Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8

(TBTCO) - Hơn 1 tháng qua, lãi suất huy động dao động trong biên độ rất hẹp, song áp lực tỷ giá và thanh khoản đang âm thầm tích tụ. Giới chuyên gia nhận định, mặt bằng lãi suất có thể nhích nhẹ cuối năm, trong khi lãi vay nhiều khả năng chững lại, khó giảm thêm. Do các nhà băng ít điều chỉnh lãi suất niêm yết, nên top các ngân hàng trả lãi cao nhất tháng 8 ít thay đổi.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7 Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

Khảo sát của phóng viên cho thấy, hơn 1 tháng qua, mặt bằng lãi suất huy động cơ bản ổn định, biến động với biên độ tí hon chỉ quanh 0,1 - 0,15 điểm phần trăm/năm và chỉ xảy ra ở một số ngân hàng ít ỏi. Đơn cử, TPBank, BaoVietBank, VCBNeo, VPBank đồng loạt nhích 0,1% ở một số kỳ hạn 1 - 6 tháng; Eximbank tăng ở 12 - 24 tháng; Techcombank điều chỉnh lên 0,1% ở hầu hết kỳ hạn. Ngược lại, BaoVietBank và BacABank ghi nhận mức giảm nhẹ.

Lãi suất huy động khó né được áp lực tăng

Theo một chuyên gia tài chính - ngân hàng, nếu không có giải pháp cân bằng, xử lý dứt điểm, tỷ giá sẽ tiếp tục căng thẳng, kéo theo tác động ngược lên mặt bằng lãi suất.

Bởi tỷ giá hiện vẫn chịu nhiều áp lực chưa được giải tỏa, trong đó lớn nhất là chênh lệch lãi suất quá cao giữa thị trường 1 ở Việt Nam và Mỹ, cộng thêm nhiều sức ép vô hình khác như: lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ, áp lực nội tại. Vì vậy, theo vị chuyên gia này, ngay cả khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giảm lãi suất 2 - 3 lần trong năm nay thì áp lực tỷ giá vẫn còn. Động thái của Fed chỉ có thể tác động ngắn hạn vài phiên, trong khi tỷ giá tại Việt Nam sẽ tiếp tục chịu sức ép kéo dài.

Theo vị chuyên gia này, xét cả yếu tố thanh khoản lẫn không gian chính sách tiền tệ, từ nay đến cuối năm, lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ chịu áp lực tăng nhẹ. Trên thực tế, một số ngân hàng đã có động thái điều chỉnh, với lãi suất kỳ hạn 1 tháng có thể lên tới 4,5%, đây là mức mà trước đây phải gửi 6 tháng mới đạt, hoặc kèm thêm các khoản “thưởng” lãi suất. Với những khoản tiền lớn từ 5 - 10 tỷ đồng, có ngân hàng có thể cộng thêm tới 1%. Ban đầu, hiện tượng này mới xảy ra tại một số ngân hàng, nhưng sau đó sẽ gây áp lực tăng thực sự.

Trong khi đó, lãi suất cho vay sẽ chững lại, khó giảm thêm. Từ cuối năm nay sang đầu năm sau, mặt bằng lãi suất cho vay có thể đi ngang, thậm chí nhích nhẹ trở lại.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8
Nguồn: MBS Research.

Cũng theo nhóm phân tích từ Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính Khối Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Ngân hàng Techcombank, dự báo lãi suất huy động có thể tăng nhẹ cuối năm, nhưng vẫn ở vùng thấp.

Lãi suất kỳ hạn 6 tháng dự báo tăng 20 điểm cơ bản

"Chúng tôi duy trì dự báo rằng lãi suất kỳ hạn 6 tháng của nhóm 14 ngân hàng thương mại lớn tăng nhẹ khoảng 20 điểm cơ bản và tiếp tục duy trì ở vùng thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế" - nhóm phân tích từ Techcombank nhận định.

Nhóm phân tích cho rằng có ba yếu tố chính giúp ổn định mặt bằng lãi suất. Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai chương trình tái cơ cấu 4 ngân hàng yếu kém, đồng thời sẽ giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các ngân hàng nhận chuyển giao gồm Vietcombank, MB, HDBank và VPBank từ tháng 10, qua đó, cải thiện thanh khoản hệ thống.

Thứ hai, giải ngân đầu tư công được kỳ vọng tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới, tạo thêm nguồn lực kích thích tăng trưởng kinh tế và duy trì lãi suất ở mức hợp lý.

Thứ ba, tỷ giá USD/VND được kỳ vọng bớt áp lực hơn vào cuối năm khi Fed có thể bắt đầu cắt giảm lãi suất, giúp Ngân hàng Nhà nước có thêm dư địa để hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Cũng theo Công ty Chứng khoán MB (MBS Research), tính đến giữa tháng 8/2025, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng niêm yết trung bình ở các ngân hàng lớn đạt 4,8% và ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ là 5,1%, giảm 10 điểm cơ bản so với đầu năm.

Tuy nhiên, tăng trưởng huy động tính đến cuối tháng 7 chỉ đạt khoảng 6,9% so với đầu năm, thấp hơn đáng kể so với tín dụng, qua đó, có thể tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất trong thời gian tới.

Ngân hàng nào trả lãi cao nhất?

Quan sát mặt bằng lãi suất huy động niêm yết tháng 8/2025, có thể thấy sự phân hóa rõ nét giữa ba nhóm ngân hàng: khối quốc doanh, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn và nhóm ngân hàng quy mô nhỏ hơn.

Ở phân khúc ngân hàng thương mại nhà nước, Agribank nổi bật khi thường xuyên dẫn đầu về lãi suất, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng (3,5%/năm) và 12 tháng (4,7%/năm), cao hơn VietinBank, Vietcombank và BIDV.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Mặt bằng lãi suất huy động tháng 8/2025 tiếp tục phân hóa rõ giữa ba nhóm ngân hàng. Nhóm ngân hàng quốc doanh "đứng im" về biến động lãi suất, với Agribank dẫn đầu khối quốc doanh các kỳ hạn, VPBank giữ ngôi cao trong nhóm ngân hàng lớn, còn VCBNeo và MBV nổi bật ở khối ngân hàng nhỏ.

Ở nhóm ngân hàng thương mại lớn, MB là ngân hàng đứng đầu với kỳ hạn 24 tháng (5,7%). VPBank duy trì vị thế ở nhóm cao các kỳ hạn còn lại.

Ở nhóm các ngân hàng thương mại khác, bức tranh đa dạng và cạnh tranh gay gắt hơn, song thứ tự các nhà băng trả lãi cao gần như không biến động so với tháng trước. Theo đó, ở kỳ hạn 6 tháng được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm, MBV và VCBNeo giữ top đầu 5,3%. Đứng sau là BacABank (5,25%). VCBNeo cũng dẫn top đầu các kỳ hạn ngắn 1 - 6 tháng; còn MBV trụ vững ở các kỳ hạn dài hạn 6 - 24 tháng.

Ở chiều ngược lại, SCB vẫn ngụp lặn dưới đáy bảng, là ngân hàng có lãi suất huy động thấp nhất ở tất cả các kỳ hạn: 1,6% cho 1 tháng; 1,9% cho 3 tháng; 2,9% cho 6 tháng... VietABank, SeABank, PVCombank... cũng là các ngân hàng trả lãi suất thấp các kỳ hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 20:00
Ngân hàng