Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng ngân hàng được ví như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh. Đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 21%/năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, song hành cùng dòng vốn tín dụng, cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn và phát triển đồng bộ thị trường tài chính.
aa
Bước tiến rõ nét trong huy động vốn cho phát triển bền vững Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh

Ngân hàng dẫn dắt dòng vốn xanh

Chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng ngày 15/12, ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank nhấn mạnh, nhận thức rõ trách nhiệm của một ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển "tam nông", Agribank đã sớm xác định tăng trưởng xanh góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược kinh doanh.

Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đã có sự tăng trưởng ấn tượng và ổn định. Tính đến quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355 tỷ đồng với gần 40.000 khách hàng. Cơ cấu tín dụng xanh của Agribank phản ánh rõ nét định hướng ưu tiên cho phát triển bền vững.

Ngân hàng không chỉ cung ứng vốn, mà còn đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.

"Phát triển bền vững không phải là một đích đến mà là một hành trình. Trên hành trình đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh" - đại diện Agribank khẳng định.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững”. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Làm rõ cơ cấu dư nợ tín dụng xanh của Agribank, ông Quý cho biết, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 53%, với dư nợ đạt 15.260 tỷ đồng.

Tiếp đến là lâm nghiệp bền vững với dư nợ 6.944 tỷ đồng, chiếm hơn 24%, góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ rừng và phát triển sinh kế dưới tán rừng.

Nông nghiệp xanh đạt dư nợ 5.973 tỷ đồng, chiếm hơn 21%, tập trung vào các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Agribank đã và đang triển khai quyết liệt các gói tín dụng quy mô lớn, lãi suất ưu đãi để khơi thông dòng vốn xanh. Đơn cử, với chương trình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, Agribank tiên phong dành gói vốn tối thiểu 50.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi giảm từ 0,5% - 1,5%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao.

Cùng với đó, Agribank triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp - chương trình mang tầm chiến lược quốc gia tại Đồng bằng sông Cửu Long, với cam kết thực hiện đến năm 2030 và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Tính đến ngày 30/4/2025, Agribank đã tiếp cận hàng nghìn hộ nông dân và hợp tác xã tại 12 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để triển khai chương trình.

Đồng thời, Agribank triển khai 3 chương trình tín dụng dành riêng cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân với tổng quy mô 42.000 tỷ đồng nhằm tài trợ cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực xanh và giao thông xanh.

Tín dụng xanh của Agribank đang hòa chung xu hướng dòng vốn xanh của toàn hệ thống. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025 đạt trên 21%/năm.

Định hình lại cấu trúc nguồn vốn cho tăng trưởng

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh, phát triển bền vững không thể tách rời phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế tại các tỉnh duyên hải miền Trung thường xuyên chịu tác động nặng nề của lũ lụt, bão lớn cho thấy, đầu tư vào hạ tầng đô thị có khả năng chống chịu thiên tai, cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững, với nhu cầu vốn rất lớn và không thể tách rời khỏi tổng thể chiến lược phát triển.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Theo Kinh tế trưởng ADB, trong thời gian tới, nhu cầu vốn đầu tư được dự báo gia tăng mạnh khi tăng trưởng GDP đặt ra giai đoạn 2026 - 2030 trên 10%/năm. Trong đó, đầu tư công hiện ở mức khoảng 6% GDP/năm và giai đoạn 2026 - 2030 lên 8% GDP, tương ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 50 - 70 tỷ USD trong 5 năm.

Cùng với đó, đầu tư xã hội dự kiến tăng từ 32% GDP lên 40% GDP, tương đương mức tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Theo kế hoạch 2026 - 2030, chi đầu tư dự kiến tăng 136%, trong khi chi thường xuyên tăng 28%; đáng chú ý, chi thường xuyên cũng gắn với tiêu dùng bền vững như tái sử dụng, sử dụng vật liệu có hàm lượng carbon thấp, qua đó mở rộng đáng kể không gian cho chi tiêu Chính phủ theo hướng phát triển bền vững.

Với tham vọng tăng trưởng từ năm 2026 trở đi đạt khoảng 10%/năm, bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động được đủ nguồn vốn cho phát triển.

Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB gợi ý, có thể xem xét chuyển đổi một phần dư nợ ngân hàng thành trái phiếu, nếu thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển tốt, nhất là trong bối cảnh theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, khoảng 40% dư nợ hiện nay là trung và dài hạn.

Từ kinh nghiệm các quốc gia, ông Hùng cho rằng, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đặc biệt phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp để bổ sung cho hệ thống ngân hàng, từng bước duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng giảm dần tỷ trọng, chuyển dịch sang thị trường trái phiếu, qua đó giúp giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP.

Đối với khu vực tư nhân, cần phát triển đồng bộ các thị trường tài chính trong nước, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường nợ, thị trường chứng khoán, cùng hệ sinh thái dịch vụ tài chính như ngân hàng, đầu tư, môi giới và tư vấn. Đồng thời, việc kết nối với thị trường tài chính quốc tế sẽ giúp huy động nguồn vốn quy mô lớn hơn và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ tài chính, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho mục tiêu phát triển bền vững.

Để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, đại diện Agribank đề xuất, trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, đồng thời mở cho doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khai thác, sử dụng trong quá trình đánh giá dự án; song song với đó là chuẩn hóa các quy định về đo lường, kiểm kê phát thải khí nhà kính.

Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản vay xanh, cấp bù lãi suất hoặc tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, đặc biệt cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng và nông nghiệp bền vững.

Đồng thời, xây dựng quỹ bảo lãnh xanh quốc gia nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng và có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng danh mục tín dụng xanh.

Đại diện Agribank cũng kiến nghị tổ chức các chương trình đào tạo và hỗ trợ miễn phí từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực ESG cho doanh nghiệp, bao gồm hướng dẫn lập báo cáo ESG và ứng dụng công nghệ xanh.

Cùng với đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh theo các tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng thanh khoản.

Ngoài ra, các bộ, ngành cần cùng vào cuộc, tham gia đàm phán với các đối tác quốc tế để đưa tiêu chuẩn của Việt Nam tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng các hướng dẫn thủ tục theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80