“Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Áp lực vốn cuối năm đang “thổi bùng” cuộc đua lãi suất huy động, khi có tới 29 ngân hàng tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng từ đầu quý IV/2025 và “đỏ mắt” không thấy nhà băng nào giảm; liên ngân hàng leo lên mức cao nhất 3 năm. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã kích hoạt công cụ can thiệp mới.
aa

Áp lực vốn cuối năm "thổi bùng" cuộc đua lãi suất

Khảo sát bảng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của gần 50 ngân hàng đến ngày 12/12 cho thấy, mặt bằng lãi suất đã tăng mạnh so với đầu quý IV/2025, với biên độ điều chỉnh khá rộng, lên đến 1,5 điểm phần trăm, có 29 nhà băng tăng lãi suất, đỏ mắt không thấy ngân hàng nào giảm

Theo đó, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và vừa dẫn đầu mức tăng, nổi bật nhất là PGBank với mức điều chỉnh tới 1,5 điểm phần trăm, tiếp theo là PVcomBank (1,3 điểm phần trăm), BacABank (1,25 điểm phần trăm), VikkiBank (1,1 điểm phần trăm) và HongLeong (1 điểm phần trăm). Trong nhóm này, ngân hàng tư nhân lớn như VPBank cũng điều chỉnh tăng mạnh, thêm 1 điểm phần trăm, phản ánh nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn trong bối cảnh áp lực thanh khoản gia tăng vào thời điểm cuối năm.

“Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt
Mặt bằng lãi suất hiện đã tăng mạnh so với đầu quý IV/2025. Ảnh: An Thu

Nhóm các ngân hàng như: Techcombank, VCBNeo, OCB, CIMB... cũng điều chỉnh tăng từ 0,6 - 0,9 điểm phần trăm, nhằm đáp ứng nguồn vốn cho tín dụng mùa cao điểm quý IV.

Điểm danh các ngân hàng đưa lãi suất niêm yết tại quầy 6 tháng lên trên 6%/năm có thể kể đến: PGBank (6,5%/năm), BacABank (6,5%/năm), VikkiBank (6,4%/năm), VCBNeo (6,2%/năm) và NCB (6,1%/năm) đang chịu áp lực huy động vốn lớn hơn mặt bằng chung, buộc phải nâng biên độ điều chỉnh mạnh hơn.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 6 tháng đang trong xu hướng tăng đồng loạt, với 29 nhà băng nâng lãi suất trong kỳ, trong khi "đỏ mắt" không thấy ngân hàng nào hạ lãi suất, chủ yếu do nhu cầu đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn cuối năm, đáp ứng "cơn khát" thanh khoản lan rộng toàn hệ thống. Biến động lãi suất phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng cũng phản ánh khác biệt về cấu trúc nguồn vốn, mức độ phụ thuộc vào thị trường 1 và áp lực cạnh tranh trên thị trường huy động hiện nay.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 1 - 5 tháng vốn bị áp trần 4,75%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, hàng loạt ngân hàng đã nâng lãi suất lên kịch trần, với mức điều chỉnh tăng đáng kể so với cuối tháng 9/2025. Điều này phản ánh rõ ràng áp lực huy động vốn ngắn hạn khi bước vào thời điểm căng thẳng thanh khoản cuối năm.

Đơn cử, PGBank ghi nhận mức tăng cao nhất, lên tới 0,95 điểm phần trăm, phản ánh nhu cầu huy động vốn ngắn hạn rất lớn trong giai đoạn cuối năm. PVcomBank cũng tăng mạnh 1,45 điểm phần trăm, đưa mức lãi suất 3 tháng lên 4,75%/năm, cho thấy chiến lược cạnh tranh huy động khá rõ nét. Sacombank cũng có cú bật 1,3 điểm phần trăm lên sát trần (4,5%/năm)...

Biến động tăng mạnh nhất lại nằm ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ, vốn phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường 1, trong khi các ngân hàng có thanh khoản ổn định chỉ điều chỉnh ở mức nhẹ hơn. Điều này cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn đang chịu lực kéo lên đáng kể, đồng thời báo hiệu xu hướng cạnh tranh huy động có thể tiếp tục duy trì trong thời gian tới.

LDR vượt ngưỡng, ngân hàng khát vốn

Trong báo cáo về thị trường tiền tệ Công ty cổ phần Chứng khoán MBS (MBS) phát hành, khối nghiên cứu đánh giá, đến cuối tháng 11/2025, trung bình lãi suất kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng quốc doanh tăng 13 điểm cơ bản so với cuối tháng mười lên mức 2,03%. Trong khi đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 3 tháng của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân tăng 28 điểm cơ bản lên mức 4,2%/năm.

