Tín dụng xanh chờ thêm lực đẩy để bứt tốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau gần một thập kỷ “gieo mầm”, tín dụng xanh tăng trưởng nhanh, bình quân đạt hơn 21%/năm, dù quy mô còn khiêm tốn. Nút thắt pháp lý đang được tháo gỡ, song khâu xác nhận và danh mục phân loại xanh vẫn chờ hoàn thiện. Khi chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cuối năm 2025 được ban hành, dòng vốn xanh sẽ có thêm lực để lan tỏa bền bỉ.
aa

Dòng vốn bền bỉ chờ "cú hích" chính sách

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cuối năm 2024 và vượt tốc độ tăng trưởng của cả năm 2024 (9,37%). Dù nhịp tăng gần đây có phần chững lại, tín dụng xanh vẫn là một trong những mảng tăng trưởng nhanh nhất hệ thống, với mức tăng bình quân hơn 21%/năm trong giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Nhìn lại chặng đường thúc đẩy tài chính xanh ngành ngân hàng, chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư vừa tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngành ngân hàng đã triển khai tín dụng xanh từ rất sớm. Gần 10 năm qua, Ngân hàng Nhà nước cùng các tổ chức tín dụng có những định hướng mang tính chiến lược và nỗ lực triển khai.

Tín dụng xanh chờ thêm lực đẩy để bứt tốc
Thúc đẩy phát triển xanh, giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững . Ảnh: An Thu

Về phía các tổ chức tín dụng, có thể thấy mức độ tham gia ngày càng đa dạng và chủ động, từ việc xây dựng các sản phẩm huy động vốn xanh, như phát hành trái phiếu xanh, tiền gửi xanh, đến việc đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phục vụ các ngành, lĩnh vực xanh. Các tổ chức tín dụng cũng tích cực hợp tác với tổ chức quốc tế triển khai nhiều chương trình, dự án xanh trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, xử lý rác thải, nông nghiệp..., qua đó đạt những kết quả tích cực.

Xét về quy mô, theo lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, từ thời điểm ban đầu chỉ có 15 tổ chức tín dụng báo cáo dư nợ xanh (năm 2017), đến nay đã có 58 tổ chức tín dụng, với dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng đều các năm và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm.

"Dù vậy, tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh trong tổng dư nợ tín dụng vẫn còn khiêm tốn, gần 5%" - bà Tùng nêu rõ.

Liên quan đến khung pháp lý, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 4/7/2025 (Quyết định 21) chính thức đưa ra bộ tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh ở cấp quốc gia. Đây là "mảnh ghép" pháp lý mà hệ thống ngân hàng chờ đợi suốt nhiều năm, giúp tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong phát triển tín dụng xanh.

Rõ tiêu chí, song vẫn chờ hướng

Theo đánh giá của bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), quá trình xây dựng và ban hành tiêu chí, danh mục phân loại xanh có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước với Bộ Nông nghiệp và Môi trường - cơ quan chủ trì thiết kế danh mục. Trong quá trình này, cơ quan chức năng cũng tham khảo rộng rãi thông lệ quốc tế, các tiêu chuẩn phân loại xanh (green taxonomy) của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA), các tiêu chuẩn của ASEAN và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.

"Quyết định 21 được thiết kế với phạm vi rất rộng, tương đối toàn diện và tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế" - bà Tâm chia sẻ.

Tín dụng xanh cần nguồn vốn dài hạn

"Nguồn vốn hỗ trợ lãi suất 2% chỉ giải quyết được gánh nặng chi phí ngắn hạn. Cần thiết lập cơ chế huy động nguồn vốn dài hạn thông qua tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước hoặc hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế. Các ngân hàng thương mại khi có nguồn vốn ổn định với kỳ hạn dài sẽ có khả năng cấp tín dụng phù hợp với chu kỳ hoàn vốn của dự án xanh. Kết hợp giữa vốn ưu đãi trong nước và vốn quốc tế tạo ra cấu trúc tài chính bền vững, giúp dòng tín dụng xanh được duy trì ổn định".

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường

Trao đổi với phóng viên, PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho biết, Quyết định 21 xác định 4 nhóm ưu tiên, qua đó định hướng việc ưu tiên đầu tư và huy động vốn cho các dự án có ý nghĩa chiến lược.

