Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

(TBTCO) - Tín dụng ngân hàng được ví như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh. Đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 21%/năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, song hành cùng dòng vốn tín dụng, cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn và phát triển đồng bộ thị trường tài chính.
aa
Bước tiến rõ nét trong huy động vốn cho phát triển bền vững Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh

Ngân hàng dẫn dắt dòng vốn xanh

Chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng ngày 15/12, ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank nhấn mạnh, nhận thức rõ trách nhiệm của một ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển "tam nông", Agribank đã sớm xác định tăng trưởng xanh góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược kinh doanh.

Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đã có sự tăng trưởng ấn tượng và ổn định. Tính đến quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355 tỷ đồng với gần 40.000 khách hàng. Cơ cấu tín dụng xanh của Agribank phản ánh rõ nét định hướng ưu tiên cho phát triển bền vững.

Ngân hàng không chỉ cung ứng vốn, mà còn đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.

"Phát triển bền vững không phải là một đích đến mà là một hành trình. Trên hành trình đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò như “mạch máu” nuôi dưỡng nền kinh tế xanh" - đại diện Agribank khẳng định.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank chia sẻ tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững”. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Làm rõ cơ cấu dư nợ tín dụng xanh của Agribank, ông Quý cho biết, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 53%, với dư nợ đạt 15.260 tỷ đồng.

Tiếp đến là lâm nghiệp bền vững với dư nợ 6.944 tỷ đồng, chiếm hơn 24%, góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ rừng và phát triển sinh kế dưới tán rừng.

Nông nghiệp xanh đạt dư nợ 5.973 tỷ đồng, chiếm hơn 21%, tập trung vào các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Agribank đã và đang triển khai quyết liệt các gói tín dụng quy mô lớn, lãi suất ưu đãi để khơi thông dòng vốn xanh. Đơn cử, với chương trình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, Agribank tiên phong dành gói vốn tối thiểu 50.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi giảm từ 0,5% - 1,5%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao.

Cùng với đó, Agribank triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp - chương trình mang tầm chiến lược quốc gia tại Đồng bằng sông Cửu Long, với cam kết thực hiện đến năm 2030 và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Tính đến ngày 30/4/2025, Agribank đã tiếp cận hàng nghìn hộ nông dân và hợp tác xã tại 12 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để triển khai chương trình.

Đồng thời, Agribank triển khai 3 chương trình tín dụng dành riêng cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân với tổng quy mô 42.000 tỷ đồng nhằm tài trợ cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực xanh và giao thông xanh.

Tín dụng xanh của Agribank đang hòa chung xu hướng dòng vốn xanh của toàn hệ thống. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025 đạt trên 21%/năm.

Định hình lại cấu trúc nguồn vốn cho tăng trưởng

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh, phát triển bền vững không thể tách rời phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế tại các tỉnh duyên hải miền Trung thường xuyên chịu tác động nặng nề của lũ lụt, bão lớn cho thấy, đầu tư vào hạ tầng đô thị có khả năng chống chịu thiên tai, cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững, với nhu cầu vốn rất lớn và không thể tách rời khỏi tổng thể chiến lược phát triển.

Mở rộng “đường dẫn” vốn cho tăng trưởng xanh, phát triển bền vững
Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong đa dạng hóa nguồn vốn cho mục tiêu phát triển bền vững. Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư.

Theo Kinh tế trưởng ADB, trong thời gian tới, nhu cầu vốn đầu tư được dự báo gia tăng mạnh khi tăng trưởng GDP đặt ra giai đoạn 2026 - 2030 trên 10%/năm. Trong đó, đầu tư công hiện ở mức khoảng 6% GDP/năm và giai đoạn 2026 - 2030 lên 8% GDP, tương ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 50 - 70 tỷ USD trong 5 năm.

