Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ đầu tháng 8 đến nay, lãi suất huy động gần như “án binh bất động” ở hầu hết các ngân hàng, chỉ GPBank điều chỉnh nhẹ 0,1%.
aa
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8 "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ngân hàng nào trả lãi cao nhất?

Trong nhóm "big 4” quốc doanh (VietinBank, Vietcombank, BIDV, Agribank), Agribank vẫn duy trì lãi suất huy động trong kỳ hạn 1 - 6 tháng nhỉnh hơn 0,5% so với các ngân hàng khác. Cụ thể, Agribank trả lãi suất 2,1%/năm với kỳ hạn 1 tháng; 2,4%/năm với kỳ hạn 3 tháng và 3,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Với kỳ hạn dài hơn (12 - 36 tháng), lãi suất của các nhà băng không chênh nhau nhiều, dao động 4,6 - 4,8%/năm.

gân hàng lớn, nhỏ đều “án binh bất động” lãi suất ở đáy
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Với nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank nổi bật nhất, liên tục giữ vị trí dẫn đầu về mức lãi suất cao nhất trong bảng, đặc biệt ở kỳ hạn ngắn; các kỳ hạn dài có lãi suất trên 5%/năm: kỳ hạn 12 - 18 tháng là 5%/năm, kỳ hạn 24 - 36 tháng là 5,1%/năm.

MB cũng trả lãi cao ở kỳ hạn dài, với mức lãi suất 5,7%/năm cho kỳ hạn 24 - 36 tháng, vượt trội so với các đối thủ cùng nhóm.

Với các ngân hàng còn lại, có thể thấy rõ sự phân hóa: nhóm ngân hàng nhỏ vẫn trả lãi suất nhỉnh hơn mặt bằng chung để hút vốn, song thứ hạng các nhà băng trả lãi suất tiết kiệm cao gần như không thay đổi so với tháng trước.

Theo đó, ở kỳ hạn 6 tháng được người gửi tiền ưa thích, ngôi vương lãi suất thuộc về 3 ngân hàng yếu kém được chuyển giao bắt buộc về các "ông lớn", đó là MBV, Vikki Bank và VCBNeo, đồng loạt trả 5,3%/năm; đồng thời duy trì mặt bằng đỉnh ở kỳ hạn 12 - 36 tháng (5,65 - 5,9%/năm). Nhóm á quân là BacABank và NCB, lãi suất niêm yết là 5,25%/năm. Nhóm hạng ba gồm HDBank và ABBank, duy trì mức 5,2%/năm.

Nhóm ngân hàng nước ngoài, chi nhánh nước ngoài như HSBC, Shinhan... tiếp tục duy trì chính sách lãi suất cực thấp, chỉ quanh 3%/năm ở kỳ hạn 6 tháng. Đây là lợi thế của khối ngân hàng ngoại và các nhà băng có tệp khách hàng đặc thù, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất.

Ở kỳ hạn 12 tháng, MBV đứng đầu với 5,7%/năm; Vikki Bank bám sát nút, trả lãi suất 5,65%/năm; còn Saigonbank đứng top 3, trả lãi 5,6%/năm.

Lãi suất "án binh bất động"

Về chuyển động lãi suất từ đầu tháng 8 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động các kỳ hạn nhìn chung giữ xu hướng ổn định, song vẫn có sự phân hóa rõ rệt giữa từng nhóm ngân hàng.

Khảo sát trên 30 nhà băng lớn trong hệ thống, hầu hết các ngân hàng "án binh bất động", không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất. Riêng GPBank tăng nhẹ 0,1% lãi suất huy động kỳ hạn 1 - 3 tháng lên lần lượt 3,55%/năm và 3,65%/năm; giảm 0,1% ở kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng, xuống mức 4,8%; 5,1% và 5,1%/năm.

Theo đó, nhóm "big 4" tiếp tục giữ vai trò “neo” mặt bằng lãi suất trong nhóm thấp nhất thị trường. Các kỳ hạn ngắn (1 - 3 tháng) ổn định trong vùng 1,6 - 2,4%/năm, trong đó, Agribank trả lãi nhỉnh hơn 0,5% so với các ngân hàng còn lại: 2,1%/năm với kỳ hạn 1 tháng; 2,4%/năm với kỳ hạn 3 tháng.

Với kỳ hạn 6 tháng được nhiều người gửi tiền chọn lựa, lãi suất dao động 2,9 - 3,5%/năm, Agribank vẫn dẫn đầu. Với kỳ hạn dài 12 - 36 tháng, lãi suất các nhà băng chênh nhau không đáng kể, quanh 4,6 - 4,8%/năm.

Mức lãi suất này cho thấy, nhóm "big 4" vẫn tận dụng lợi thế CASA (tiền gửi không kỳ hạn) dồi dào và uy tín thương hiệu để duy trì chi phí vốn thấp, không cần tham gia cuộc đua lãi suất.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn (VPBank, Techcombank, MB, ACB) cũng không có biến động. Với nhóm ngân hàng tầm trung và nhỏ, đa phần lãi suất vẫn giữ nguyên, tạo khoảng cách chênh lệch tới hơn 2% so với khối quốc doanh.

gân hàng lớn, nhỏ đều “án binh bất động” lãi suất ở đáy
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9. Ảnh tư liệu.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, trong trường hợp Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất vào tháng 9 và tiếp tục thêm một lần nữa trong tháng 12, áp lực tỷ giá sẽ giảm, qua đó mở ra dư địa để Việt Nam điều chỉnh lãi suất đi xuống. Ngược lại, nếu Fed trì hoãn việc nới lỏng, tỷ giá sẽ chịu sức ép lớn hơn, khiến khả năng giảm lãi suất trong nước bị hạn chế, nhất là khi dư địa chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện đã rất hạn hẹp.

Trong báo cáo mới phát hành, nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng ghi nhận, trong số các ngân hàng theo dõi, đều không ghi nhận điều chỉnh nào mới của lãi suất huy động.

"Đến cuối tháng 8, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân ở mức 4,89%/năm (giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm), trong khi lãi suất của nhóm các ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%. Đáng chú ý, điều này diễn ra bất chấp tăng trưởng tín dụng tiếp tục tăng mạnh khi tính đến ngày 29/8, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 11,8% so với cuối năm 2024 và tăng 20,6% so với cùng kỳ" - nhóm phân tích của MBS đánh giá.

Theo MBS, việc mặt bằng lãi suất huy động duy trì ổn định, dù tăng trưởng tín dụng vẫn giữ đà, được cho là nhờ tình hình thanh khoản hệ thống vẫn khá dồi dào sau đợt bơm ròng mạnh mẽ trị giá hơn 156.900 tỷ đồng trong tháng 6 và tháng 7.

Điều này phần nào đã hỗ trợ các nhà băng duy trì mặt bằng lãi suất ở mức thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tính đến ngày 31/8 đã giảm 0,56% so với cuối năm 2024 về mức 6,38%./.

Dự báo lãi suất huy động vẫn giảm thêm 2 điểm cơ bản cuối năm 2025

Đến cuối năm, lãi suất huy động dự kiến sẽ chịu áp lực từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, đặc biệt sau thông báo của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước trong tháng 7 cũng tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ các giải pháp để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất huy động, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay. Điều này, cùng với kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2025, sẽ giúp thu hẹp chênh lệch lãi suất VND - USD, qua đó tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước duy trì môi trường lãi suất thấp.

"Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng tư nhân sẽ có dư địa giảm nhẹ 2 điểm cơ bản về mức 4,7% vào cuối năm 2025" - MBS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80