Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng ngân hàng được ví như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh. Đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 21%/năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, song hành cùng dòng vốn tín dụng, cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn và phát triển đồng bộ thị trường tài chính.
aa
Bước tiến rõ nét trong huy động vốn cho phát triển bền vững Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh

Ngân hàng dẫn dắt dòng vốn xanh

Chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng ngày 15/12, ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank nhấn mạnh, nhận thức rõ trách nhiệm của một ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển "tam nông", Agribank đã sớm xác định tăng trưởng xanh góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược kinh doanh.

Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đã có sự tăng trưởng ấn tượng và ổn định. Tính đến quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355 tỷ đồng với gần 40.000 khách hàng. Cơ cấu tín dụng xanh của Agribank phản ánh rõ nét định hướng ưu tiên cho phát triển bền vững.

Ngân hàng không chỉ cung ứng vốn, mà còn đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.

"Phát triển bền vững không phải là một đích đến mà là một hành trình. Trên hành trình đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh" - đại diện Agribank khẳng định.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững”. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Làm rõ cơ cấu dư nợ tín dụng xanh của Agribank, ông Quý cho biết, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 53%, với dư nợ đạt 15.260 tỷ đồng.

Tiếp đến là lâm nghiệp bền vững với dư nợ 6.944 tỷ đồng, chiếm hơn 24%, góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ rừng và phát triển sinh kế dưới tán rừng.

Nông nghiệp xanh đạt dư nợ 5.973 tỷ đồng, chiếm hơn 21%, tập trung vào các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Agribank đã và đang triển khai quyết liệt các gói tín dụng quy mô lớn, lãi suất ưu đãi để khơi thông dòng vốn xanh. Đơn cử, với chương trình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, Agribank tiên phong dành gói vốn tối thiểu 50.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi giảm từ 0,5% - 1,5%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao.

Cùng với đó, Agribank triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp - chương trình mang tầm chiến lược quốc gia tại Đồng bằng sông Cửu Long, với cam kết thực hiện đến năm 2030 và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Tính đến ngày 30/4/2025, Agribank đã tiếp cận hàng nghìn hộ nông dân và hợp tác xã tại 12 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để triển khai chương trình.

Đồng thời, Agribank triển khai 3 chương trình tín dụng dành riêng cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân với tổng quy mô 42.000 tỷ đồng nhằm tài trợ cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực xanh và giao thông xanh.

Tín dụng xanh của Agribank đang hòa chung xu hướng dòng vốn xanh của toàn hệ thống. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025 đạt trên 21%/năm.

Định hình lại cấu trúc nguồn vốn cho tăng trưởng

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh, phát triển bền vững không thể tách rời phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế tại các tỉnh duyên hải miền Trung thường xuyên chịu tác động nặng nề của lũ lụt, bão lớn cho thấy, đầu tư vào hạ tầng đô thị có khả năng chống chịu thiên tai, cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững, với nhu cầu vốn rất lớn và không thể tách rời khỏi tổng thể chiến lược phát triển.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Theo Kinh tế trưởng ADB, trong thời gian tới, nhu cầu vốn đầu tư được dự báo gia tăng mạnh khi tăng trưởng GDP đặt ra giai đoạn 2026 - 2030 trên 10%/năm. Trong đó, đầu tư công hiện ở mức khoảng 6% GDP/năm và giai đoạn 2026 - 2030 lên 8% GDP, tương ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 50 - 70 tỷ USD trong 5 năm.

Cùng với đó, đầu tư xã hội dự kiến tăng từ 32% GDP lên 40% GDP, tương đương mức tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Theo kế hoạch 2026 - 2030, chi đầu tư dự kiến tăng 136%, trong khi chi thường xuyên tăng 28%; đáng chú ý, chi thường xuyên cũng gắn với tiêu dùng bền vững như tái sử dụng, sử dụng vật liệu có hàm lượng carbon thấp, qua đó mở rộng đáng kể không gian cho chi tiêu Chính phủ theo hướng phát triển bền vững.

Với tham vọng tăng trưởng từ năm 2026 trở đi đạt khoảng 10%/năm, bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động được đủ nguồn vốn cho phát triển.

Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB gợi ý, có thể xem xét chuyển đổi một phần dư nợ ngân hàng thành trái phiếu, nếu thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển tốt, nhất là trong bối cảnh theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, khoảng 40% dư nợ hiện nay là trung và dài hạn.

