Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng ngân hàng được ví như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh. Đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 21%/năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, song hành cùng dòng vốn tín dụng, cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn và phát triển đồng bộ thị trường tài chính.
aa
Bước tiến rõ nét trong huy động vốn cho phát triển bền vững Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh

Ngân hàng dẫn dắt dòng vốn xanh

Chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng ngày 15/12, ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank nhấn mạnh, nhận thức rõ trách nhiệm của một ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển "tam nông", Agribank đã sớm xác định tăng trưởng xanh góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược kinh doanh.

Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đã có sự tăng trưởng ấn tượng và ổn định. Tính đến quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355 tỷ đồng với gần 40.000 khách hàng. Cơ cấu tín dụng xanh của Agribank phản ánh rõ nét định hướng ưu tiên cho phát triển bền vững.

Ngân hàng không chỉ cung ứng vốn, mà còn đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.

"Phát triển bền vững không phải là một đích đến mà là một hành trình. Trên hành trình đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh" - đại diện Agribank khẳng định.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững”. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Làm rõ cơ cấu dư nợ tín dụng xanh của Agribank, ông Quý cho biết, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 53%, với dư nợ đạt 15.260 tỷ đồng.

Tiếp đến là lâm nghiệp bền vững với dư nợ 6.944 tỷ đồng, chiếm hơn 24%, góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ rừng và phát triển sinh kế dưới tán rừng.

Nông nghiệp xanh đạt dư nợ 5.973 tỷ đồng, chiếm hơn 21%, tập trung vào các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Agribank đã và đang triển khai quyết liệt các gói tín dụng quy mô lớn, lãi suất ưu đãi để khơi thông dòng vốn xanh. Đơn cử, với chương trình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, Agribank tiên phong dành gói vốn tối thiểu 50.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi giảm từ 0,5% - 1,5%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao.

Cùng với đó, Agribank triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp - chương trình mang tầm chiến lược quốc gia tại Đồng bằng sông Cửu Long, với cam kết thực hiện đến năm 2030 và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Tính đến ngày 30/4/2025, Agribank đã tiếp cận hàng nghìn hộ nông dân và hợp tác xã tại 12 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để triển khai chương trình.

Đồng thời, Agribank triển khai 3 chương trình tín dụng dành riêng cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân với tổng quy mô 42.000 tỷ đồng nhằm tài trợ cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực xanh và giao thông xanh.

Tín dụng xanh của Agribank đang hòa chung xu hướng dòng vốn xanh của toàn hệ thống. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025 đạt trên 21%/năm.

Định hình lại cấu trúc nguồn vốn cho tăng trưởng

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh, phát triển bền vững không thể tách rời phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế tại các tỉnh duyên hải miền Trung thường xuyên chịu tác động nặng nề của lũ lụt, bão lớn cho thấy, đầu tư vào hạ tầng đô thị có khả năng chống chịu thiên tai, cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững, với nhu cầu vốn rất lớn và không thể tách rời khỏi tổng thể chiến lược phát triển.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Theo Kinh tế trưởng ADB, trong thời gian tới, nhu cầu vốn đầu tư được dự báo gia tăng mạnh khi tăng trưởng GDP đặt ra giai đoạn 2026 - 2030 trên 10%/năm. Trong đó, đầu tư công hiện ở mức khoảng 6% GDP/năm và giai đoạn 2026 - 2030 lên 8% GDP, tương ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 50 - 70 tỷ USD trong 5 năm.

Cùng với đó, đầu tư xã hội dự kiến tăng từ 32% GDP lên 40% GDP, tương đương mức tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Theo kế hoạch 2026 - 2030, chi đầu tư dự kiến tăng 136%, trong khi chi thường xuyên tăng 28%; đáng chú ý, chi thường xuyên cũng gắn với tiêu dùng bền vững như tái sử dụng, sử dụng vật liệu có hàm lượng carbon thấp, qua đó mở rộng đáng kể không gian cho chi tiêu Chính phủ theo hướng phát triển bền vững.

Với tham vọng tăng trưởng từ năm 2026 trở đi đạt khoảng 10%/năm, bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động được đủ nguồn vốn cho phát triển.

Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB gợi ý, có thể xem xét chuyển đổi một phần dư nợ ngân hàng thành trái phiếu, nếu thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển tốt, nhất là trong bối cảnh theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, khoảng 40% dư nợ hiện nay là trung và dài hạn.

Từ kinh nghiệm các quốc gia, ông Hùng cho rằng, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đặc biệt phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp để bổ sung cho hệ thống ngân hàng, từng bước duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng giảm dần tỷ trọng, chuyển dịch sang thị trường trái phiếu, qua đó giúp giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP.

Đối với khu vực tư nhân, cần phát triển đồng bộ các thị trường tài chính trong nước, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường nợ, thị trường chứng khoán, cùng hệ sinh thái dịch vụ tài chính như ngân hàng, đầu tư, môi giới và tư vấn. Đồng thời, việc kết nối với thị trường tài chính quốc tế sẽ giúp huy động nguồn vốn quy mô lớn hơn và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ tài chính, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho mục tiêu phát triển bền vững.

Để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, đại diện Agribank đề xuất, trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, đồng thời mở cho doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khai thác, sử dụng trong quá trình đánh giá dự án; song song với đó là chuẩn hóa các quy định về đo lường, kiểm kê phát thải khí nhà kính.

Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản vay xanh, cấp bù lãi suất hoặc tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, đặc biệt cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng và nông nghiệp bền vững.

Đồng thời, xây dựng quỹ bảo lãnh xanh quốc gia nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng và có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng danh mục tín dụng xanh.

Đại diện Agribank cũng kiến nghị tổ chức các chương trình đào tạo và hỗ trợ miễn phí từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực ESG cho doanh nghiệp, bao gồm hướng dẫn lập báo cáo ESG và ứng dụng công nghệ xanh.

Cùng với đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh theo các tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng thanh khoản.

Ngoài ra, các bộ, ngành cần cùng vào cuộc, tham gia đàm phán với các đối tác quốc tế để đưa tiêu chuẩn của Việt Nam tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng các hướng dẫn thủ tục theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80