Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát từ đầu tháng 9 đến nửa cuối tháng 10/2025 cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại nhích tăng 10 - 30 điểm cơ bản ở các kỳ hạn ngắn, tạo nên diễn biến sôi động hơn so với tháng trước. Nhóm “big 4” quốc doanh vẫn giữ nguyên mức lãi suất ổn định. Do đó, bảng xếp hạng các ngân hàng trả lãi cao có nhiều thay đổi đáng chú ý.
aa

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9

Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp USD tăng 3,45%, điều hành tỷ giá linh hoạt cân bằng với lãi suất nhằm giữ vững giá trị VND Lãi suất huy động nhích lên sau nhiều tuần "lặng sóng"

Khảo sát của phóng viên cho thấy, từ đầu tháng 9 đến nửa cuối tháng 10/2025, mặt bằng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại có xu hướng tăng nhẹ từ 0,1 - 0,3 điểm phần trăm/năm gồm: VPBank, NCB, GPBank, BacABank..., tập trung ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng, trong khi số ngân hàng điều chỉnh giảm "nhỏ giọt" hơn.

Ngân hàng nào trả lãi cao nhất?

Theo bảng lãi suất huy động tháng 10/2025, nhóm "big 4" Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank đang giữ mặt bằng lãi suất thấp và lãi suất "bất động" nhiều tháng qua, chỉ quanh 1,6 - 2,1%/năm cho kỳ hạn 1 tháng và 4,6 - 4,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, phản ánh chính sách huy động ổn định, ít cạnh tranh bằng lãi suất.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.
Trong nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn. Tại kỳ hạn 12 tháng, VPBank vẫn dẫn đầu với 5%/năm, sau đó là Techcombank (4,65%) và MB (4,85%), trong khi ACB duy trì mức thấp nhất nhóm với 4,4%/năm.

Trong nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, ngân hàng này trả 3,6%/năm cho kỳ hạn 1 - 3 tháng, cao nhất trong nhóm, vượt trội so với mức 3,15%/năm của Techcombank hay 3,2%/năm của MB. Ở kỳ hạn 6 tháng, VPBank và Techcombank trả lãi suất mức 4,45 - 4,5%/năm, bỏ xa ACB (3,5%) và MB (4,2%).

Trong nhóm các ngân hàng còn lại, hiện các ngân hàng yếu kém chuyển giao bắt buộc vẫn duy trì trả lãi cao nhất hệ thống. Theo đó, VCBNeo tiếp tục dẫn đầu thị trường ở nhiều kỳ hạn sau khi điều chỉnh tăng lãi suất tháng qua, trở thành ngân hàng trả lãi cao nhất với mức 4,15%/năm kỳ hạn 1 tháng; 4,35% kỳ hạn 3 tháng và 5,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Ở kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng, VCBNeo cũng vượt trội với mức 4,15 - 4,35%/năm, cao hơn hẳn mặt bằng chung.

Vikki Bank duy trì sức hút ở vị trí thứ hai nhiều kỳ hạn, với mức 5,33%/năm kỳ hạn 6 tháng và 5,62%/năm kỳ hạn 12 tháng. MBV trả lãi suất 5,3%/năm kỳ hạn 6 tháng và 5,7%/năm kỳ hạn 12 tháng là một trong những mức cao trong nhóm ngân hàng thương mại.

Ở kỳ hạn 1 tháng, nhiều ngân hàng chung top ba trả lãi suất cao nhất hệ thống với mức 3,8%/năm như: MBV, BacABank, BVBank, VietBank, NCB, OCB, CIMB.

Về biến động lãi suất tháng qua, khảo sát của phóng viên cho thấy, lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng thương mại tăng nhẹ, tập trung ở kỳ hạn ngắn. Đơn cử, VPBank tăng mạnh nhất 0,3 điểm phần trăm ở cả kỳ hạn 1 và 3 tháng, lên 3,9%/năm. BacABank tăng 0,2 - 0,25%, trong khi GPBank và NCB cùng tăng 0,1%.

Ở kỳ hạn 6 tháng, cuộc đua lãi suất sôi động với VPBank, VCBNeo cùng tăng 0,3%, đạt lần lượt 4,5% và 5,6%/năm. NCB, Vikki Bank, BacABank cũng tăng nhẹ, trong khi GPBank bắt đầu giảm 0,1%.

