Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ đầu tháng 8 đến nay, lãi suất huy động gần như “án binh bất động” ở hầu hết các ngân hàng, chỉ GPBank điều chỉnh nhẹ 0,1%.
aa
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8 "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ngân hàng nào trả lãi cao nhất?

Trong nhóm "big 4” quốc doanh (VietinBank, Vietcombank, BIDV, Agribank), Agribank vẫn duy trì lãi suất huy động trong kỳ hạn 1 - 6 tháng nhỉnh hơn 0,5% so với các ngân hàng khác. Cụ thể, Agribank trả lãi suất 2,1%/năm với kỳ hạn 1 tháng; 2,4%/năm với kỳ hạn 3 tháng và 3,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Với kỳ hạn dài hơn (12 - 36 tháng), lãi suất của các nhà băng không chênh nhau nhiều, dao động 4,6 - 4,8%/năm.

gân hàng lớn, nhỏ đều “án binh bất động” lãi suất ở đáy
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Với nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank nổi bật nhất, liên tục giữ vị trí dẫn đầu về mức lãi suất cao nhất trong bảng, đặc biệt ở kỳ hạn ngắn; các kỳ hạn dài có lãi suất trên 5%/năm: kỳ hạn 12 - 18 tháng là 5%/năm, kỳ hạn 24 - 36 tháng là 5,1%/năm.

MB cũng trả lãi cao ở kỳ hạn dài, với mức lãi suất 5,7%/năm cho kỳ hạn 24 - 36 tháng, vượt trội so với các đối thủ cùng nhóm.

Với các ngân hàng còn lại, có thể thấy rõ sự phân hóa: nhóm ngân hàng nhỏ vẫn trả lãi suất nhỉnh hơn mặt bằng chung để hút vốn, song thứ hạng các nhà băng trả lãi suất tiết kiệm cao gần như không thay đổi so với tháng trước.

Theo đó, ở kỳ hạn 6 tháng được người gửi tiền ưa thích, ngôi vương lãi suất thuộc về 3 ngân hàng yếu kém được chuyển giao bắt buộc về các "ông lớn", đó là MBV, Vikki Bank và VCBNeo, đồng loạt trả 5,3%/năm; đồng thời duy trì mặt bằng đỉnh ở kỳ hạn 12 - 36 tháng (5,65 - 5,9%/năm). Nhóm á quân là BacABank và NCB, lãi suất niêm yết là 5,25%/năm. Nhóm hạng ba gồm HDBank và ABBank, duy trì mức 5,2%/năm.

Nhóm ngân hàng nước ngoài, chi nhánh nước ngoài như HSBC, Shinhan... tiếp tục duy trì chính sách lãi suất cực thấp, chỉ quanh 3%/năm ở kỳ hạn 6 tháng. Đây là lợi thế của khối ngân hàng ngoại và các nhà băng có tệp khách hàng đặc thù, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất.

Ở kỳ hạn 12 tháng, MBV đứng đầu với 5,7%/năm; Vikki Bank bám sát nút, trả lãi suất 5,65%/năm; còn Saigonbank đứng top 3, trả lãi 5,6%/năm.

Lãi suất "án binh bất động"

Về chuyển động lãi suất từ đầu tháng 8 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các kỳ hạn nhìn chung giữ xu hướng ổn định, song vẫn có sự phân hóa rõ rệt giữa từng nhóm ngân hàng.

Khảo sát trên 30 nhà băng lớn trong hệ thống, hầu hết các ngân hàng "án binh bất động", không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất. Riêng GPBank tăng nhẹ 0,1% lãi suất huy động kỳ hạn 1 - 3 tháng lên lần lượt 3,55%/năm và 3,65%/năm; giảm 0,1% ở kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng, xuống mức 4,8%; 5,1% và 5,1%/năm.

Theo đó, nhóm "big 4" tiếp tục giữ vai trò “neo” mặt bằng lãi suất trong nhóm thấp nhất thị trường. Các kỳ hạn ngắn (1 - 3 tháng) ổn định trong vùng 1,6 - 2,4%/năm, trong đó, Agribank trả lãi nhỉnh hơn 0,5% so với các ngân hàng còn lại: 2,1%/năm với kỳ hạn 1 tháng; 2,4%/năm với kỳ hạn 3 tháng.

Với kỳ hạn 6 tháng được nhiều người gửi tiền chọn lựa, lãi suất dao động 2,9 - 3,5%/năm, Agribank vẫn dẫn đầu. Với kỳ hạn dài 12 - 36 tháng, lãi suất các nhà băng chênh nhau không đáng kể, quanh 4,6 - 4,8%/năm.