Từ kinh nghiệm các quốc gia, ông Hùng cho rằng, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đặc biệt phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp để bổ sung cho hệ thống ngân hàng, từng bước duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng giảm dần tỷ trọng, chuyển dịch sang thị trường trái phiếu, qua đó giúp giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP.

Đối với khu vực tư nhân, cần phát triển đồng bộ các thị trường tài chính trong nước, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường nợ, thị trường chứng khoán, cùng hệ sinh thái dịch vụ tài chính như ngân hàng, đầu tư, môi giới và tư vấn. Đồng thời, việc kết nối với thị trường tài chính quốc tế sẽ giúp huy động nguồn vốn quy mô lớn hơn và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ tài chính, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho mục tiêu phát triển bền vững.

Để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, đại diện Agribank đề xuất, trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, đồng thời mở cho doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khai thác, sử dụng trong quá trình đánh giá dự án; song song với đó là chuẩn hóa các quy định về đo lường, kiểm kê phát thải khí nhà kính.

Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản vay xanh, cấp bù lãi suất hoặc tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, đặc biệt cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng và nông nghiệp bền vững.

Đồng thời, xây dựng quỹ bảo lãnh xanh quốc gia nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng và có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng danh mục tín dụng xanh.

Đại diện Agribank cũng kiến nghị tổ chức các chương trình đào tạo và hỗ trợ miễn phí từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực ESG cho doanh nghiệp, bao gồm hướng dẫn lập báo cáo ESG và ứng dụng công nghệ xanh.

Cùng với đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh theo các tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng thanh khoản.

Ngoài ra, các bộ, ngành cần cùng vào cuộc, tham gia đàm phán với các đối tác quốc tế để đưa tiêu chuẩn của Việt Nam tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng các hướng dẫn thủ tục theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲50K 14,430 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲50K 14,430 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲50K 14,430 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 ▲70K 14,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 ▲70K 14,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 ▲70K 14,500 ▲120K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 ▲120K 14,410 ▲120K
Trang sức 99.99 13,820 ▲120K 14,420 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲8K 14,432 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲8K 14,433 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1268K 1,439 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1241K 1,423 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲792K 140,891 ▲792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲600K 106,886 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲78466K 96,924 ▲87286K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲488K 86,962 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲466K 83,119 ▲466K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲334K 59,495 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Cập nhật: 12/08/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17864 18138 18715
CAD 18177 18453 19073
CHF 31435 31814 32470
CNY 0 3830 3940
EUR 29445 29665 30746
GBP 34406 34798 35749
HKD 0 3191 3394
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14968 15559
SGD 19818 20100 20672
THB 703 766 820
USD (1,2) 25803 0 0
USD (5,10,20) 25843 0 0
USD (50,100) 25871 25885 26255
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,910 25,910 26,290
USD(1-2-5) 24,874 - -
USD(10-20) 24,874 - -
EUR 29,511 29,535 30,935
JPY 159.29 159.58 169.21
GBP 34,617 34,711 35,909
AUD 18,076 18,141 18,831
CAD 18,382 18,441 19,122
CHF 31,719 31,818 32,753
SGD 19,957 20,019 20,804
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,258 3,268 3,405
KRW 16.98 17.71 19.26
THB 752.02 761.31 815.11
NZD 14,961 15,100 15,549
SEK - 2,688 2,783
DKK - 3,958 4,098
NOK - 2,702 2,797
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,964.79 - 6,733.82
TWD 731.22 - 885.85
SAR - 6,832.18 7,196.76
KWD - 82,662 87,954
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,940 26,320
EUR 29,593 29,712 30,904
GBP 34,665 34,804 35,836
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,652 31,779 32,703
JPY 159.96 160.60 168.48
AUD 18,110 18,183 18,779
SGD 20,057 20,138 20,733
THB 768 771 807
CAD 18,426 18,500 19,090
NZD 15,106 15,651
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26290
AUD 18055 18155 19080
CAD 18362 18462 19476
CHF 31698 31728 33306
CNY 3804.8 3829.8 3965.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29630 29660 31386
GBP 34719 34769 36527
HKD 0 3355 0
JPY 160.08 160.58 171.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15094 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19978 20108 20832
THB 0 732.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,951 26,001 26,330
USD20 25,901 26,001 26,765
USD1 25,851 26,001 26,815
AUD 18,134 18,234 19,341
EUR 29,478 29,578 31,237
CAD 18,353 18,453 19,756
SGD 20,096 20,246 20,801
JPY 160.89 162.39 167.95
GBP 34,674 34,824 36,150
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/08/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80