cân nhắc kỹ những ưu điểm, hạn chế của từng phương thức trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80