Mức lãi suất này cho thấy, nhóm "big 4" vẫn tận dụng lợi thế CASA (tiền gửi không kỳ hạn) dồi dào và uy tín thương hiệu để duy trì chi phí vốn thấp, không cần tham gia cuộc đua lãi suất.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn (VPBank, Techcombank, MB, ACB) cũng không có biến động. Với nhóm ngân hàng tầm trung và nhỏ, đa phần lãi suất vẫn giữ nguyên, tạo khoảng cách chênh lệch tới hơn 2% so với khối quốc doanh.

gân hàng lớn, nhỏ đều “án binh bất động” lãi suất ở đáy
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9. Ảnh tư liệu.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, trong trường hợp Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất vào tháng 9 và tiếp tục thêm một lần nữa trong tháng 12, áp lực tỷ giá sẽ giảm, qua đó mở ra dư địa để Việt Nam điều chỉnh lãi suất đi xuống. Ngược lại, nếu Fed trì hoãn việc nới lỏng, tỷ giá sẽ chịu sức ép lớn hơn, khiến khả năng giảm lãi suất trong nước bị hạn chế, nhất là khi dư địa chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện đã rất hạn hẹp.

Trong báo cáo mới phát hành, nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng ghi nhận, trong số các ngân hàng theo dõi, đều không ghi nhận điều chỉnh nào mới của lãi suất huy động.

"Đến cuối tháng 8, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân ở mức 4,89%/năm (giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm), trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%. Đáng chú ý, điều này diễn ra bất chấp tăng trưởng tín dụng tiếp tục tăng mạnh khi tính đến ngày 29/8, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 11,8% so với cuối năm 2024 và tăng 20,6% so với cùng kỳ" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

Theo MBS, việc mặt bằng lãi suất huy động duy trì ổn định, dù tăng trưởng tín dụng vẫn giữ đà, được cho là nhờ tình hình thanh khoản hệ thống vẫn khá dồi dào sau đợt bơm ròng mạnh mẽ trị giá hơn 156.900 tỷ đồng trong tháng 6 và tháng 7.

Điều này phần nào đã hỗ trợ các nhà băng duy trì mặt bằng lãi suất ở mức thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tính đến ngày 31/8 đã giảm 0,56% so với cuối năm 2024 về mức 6,38%./.

Dự báo lãi suất huy động vẫn giảm thêm 2 điểm cơ bản cuối năm 2025

Đến cuối năm, lãi suất huy động dự kiến sẽ chịu áp lực từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, đặc biệt sau thông báo của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước trong tháng 7 cũng tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ các giải pháp để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất huy động, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay. Điều này, cùng với kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2025, sẽ giúp thu hẹp chênh lệch lãi suất VND - USD, qua đó tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước duy trì môi trường lãi suất thấp.

"Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng tư nhân sẽ có dư địa giảm nhẹ 2 điểm cơ bản về mức 4,7% vào cuối năm 2025" - MBS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

(TBTCO) - Thông tin từ cuộc họp triển khai công tác ngân hàng cho thấy, về huy động vốn và cho vay, có tình trạng một số ngân hàng thương mại cạnh tranh trong huy động vốn, qua đó, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ xử nghiêm hành vi vi phạm trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng các ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▼200K 16,550 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,150 ▼250K 15,350 ▼250K
Nguyên Liệu 99.9 15,100 ▼250K 15,300 ▼250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼250K 16,400 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼250K 16,350 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼250K 16,330 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Hà Nội - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đà Nẵng - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Miền Tây - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Tây Nguyên - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
NL 99.90 15,050 ▼280K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼280K
Trang sức 99.9 15,740 ▼150K 16,440 ▼150K
Trang sức 99.99 15,750 ▼150K 16,450 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▼1482K 16,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▼1482K 16,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1461K 1,655 ▲1488K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1461K 1,656 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1443K 164 ▼1491K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▼1485K 162,376 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▼1125K 123,162 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▼1020K 111,681 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▼91302K 1,002 ▼100113K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▼874K 95,772 ▼874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲53618K 68,545 ▲61628K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cập nhật: 29/04/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18343 18619 19194
CAD 18731 19009 19625
CHF 32745 33130 33770
CNY 0 3817 3909
EUR 30205 30479 31504
GBP 34776 35169 36103
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15146 15734
SGD 20090 20372 20898
THB 723 786 839
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26368
AUD 18517 18617 19542
CAD 18900 19000 20011
CHF 32989 33019 34601
CNY 3793.6 3818.6 3954.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35097 35147 36911
HKD 0 3355 0
JPY 161.55 162.05 172.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15239 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20249 20379 21108
THB 0 753.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,171 26,221 26,368
USD20 26,171 26,221 26,368
USD1 26,171 26,221 26,368
AUD 18,565 18,665 19,772
EUR 30,543 30,543 31,951
CAD 18,845 18,945 20,255
SGD 20,329 20,479 21,280
JPY 162 163.5 168.07
GBP 34,995 35,345 36,212
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/04/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80