Tín dụng xanh chờ thêm lực đẩy để bứt tốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau gần một thập kỷ “gieo mầm”, tín dụng xanh tăng trưởng nhanh, bình quân đạt hơn 21%/năm, dù quy mô còn khiêm tốn. Nút thắt pháp lý đang được tháo gỡ, song khâu xác nhận và danh mục phân loại xanh vẫn chờ hoàn thiện. Khi chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cuối năm 2025 được ban hành, dòng vốn xanh sẽ có thêm lực để lan tỏa bền bỉ.
aa

Dòng vốn bền bỉ chờ "cú hích" chính sách

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cuối năm 2024 và vượt tốc độ tăng trưởng của cả năm 2024 (9,37%). Dù nhịp tăng gần đây có phần chững lại, tín dụng xanh vẫn là một trong những mảng tăng trưởng nhanh nhất hệ thống, với mức tăng bình quân hơn 21%/năm trong giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Nhìn lại chặng đường thúc đẩy tài chính xanh ngành ngân hàng, chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư vừa tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngành ngân hàng đã triển khai tín dụng xanh từ rất sớm. Gần 10 năm qua, Ngân hàng Nhà nước cùng các tổ chức tín dụng có những định hướng mang tính chiến lược và nỗ lực triển khai.

Tín dụng xanh chờ thêm lực đẩy để bứt tốc
Thúc đẩy phát triển xanh, giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững . Ảnh: An Thu

Về phía các tổ chức tín dụng, có thể thấy mức độ tham gia ngày càng đa dạng và chủ động, từ việc xây dựng các sản phẩm huy động vốn xanh, như phát hành trái phiếu xanh, tiền gửi xanh, đến việc đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phục vụ các ngành, lĩnh vực xanh. Các tổ chức tín dụng cũng tích cực hợp tác với tổ chức quốc tế triển khai nhiều chương trình, dự án xanh trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, xử lý rác thải, nông nghiệp..., qua đó đạt những kết quả tích cực.

Xét về quy mô, theo lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, từ thời điểm ban đầu chỉ có 15 tổ chức tín dụng báo cáo dư nợ xanh (năm 2017), đến nay đã có 58 tổ chức tín dụng, với dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng đều các năm và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm.

"Dù vậy, tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh trong tổng dư nợ tín dụng vẫn còn khiêm tốn, gần 5%" - bà Tùng nêu rõ.

Liên quan đến khung pháp lý, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 4/7/2025 (Quyết định 21) chính thức đưa ra bộ tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh ở cấp quốc gia. Đây là "mảnh ghép" pháp lý mà hệ thống ngân hàng chờ đợi suốt nhiều năm, giúp tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong phát triển tín dụng xanh.

Rõ tiêu chí, song vẫn chờ hướng

Theo đánh giá của bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), quá trình xây dựng và ban hành tiêu chí, danh mục phân loại xanh có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước với Bộ Nông nghiệp và Môi trường - cơ quan chủ trì thiết kế danh mục. Trong quá trình này, cơ quan chức năng cũng tham khảo rộng rãi thông lệ quốc tế, các tiêu chuẩn phân loại xanh (green taxonomy) của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA), các tiêu chuẩn của ASEAN và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.

"Quyết định 21 được thiết kế với phạm vi rất rộng, tương đối toàn diện và tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế" - bà Tâm chia sẻ.

Tín dụng xanh cần nguồn vốn dài hạn

"Nguồn vốn hỗ trợ lãi suất 2% chỉ giải quyết được gánh nặng chi phí ngắn hạn. Cần thiết lập cơ chế huy động nguồn vốn dài hạn thông qua tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước hoặc hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế. Các ngân hàng thương mại khi có nguồn vốn ổn định với kỳ hạn dài sẽ có khả năng cấp tín dụng phù hợp với chu kỳ hoàn vốn của dự án xanh. Kết hợp giữa vốn ưu đãi trong nước và vốn quốc tế tạo ra cấu trúc tài chính bền vững, giúp dòng tín dụng xanh được duy trì ổn định".