Cùng với đó, đầu tư xã hội dự kiến tăng từ 32% GDP lên 40% GDP, tương đương mức tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Theo kế hoạch 2026 - 2030, chi đầu tư dự kiến tăng 136%, trong khi chi thường xuyên tăng 28%; đáng chú ý, chi thường xuyên cũng gắn với tiêu dùng bền vững như tái sử dụng, sử dụng vật liệu có hàm lượng carbon thấp, qua đó mở rộng đáng kể không gian cho chi tiêu Chính phủ theo hướng phát triển bền vững.

Với tham vọng tăng trưởng từ năm 2026 trở đi đạt khoảng 10%/năm, bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động được đủ nguồn vốn cho phát triển.

Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB gợi ý, có thể xem xét chuyển đổi một phần dư nợ ngân hàng thành trái phiếu, nếu thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển tốt, nhất là trong bối cảnh theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, khoảng 40% dư nợ hiện nay là trung và dài hạn.

Từ kinh nghiệm các quốc gia, ông Hùng cho rằng, cần đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đặc biệt phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp để bổ sung cho hệ thống ngân hàng, từng bước duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng giảm dần tỷ trọng, chuyển dịch sang thị trường trái phiếu, qua đó giúp giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP.

Đối với khu vực tư nhân, cần phát triển đồng bộ các thị trường tài chính trong nước, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường nợ, thị trường chứng khoán, cùng hệ sinh thái dịch vụ tài chính như ngân hàng, đầu tư, môi giới và tư vấn. Đồng thời, việc kết nối với thị trường tài chính quốc tế sẽ giúp huy động nguồn vốn quy mô lớn hơn và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ tài chính, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho mục tiêu phát triển bền vững.

Để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, đại diện Agribank đề xuất, trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, đồng thời mở cho doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khai thác, sử dụng trong quá trình đánh giá dự án; song song với đó là chuẩn hóa các quy định về đo lường, kiểm kê phát thải khí nhà kính.

Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản vay xanh, cấp bù lãi suất hoặc tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, đặc biệt cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng và nông nghiệp bền vững.

Đồng thời, xây dựng quỹ bảo lãnh xanh quốc gia nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng và có cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng danh mục tín dụng xanh.

Đại diện Agribank cũng kiến nghị tổ chức các chương trình đào tạo và hỗ trợ miễn phí từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực ESG cho doanh nghiệp, bao gồm hướng dẫn lập báo cáo ESG và ứng dụng công nghệ xanh.

Cùng với đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý cho trái phiếu xanh theo các tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng thanh khoản.

Ngoài ra, các bộ, ngành cần cùng vào cuộc, tham gia đàm phán với các đối tác quốc tế để đưa tiêu chuẩn của Việt Nam tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng các hướng dẫn thủ tục theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

(TBTCO) - Tập đoàn Tài chính Sunlife (Sunlife) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu toàn cầu mới, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tổ chức, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng toàn diện và sự gắn kết mạnh mẽ hơn của các hoạt động kinh doanh của Sunlife trên toàn cầu.
ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 16/10 thông tin, ABD đã bổ nhiệm ông Scott Roberts làm Giám đốc Quốc gia mới của ADB tại Việt Nam. Ông chính thức nhậm chức tại Hà Nội từ hôm nay.
Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng 16/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.637 đồng, USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY nhích 0,05% lên 102,03 điểm sau phiên giảm trước đó. Dữ liệu CPI và PPI Mỹ cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm tín hiệu về chính sách lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 16/10: Giá vàng thế giới tăng 65 USD/ounce, vàng trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 16/10: Giá vàng thế giới tăng 65 USD/ounce, vàng trong nước ít biến động

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng khoảng 65 USD/ounce, lên quanh 4.170 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu giữ giá, một số nơi điều chỉnh giảm.
Ban hành quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm

Ban hành quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 2940/QĐ-BTC ngày 14/10/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm. Theo đó, Cục được tổ chức thành 6 phòng và 1 đơn vị sự nghiệp, trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực này trên phạm vi cả nước.
VietinBank khẳng định năng lực chuyển đổi số sau ba năm triển khai X01

VietinBank khẳng định năng lực chuyển đổi số sau ba năm triển khai X01

(TBTCO) - Được vinh danh là “Ngân hàng Chuyển đổi số tiêu biểu” tại Vietnam Outstanding Banking Awards 2026 và “Doanh nghiệp chuyển đổi số xuất sắc” tại Vietnam Digital Awards 2026, VietinBank ghi dấu hành trình ba năm chuyển đổi số toàn diện, từ nâng tầm trải nghiệm khách hàng đến làm chủ năng lực chuyển đổi trên toàn hệ thống.
Tập đoàn Bảo Việt ra mắt thông điệp “Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt”

Tập đoàn Bảo Việt ra mắt thông điệp “Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt”

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt chính thức ra mắt thông điệp “Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt”. Kế thừa những giá trị được vun đắp qua hơn 60 năm phát triển, thông điệp này khẳng định cam kết lấy con người làm trung tâm, phát huy sức mạnh hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm và đồng hành cùng tương lai thịnh vượng, bền vững của đất nước.
MIC được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026 với bộ giải pháp bảo hiểm số

MIC được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026 với bộ giải pháp bảo hiểm số

(TBTCO) - Ngày 14/10/2026, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026, ở hạng mục “Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc” với bộ giải pháp App MIC và App MIC Pro. Giải thưởng ghi nhận những nỗ lực của MIC trong chiến lược đưa công nghệ trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi, nâng cao trải nghiệm khách hàng và mở rộng hệ sinh thái bảo hiểm toàn diện.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 142,800
Hà Nội - PNJ 139,800 142,800
Đà Nẵng - PNJ 139,800 142,800
Miền Tây - PNJ 139,800 142,800
Tây Nguyên - PNJ 139,800 142,800
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 142,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,090 ▲60K 14,390 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,090 ▲60K 14,390 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,090 ▲60K 14,390 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,409 ▲6K 14,392 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,409 ▲6K 14,393 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,404 ▲6K 1,434 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,404 ▲6K 1,435 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,379 ▲6K 1,424 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,399 ▼119997K 14,099 ▼126297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,161 ▲450K 106,961 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,192 ▲408K 96,992 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,223 ▲366K 87,023 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,378 ▲350K 83,178 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,737 ▲250K 59,537 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 ▲6K 1,439 ▲6K
Cập nhật: 16/10/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17471 17743 18317
CAD 17735 18009 18621
CHF 30722 31098 31741
CNY 0 3827 3922
EUR 28469 28686 29762
GBP 33664 34052 34984
HKD 0 3167 3368
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14340 14924
SGD 19680 19961 20528
THB 689 753 806
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26059
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,650 25,680 26,060
EUR 28,405 28,548 29,772
GBP 33,682 33,851 34,883
HKD 3,223 3,242 3,359
CHF 30,693 30,847 31,794
JPY 158.72 160.32 168.30
AUD 17,531 17,655 18,249
SGD 19,724 19,903 20,496
THB 740 755 793
CAD 17,876 17,966 18,564
NZD 14,310 14,865
KRW 18.54 20.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17550 17650 18572
CAD 17870 17970 18986
CHF 30847 30877 32451
CNY 3805.2 3830.2 3965.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28553 28583 30308
GBP 33828 33878 35641
HKD 0 3315 0
JPY 160.17 160.67 171.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19785 19915 20638
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,577 25,697 25,990
USD20 25,547 25,697 25,990
USD1 25,527 25,697 25,990
AUD 17,654 17,754 18,862
EUR 28,409 28,509 30,170
CAD 17,844 17,944 19,253
SGD 19,885 20,035 20,594
JPY 160.83 162.33 167.87
GBP 33,795 33,945 35,012
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/10/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30