Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng ngân hàng được ví như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh. Đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 21%/năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, song hành cùng dòng vốn tín dụng, cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn và phát triển đồng bộ thị trường tài chính.
aa
Bước tiến rõ nét trong huy động vốn cho phát triển bền vững Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh

Ngân hàng dẫn dắt dòng vốn xanh

Chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng ngày 15/12, ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank nhấn mạnh, nhận thức rõ trách nhiệm của một ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển "tam nông", Agribank đã sớm xác định tăng trưởng xanh góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược kinh doanh.

Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đã có sự tăng trưởng ấn tượng và ổn định. Tính đến quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355 tỷ đồng với gần 40.000 khách hàng. Cơ cấu tín dụng xanh của Agribank phản ánh rõ nét định hướng ưu tiên cho phát triển bền vững.

Ngân hàng không chỉ cung ứng vốn, mà còn đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.

"Phát triển bền vững không phải là một đích đến mà là một hành trình. Trên hành trình đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh" - đại diện Agribank khẳng định.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững”. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Làm rõ cơ cấu dư nợ tín dụng xanh của Agribank, ông Quý cho biết, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 53%, với dư nợ đạt 15.260 tỷ đồng.

Tiếp đến là lâm nghiệp bền vững với dư nợ 6.944 tỷ đồng, chiếm hơn 24%, góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ rừng và phát triển sinh kế dưới tán rừng.

Nông nghiệp xanh đạt dư nợ 5.973 tỷ đồng, chiếm hơn 21%, tập trung vào các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Agribank đã và đang triển khai quyết liệt các gói tín dụng quy mô lớn, lãi suất ưu đãi để khơi thông dòng vốn xanh. Đơn cử, với chương trình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, Agribank tiên phong dành gói vốn tối thiểu 50.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi giảm từ 0,5% - 1,5%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao.

Cùng với đó, Agribank triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp - chương trình mang tầm chiến lược quốc gia tại Đồng bằng sông Cửu Long, với cam kết thực hiện đến năm 2030 và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Tính đến ngày 30/4/2025, Agribank đã tiếp cận hàng nghìn hộ nông dân và hợp tác xã tại 12 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để triển khai chương trình.

Đồng thời, Agribank triển khai 3 chương trình tín dụng dành riêng cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân với tổng quy mô 42.000 tỷ đồng nhằm tài trợ cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực xanh và giao thông xanh.

Tín dụng xanh của Agribank đang hòa chung xu hướng dòng vốn xanh của toàn hệ thống. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025 đạt trên 21%/năm.

Định hình lại cấu trúc nguồn vốn cho tăng trưởng

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh, phát triển bền vững không thể tách rời phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế tại các tỉnh duyên hải miền Trung thường xuyên chịu tác động nặng nề của lũ lụt, bão lớn cho thấy, đầu tư vào hạ tầng đô thị có khả năng chống chịu thiên tai, cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững, với nhu cầu vốn rất lớn và không thể tách rời khỏi tổng thể chiến lược phát triển.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Theo Kinh tế trưởng ADB, trong thời gian tới, nhu cầu vốn đầu tư được dự báo gia tăng mạnh khi tăng trưởng GDP đặt ra giai đoạn 2026 - 2030 trên 10%/năm. Trong đó, đầu tư công hiện ở mức khoảng 6% GDP/năm và giai đoạn 2026 - 2030 lên 8% GDP, tương ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 50 - 70 tỷ USD trong 5 năm.

Cùng với đó, đầu tư xã hội dự kiến tăng từ 32% GDP lên 40% GDP, tương đương mức tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Theo kế hoạch 2026 - 2030, chi đầu tư dự kiến tăng 136%, trong khi chi thường xuyên tăng 28%; đáng chú ý, chi thường xuyên cũng gắn với tiêu dùng bền vững như tái sử dụng, sử dụng vật liệu có hàm lượng carbon thấp, qua đó mở rộng đáng kể không gian cho chi tiêu Chính phủ theo hướng phát triển bền vững.

Với tham vọng tăng trưởng từ năm 2026 trở đi đạt khoảng 10%/năm, bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động được đủ nguồn vốn cho phát triển.

Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB gợi ý, có thể xem xét chuyển đổi một phần dư nợ ngân hàng thành trái phiếu, nếu thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển tốt, nhất là trong bối cảnh theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, khoảng 40% dư nợ hiện nay là trung và dài hạn.

Từ kinh nghiệm các quốc gia, ông Hùng cho rằng, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đặc biệt phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp để bổ sung cho hệ thống ngân hàng, từng bước duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng giảm dần tỷ trọng, chuyển dịch sang thị trường trái phiếu, qua đó giúp giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP.

Đối với khu vực tư nhân, cần phát triển đồng bộ các thị trường tài chính trong nước, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường nợ, thị trường chứng khoán, cùng hệ sinh thái dịch vụ tài chính như ngân hàng, đầu tư, môi giới và tư vấn. Đồng thời, việc kết nối với thị trường tài chính quốc tế sẽ giúp huy động nguồn vốn quy mô lớn hơn và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ tài chính, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho mục tiêu phát triển bền vững.

Để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, đại diện Agribank đề xuất, trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, đồng thời mở cho doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khai thác, sử dụng trong quá trình đánh giá dự án; song song với đó là chuẩn hóa các quy định về đo lường, kiểm kê phát thải khí nhà kính.

Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản vay xanh, cấp bù lãi suất hoặc tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, đặc biệt cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng và nông nghiệp bền vững.

Đồng thời, xây dựng quỹ bảo lãnh xanh quốc gia nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng và có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng danh mục tín dụng xanh.

Đại diện Agribank cũng kiến nghị tổ chức các chương trình đào tạo và hỗ trợ miễn phí từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực ESG cho doanh nghiệp, bao gồm hướng dẫn lập báo cáo ESG và ứng dụng công nghệ xanh.

Cùng với đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh theo các tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng thanh khoản.

Ngoài ra, các bộ, ngành cần cùng vào cuộc, tham gia đàm phán với các đối tác quốc tế để đưa tiêu chuẩn của Việt Nam tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng các hướng dẫn thủ tục theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17894 18168 18745
CAD 18128 18403 19020
CHF 31649 32029 32673
CNY 0 3849 3942
EUR 29363 29583 30664
GBP 34251 34642 35580
HKD 0 3226 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14941 15529
SGD 19863 20145 20716
THB 699 762 816
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26135 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,509 29,533 30,942
JPY 156.57 156.85 166.32
GBP 34,494 34,587 35,780
AUD 18,099 18,164 18,847
CAD 18,321 18,380 19,055
CHF 31,904 32,003 32,952
SGD 19,979 20,041 20,834
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.51 17.22 18.73
THB 747.49 756.72 809.6
NZD 14,933 15,072 15,517
SEK - 2,674 2,768
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,695 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.48 - 6,798.11
TWD 734.81 - 890.08
SAR - 6,893.16 7,259.71
KWD - 83,217 88,534
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26144 26144 26504
AUD 18079 18179 19105
CAD 18310 18410 19426
CHF 31899 31929 33511
CNY 3830.3 3855.3 3990.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34587 34637 36395
HKD 0 3355 0
JPY 157.45 157.95 168.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15060 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20025 20155 20878
THB 0 728.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,510
USD20 26,144 26,194 26,510
USD1 26,144 26,194 26,510
AUD 18,125 18,225 19,332
EUR 29,356 29,456 31,112
CAD 18,269 18,369 19,675
SGD 20,103 20,253 20,809
JPY 157.99 159.49 165.05
GBP 34,511 34,661 35,717
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80