Áp lực thanh khoản lan rộng

"Ngân hàng Nhà nước buộc phải điều chỉnh tăng lãi suất OMO, bởi tình trạng cạn thanh khoản đã trở nên rõ rệt và mang tính phổ biến trên phạm vi toàn hệ thống. Xu hướng này nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn, vì đây là vấn đề mang tính tổng thể của toàn ngành ngân hàng, chứ không chỉ xảy ra ở một vài ngân hàng".

Ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ.

Còn trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại tư nhân đến cuối tháng 11 tăng 27 điểm cơ bản so với đầu năm lên mức 5,32%, trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh giữ ổn định ở mức 4,7%.

"Việc mặt bằng lãi suất tiền gửi bắt đầu nhích tăng từ đầu quý IV phản ánh nhu cầu huy động vốn gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng mạnh vào cuối năm theo chu kỳ mùa vụ" - Khối nghiên cứu MBS nhận định.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 27/11, tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024, cao hơn tốc độ tăng cả năm 2024 (15,09%), cao nhất trong nhiều năm qua và vượt xa tốc độ tăng trưởng huy động toàn hệ thống.

Tỷ lệ cho vay/vốn huy động (LDR) hiện đang trở thành tâm điểm phản ánh rõ nét mức độ căng thẳng thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Theo đánh giá của chuyên gia Công ty cổ phần đầu tư AFA Capital, nguyên nhân cốt lõi khiến LDR leo lên mức cao là sự mất cân đối giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Dữ liệu cho thấy khoảng cách giữa tín dụng và huy động toàn nền kinh tế đã nới rộng lên gần 110%, một mức đáng báo động. Điều này cho thấy nhu cầu vốn cho vay đang vượt xa khả năng tự cân đối của các ngân hàng thương mại thông qua nguồn tiền gửi.

"LDR cao là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy mặt bằng lãi suất ngắn hạn tăng lên. Khi nguồn vốn huy động không theo kịp tốc độ giải ngân, ngân hàng thương mại phải chuyển sang vay mượn trên thị trường liên ngân hàng (thị trường 2)" - chuyên gia AFA Capital đánh giá.

Áp lực duy trì LDR dưới ngưỡng an toàn cùng với tình trạng thiếu thanh khoản đã tác động rõ rệt lên kênh huy động vốn trái phiếu Chính phủ.

Lãi suất liên ngân hàng vọt lên đỉnh 3 năm, phải mở rộng kênh hỗ trợ

Theo quan sát của khối phân tích MBS, lãi suất qua đêm liên ngân hàng đã liên tục duy trì đà tăng mạnh, từ mức 5,4% ở đầu tháng 11/2025 lên 6,4% vào cuối kỳ và tăng tiếp lên 7,5% trong những ngày đầu tháng 12, mức cao nhất trong vòng 3 năm qua. Lãi suất các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng đang neo ở mức 7,2 - 7,4%, trong khi kỳ hạn 6 tháng ở mức 7,2%. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất OMO lần đầu tiên trong 19 tháng lên mức 4,5%.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì trạng thái bơm thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO). Tính chung trong tháng 11, Ngân hàng Nhà nước đã bơm hơn 365.300 tỷ đồng với lãi suất 4%, kỳ hạn từ 7 - 105 ngày. Cùng với đó, lượng vốn đáo hạn trên OMO trong kỳ đạt gần 258.900 tỷ đồng. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng hơn 106.400 tỷ đồng trong kỳ, đánh dấu mức bơm ròng theo tháng cao nhất kể từ tháng 4/2024.

Tuy nhiên, theo chuyên gia AFA Capital, kênh hỗ trợ truyền thống như thị trường mở cũng đang chạm ngưỡng cao, thể hiện ở việc lượng OMO đang lưu hành đã vượt mốc 360.000 tỷ đồng. Sự phụ thuộc lớn vào kênh này, cùng với tỷ lệ cho vay trên vốn huy động ở mức cao, càng cho thấy tính cấp bách của việc bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước đã kích hoạt công cụ can thiệp mới, đó là giao dịch hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) ngày 5/12, Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua USD giao ngay từ các tổ chức tín dụng với tỷ giá 23.945

VND/USD và sẽ bán lại lượng ngoại tệ đó theo hợp đồng kỳ hạn 14 ngày với tỷ giá 23.955 VND/USD. Theo đánh giá, công cụ này sẽ hỗ trợ thanh khoản trong ngắn hạn.

Cùng với đó, sau 3 lần giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cuối năm với tổng mức giảm 0,75 điểm phần trăm, chênh lệch lãi suất giữa USD và VND sẽ thu hẹp, qua đó giảm bớt áp lực lên tỷ giá trong nước. Nhờ vậy, Việt Nam được kỳ vọng có thêm dư địa để duy trì mặt bằng lãi suất ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80