Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9

(TBTCO) - Từ đầu tháng 8 đến nay, lãi suất huy động gần như “án binh bất động” ở hầu hết các ngân hàng, chỉ GPBank điều chỉnh nhẹ 0,1%.
aa
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8 "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ngân hàng nào trả lãi cao nhất?

Trong nhóm "big 4” quốc doanh (VietinBank, Vietcombank, BIDV, Agribank), Agribank vẫn duy trì lãi suất huy động trong kỳ hạn 1 - 6 tháng nhỉnh hơn 0,5% so với các ngân hàng khác. Cụ thể, Agribank trả lãi suất 2,1%/năm với kỳ hạn 1 tháng; 2,4%/năm với kỳ hạn 3 tháng và 3,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Với kỳ hạn dài hơn (12 - 36 tháng), lãi suất của các nhà băng không chênh nhau nhiều, dao động 4,6 - 4,8%/năm.

gân hàng lớn, nhỏ đều “án binh bất động” lãi suất ở đáy
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Với nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank nổi bật nhất, liên tục giữ vị trí dẫn đầu về mức lãi suất cao nhất trong bảng, đặc biệt ở kỳ hạn ngắn; các kỳ hạn dài có lãi suất trên 5%/năm: kỳ hạn 12 - 18 tháng là 5%/năm, kỳ hạn 24 - 36 tháng là 5,1%/năm.

MB cũng trả lãi cao ở kỳ hạn dài, với mức lãi suất 5,7%/năm cho kỳ hạn 24 - 36 tháng, vượt trội so với các đối thủ cùng nhóm.

Với các ngân hàng còn lại, có thể thấy rõ sự phân hóa: nhóm ngân hàng nhỏ vẫn trả lãi suất nhỉnh hơn mặt bằng chung để hút vốn, song thứ hạng các nhà băng trả lãi suất tiết kiệm cao gần như không thay đổi so với tháng trước.

Theo đó, ở kỳ hạn 6 tháng được người gửi tiền ưa thích, ngôi vương lãi suất thuộc về 3 ngân hàng yếu kém được chuyển giao bắt buộc về các "ông lớn", đó là MBV, Vikki Bank và VCBNeo, đồng loạt trả 5,3%/năm; đồng thời duy trì mặt bằng đỉnh ở kỳ hạn 12 - 36 tháng (5,65 - 5,9%/năm). Nhóm á quân là BacABank và NCB, lãi suất niêm yết là 5,25%/năm. Nhóm hạng ba gồm HDBank và ABBank, duy trì mức 5,2%/năm.

Nhóm ngân hàng nước ngoài, chi nhánh nước ngoài như HSBC, Shinhan... tiếp tục duy trì chính sách lãi suất cực thấp, chỉ quanh 3%/năm ở kỳ hạn 6 tháng. Đây là lợi thế của khối ngân hàng ngoại và các nhà băng có tệp khách hàng đặc thù, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất.

Ở kỳ hạn 12 tháng, MBV đứng đầu với 5,7%/năm; Vikki Bank bám sát nút, trả lãi suất 5,65%/năm; còn Saigonbank đứng top 3, trả lãi 5,6%/năm.

Lãi suất "án binh bất động"

Về chuyển động lãi suất từ đầu tháng 8 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các kỳ hạn nhìn chung giữ xu hướng ổn định, song vẫn có sự phân hóa rõ rệt giữa từng nhóm ngân hàng.

Khảo sát trên 30 nhà băng lớn trong hệ thống, hầu hết các ngân hàng "án binh bất động", không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất. Riêng GPBank tăng nhẹ 0,1% lãi suất huy động kỳ hạn 1 - 3 tháng lên lần lượt 3,55%/năm và 3,65%/năm; giảm 0,1% ở kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng, xuống mức 4,8%; 5,1% và 5,1%/năm.

Theo đó, nhóm "big 4" tiếp tục giữ vai trò “neo” mặt bằng lãi suất trong nhóm thấp nhất thị trường. Các kỳ hạn ngắn (1 - 3 tháng) ổn định trong vùng 1,6 - 2,4%/năm, trong đó, Agribank trả lãi nhỉnh hơn 0,5% so với các ngân hàng còn lại: 2,1%/năm với kỳ hạn 1 tháng; 2,4%/năm với kỳ hạn 3 tháng.

Với kỳ hạn 6 tháng được nhiều người gửi tiền chọn lựa, lãi suất dao động 2,9 - 3,5%/năm, Agribank vẫn dẫn đầu. Với kỳ hạn dài 12 - 36 tháng, lãi suất các nhà băng chênh nhau không đáng kể, quanh 4,6 - 4,8%/năm.

Mức lãi suất này cho thấy, nhóm "big 4" vẫn tận dụng lợi thế CASA (tiền gửi không kỳ hạn) dồi dào và uy tín thương hiệu để duy trì chi phí vốn thấp, không cần tham gia cuộc đua lãi suất.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn (VPBank, Techcombank, MB, ACB) cũng không có biến động. Với nhóm ngân hàng tầm trung và nhỏ, đa phần lãi suất vẫn giữ nguyên, tạo khoảng cách chênh lệch tới hơn 2% so với khối quốc doanh.

gân hàng lớn, nhỏ đều “án binh bất động” lãi suất ở đáy
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9. Ảnh tư liệu.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, trong trường hợp Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất vào tháng 9 và tiếp tục thêm một lần nữa trong tháng 12, áp lực tỷ giá sẽ giảm, qua đó mở ra dư địa để Việt Nam điều chỉnh lãi suất đi xuống. Ngược lại, nếu Fed trì hoãn việc nới lỏng, tỷ giá sẽ chịu sức ép lớn hơn, khiến khả năng giảm lãi suất trong nước bị hạn chế, nhất là khi dư địa chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện đã rất hạn hẹp.

Trong báo cáo mới phát hành, nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng ghi nhận, trong số các ngân hàng theo dõi, đều không ghi nhận điều chỉnh nào mới của lãi suất huy động.

"Đến cuối tháng 8, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân ở mức 4,89%/năm (giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm), trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%. Đáng chú ý, điều này diễn ra bất chấp tăng trưởng tín dụng tiếp tục tăng mạnh khi tính đến ngày 29/8, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 11,8% so với cuối năm 2024 và tăng 20,6% so với cùng kỳ" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

Theo MBS, việc mặt bằng lãi suất huy động duy trì ổn định, dù tăng trưởng tín dụng vẫn giữ đà, được cho là nhờ tình hình thanh khoản hệ thống vẫn khá dồi dào sau đợt bơm ròng mạnh mẽ trị giá hơn 156.900 tỷ đồng trong tháng 6 và tháng 7.

Điều này phần nào đã hỗ trợ các nhà băng duy trì mặt bằng lãi suất ở mức thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tính đến ngày 31/8 đã giảm 0,56% so với cuối năm 2024 về mức 6,38%./.

Dự báo lãi suất huy động vẫn giảm thêm 2 điểm cơ bản cuối năm 2025

Đến cuối năm, lãi suất huy động dự kiến sẽ chịu áp lực từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, đặc biệt sau thông báo của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước trong tháng 7 cũng tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ các giải pháp để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất huy động, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay. Điều này, cùng với kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2025, sẽ giúp thu hẹp chênh lệch lãi suất VND - USD, qua đó tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước duy trì môi trường lãi suất thấp.

"Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng tư nhân sẽ có dư địa giảm nhẹ 2 điểm cơ bản về mức 4,7% vào cuối năm 2025" - MBS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30