"Cách tiếp cận dựa trên phân loại xanh giúp xác định rõ ràng tiêu chí kỹ thuật, cơ chế xác nhận và hệ thống giám sát, bảo đảm dòng vốn đổ vào các dự án thực sự tạo ra tác động môi trường tích cực. Khung phân loại xanh cũng tạo ra rào chắn pháp lý chống lại hiện tượng gắn nhãn xanh sai lệch, giúp Việt Nam đồng bộ hóa tiêu chuẩn trong nước với tiêu chuẩn quốc tế về tín dụng xanh và phát triển bền vững" - ông Thọ nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, bà Phạm Thị Thanh Tùng thông tin thêm, Quyết định 21 quy định khá rõ các tiêu chí, mức độ, tiêu chuẩn giảm phát thải cho từng loại hình dự án và đặt ra yêu cầu về việc xác nhận dự án xanh thông qua 2 hình thức. Một là, xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước, với việc lồng ghép nội dung xác nhận trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường; hai là, các tổ chức độc lập đánh giá trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện chưa có hướng dẫn về việc các cơ quan này xác nhận như thế nào.

Ngoài ra, Quyết định 21 cũng quy định các dự án xanh phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, song ngành Ngân hàng vẫn đang chờ đợi danh mục này.

Khi có cơ sở dữ liệu đầy đủ, công khai và minh bạch về các doanh nghiệp, dự án được công nhận là xanh, các ngân hàng có cơ sở để nhận diện đúng, thẩm định chuẩn và cấp vốn trúng đích, cũng như lý giải rõ các trường hợp chưa đủ điều kiện cho vay.

"Nếu các dự án xanh minh bạch, rõ ràng hơn về danh mục, con số dư nợ tín dụng sẽ còn cao hơn nhiều" - bà Tùng nhận định.

Hỗ trợ lãi suất 2% minh bạch, kịp thời, đưa dòng vốn xanh đi xa

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương cùng các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước với các đơn vị vay vốn tại các ngân hàng thực hiện dự án xanh, tuần hoàn và ESG. Các khoản vay dự kiến được hỗ trợ lãi suất 2%.

"Dự thảo Nghị định được xây dựng theo hướng UBND địa phương sử dụng ngân sách địa phương kết hợp với ngân sách trung ương hỗ trợ lãi suất cho các dự án triển khai trên địa bàn. Hiện Bộ Tư pháp có báo cáo thẩm định và dự kiến Nghị định trình Chính phủ trong tuần này" - bà Tùng thông tin.

Để chính sách hỗ trợ lãi suất 2% phát huy hiệu quả, PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng, các quy định cần được phổ biến sâu rộng, thông qua các khóa đào tạo dành cho doanh nghiệp, ngân hàng và các đơn vị xác nhận độc lập. Bên cạnh đó, cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết theo từng lĩnh vực sản xuất, giúp doanh nghiệp dễ dàng nhận diện và đáp ứng tiêu chí. Đồng thời, cơ chế xác nhận nhanh gọn sẽ góp phần giảm gánh nặng thủ tục hành chính, đặc biệt với hộ kinh doanh và các dự án quy mô nhỏ.

Cùng với đó, cần đảm bảo cơ chế chi trả hỗ trợ lãi suất minh bạch và kịp thời. Khi các khoản hỗ trợ bị chậm thanh toán, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ mất động lực tham gia chương trình. Hệ thống giám sát và báo cáo tiến độ chi trả cần được số hóa để bảo đảm công khai.

"Khi cơ chế vận hành minh bạch, rủi ro được chia sẻ hợp lý và năng lực của các bên được nâng cao, dòng vốn xanh sẽ thực sự lan tỏa trong nền kinh tế, đóng góp thiết thực vào mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững của Việt Nam" - ông Thọ kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,250 15,450
Nguyên Liệu 99.9 15,200 15,400
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 07/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18573 18850 19428
CAD 18832 19110 19724
CHF 33142 33528 34174
CNY 0 3824 3915
EUR 30359 30633 31661
GBP 35056 35450 36384
HKD 0 3228 3430
JPY 162 166 172
KRW 0 16 18
NZD 0 15399 15987
SGD 20220 20503 21033
THB 733 796 849
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26368
AUD 18763 18863 19788
CAD 19018 19118 20129
CHF 33391 33421 35004
CNY 3804.4 3829.4 3964.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30545 30575 32301
GBP 35362 35412 37173
HKD 0 3355 0
JPY 165.3 165.8 176.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15512 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20386 20516 21239
THB 0 762.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80