Lãi suất huy động sẽ chịu áp lực cuối năm

Nhìn nhận về xu hướng điều chỉnh lãi suất ngân hàng tháng qua, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS), trong số các ngân hàng được theo dõi, VPBank là trường hợp nổi bật khi tăng lãi suất tiền gửi 30 điểm cơ bản đối với các kỳ hạn từ 1 - 9 tháng. Trung bình lãi suất kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng nhẹ 4 điểm cơ bản so với tháng trước lên mức 3,46%. Trong khi đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân vẫn ở mức 4,89%, giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm.

Còn lãi suất của nhóm các ngân hàng quốc doanh giữ ổn định ở mức 4,7%. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại vẫn duy trì ở mức 4,78% tháng thứ ba liên tiếp. Nhìn chung, mặt bằng lãi suất vẫn đang được duy trì ở mức thấp để để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025. Ảnh tư liệu.

Theo đánh giá của nhóm phân tích MBS, đến cuối năm, lãi suất huy động dự kiến sẽ chịu áp lực từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, đặc biệt sau thông báo của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 29/9, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 13,37% so với cuối năm 2024 và tăng 19,6% so với cùng kỳ. Theo ước tính của Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng năm nay có thể lên tới 20%, đây là mức cao nhất trong nhiều năm.

Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ các giải pháp để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất huy động, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay.

"Cùng với kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất thêm 50 điểm cơ bản trong quý IV/2025, qua đó nâng tổng mức cắt giảm trong năm nay lên 75 điểm cơ bản, sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước duy trì môi trường lãi suất thấp. Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại đến cuối năm 2025 sẽ duy trì ổn định ở mức 4,8%" - chuyên gia MBS dự báo.

Cũng theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 7/2025, tiền gửi dân cư đạt hơn 7,7 triệu tỷ đồng, tăng gần 10% so với đầu năm và là mức cao nhất trong 5 năm.

Chỉ riêng tháng 7, người dân gửi thêm hơn 54 nghìn tỷ đồng vào ngân hàng, dù lãi suất kỳ hạn 12 tháng phổ biến dưới 6%/năm. Diễn biến này cho thấy xu hướng ưu tiên kênh tiết kiệm nhờ tính ổn định, rủi ro thấp hơn so với thị trường chứng khoán hay bất động sản. Một lý do khác, dòng tiền gửi tăng dù lãi suất thấp phản ánh vòng quay tiền tệ vẫn đang vận hành tốt.

Trong khi đó, tiền gửi tổ chức kinh tế giảm tháng thứ 5 liên tiếp, còn gần 8 triệu tỷ đồng, giảm 127.500 tỷ đồng (1,6%) so với tháng trước. Doanh nghiệp đang rút bớt vốn nhàn rỗi để tái đầu tư, trả nợ hoặc mở rộng sản xuất khi kinh tế tăng trưởng. Dù vậy, tính từ đầu năm, tiền gửi khối tổ chức vẫn tăng hơn 4%, trái ngược mức giảm hơn 1% cùng kỳ năm ngoái./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

(TBTCO) - Sáng 12/8, tỷ giá trung tâm tăng 23 đồng lên 25.539 đồng, trong khi tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng vẫn chưa dứt xu hướng điều chỉnh giảm. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,02% lên 99,84 điểm, giá dầu tăng khơi lại lo ngại lạm phát, đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt, trái chiều với tín hiệu từ báo cáo việc làm yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

(TBTCO) - Sáng 11/8, tỷ giá trung tâm tăng 25 đồng, lên 25.516 đồng/USD, lần đầu vượt 25.500 đồng, kéo tỷ giá trần lên sát 26.792 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng nhẹ lên 99,8 điểm, trong khi đồng Yên tiếp tục chịu áp lực giảm giá dù Nhật Bản can thiệp kỷ lục, khi chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn là yếu tố chi phối.
Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

(TBTCO) - Sáng 10/8, tỷ giá trung tâm tăng 28 đồng, lên 25.491 đồng/USD, song giá bán USD tại ngân hàng vẫn thấp hơn trần gần 400 đồng. Trên thị trường tự do, USD giảm mạnh 170 đồng, xuống 25.800 - 25.830 VND/USD. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,13% lên 99,66 điểm. Tuần này, CPI tháng 7 của Mỹ sẽ là chất xúc tác quan trọng đối với đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80