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường

Trao đổi với phóng viên, PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho biết, Quyết định 21 xác định 4 nhóm ưu tiên, qua đó định hướng việc ưu tiên đầu tư và huy động vốn cho các dự án có ý nghĩa chiến lược.

"Cách tiếp cận dựa trên phân loại xanh giúp xác định rõ ràng tiêu chí kỹ thuật, cơ chế xác nhận và hệ thống giám sát, bảo đảm dòng vốn đổ vào các dự án thực sự tạo ra tác động môi trường tích cực. Khung phân loại xanh cũng tạo ra rào chắn pháp lý chống lại hiện tượng gắn nhãn xanh sai lệch, giúp Việt Nam đồng bộ hóa tiêu chuẩn trong nước với tiêu chuẩn quốc tế về tín dụng xanh và phát triển bền vững" - ông Thọ nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, bà Phạm Thị Thanh Tùng thông tin thêm, Quyết định 21 quy định khá rõ các tiêu chí, mức độ, tiêu chuẩn giảm phát thải cho từng loại hình dự án và đặt ra yêu cầu về việc xác nhận dự án xanh thông qua 2 hình thức. Một là, xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước, với việc lồng ghép nội dung xác nhận trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường; hai là, các tổ chức độc lập đánh giá trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện chưa có hướng dẫn về việc các cơ quan này xác nhận như thế nào.

Ngoài ra, Quyết định 21 cũng quy định các dự án xanh phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, song ngành Ngân hàng vẫn đang chờ đợi danh mục này.

Khi có cơ sở dữ liệu đầy đủ, công khai và minh bạch về các doanh nghiệp, dự án được công nhận là xanh, các ngân hàng có cơ sở để nhận diện đúng, thẩm định chuẩn và cấp vốn trúng đích, cũng như lý giải rõ các trường hợp chưa đủ điều kiện cho vay.

"Nếu các dự án xanh minh bạch, rõ ràng hơn về danh mục, con số dư nợ tín dụng sẽ còn cao hơn nhiều" - bà Tùng nhận định.

Hỗ trợ lãi suất 2% minh bạch, kịp thời, đưa dòng vốn xanh đi xa

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương cùng các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước với các đơn vị vay vốn tại các ngân hàng thực hiện dự án xanh, tuần hoàn và ESG. Các khoản vay dự kiến được hỗ trợ lãi suất 2%.

"Dự thảo Nghị định được xây dựng theo hướng UBND địa phương sử dụng ngân sách địa phương kết hợp với ngân sách trung ương hỗ trợ lãi suất cho các dự án triển khai trên địa bàn. Hiện Bộ Tư pháp có báo cáo thẩm định và dự kiến Nghị định trình Chính phủ trong tuần này" - bà Tùng thông tin.

Để chính sách hỗ trợ lãi suất 2% phát huy hiệu quả, PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng, các quy định cần được phổ biến sâu rộng, thông qua các khóa đào tạo dành cho doanh nghiệp, ngân hàng và các đơn vị xác nhận độc lập. Bên cạnh đó, cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết theo từng lĩnh vực sản xuất, giúp doanh nghiệp dễ dàng nhận diện và đáp ứng tiêu chí. Đồng thời, cơ chế xác nhận nhanh gọn sẽ góp phần giảm gánh nặng thủ tục hành chính, đặc biệt với hộ kinh doanh và các dự án quy mô nhỏ.

Cùng với đó, cần đảm bảo cơ chế chi trả hỗ trợ lãi suất minh bạch và kịp thời. Khi các khoản hỗ trợ bị chậm thanh toán, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ mất động lực tham gia chương trình. Hệ thống giám sát và báo cáo tiến độ chi trả cần được số hóa để bảo đảm công khai.

"Khi cơ chế vận hành minh bạch, rủi ro được chia sẻ hợp lý và năng lực của các bên được nâng cao, dòng vốn xanh sẽ thực sự lan tỏa trong nền kinh tế, đóng góp thiết thực vào mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững của Việt Nam" - ông Thọ kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 03/09/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 03/09/2026 02:00
Ngân hàng