Agribank khẳng định trách nhiệm xã hội trong thời kỳ mới

Khải Ca
(TBTCO) - Tính đến hết tháng 11/2025, kinh phí chi cho hoạt động cộng đồng của Agribank là hơn 500 tỷ đồng. Không chỉ khẳng định vị trí là ngân hàng chủ lực phục vụ “tam nông”, Agribank còn khẳng định trách nhiệm xã hội trong thời kỳ mới.
aa

Lan tỏa trách nhiệm xã hội bằng hành động thiết thực

Suốt gần 4 thập niên đồng hành cùng sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Agribank đã khẳng định vị trí là ngân hàng chủ lực phục vụ “tam nông” với mạng lưới hơn 2.200 chi nhánh và phòng giao dịch trải dài cả nước. Song song nhiệm vụ kinh doanh, tổ chức Công đoàn Agribank với hơn 41.700 đoàn viên, cán bộ, người lao động đã trở thành lực lượng nòng cốt thực hiện các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ cộng đồng, chăm lo đời sống đoàn viên bằng những việc làm bền bỉ, thiết thực và nhân văn.

Năm 2024, Agribank dành gần 700 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội. Trong năm 2025, tính đến hết tháng 11, kinh phí chi cho hoạt động cộng đồng là hơn 500 tỷ đồng. Những con số cho thấy nỗ lực kiên trì của Agribank đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội. Mỗi khoản kinh phí, mỗi chương trình thiện nguyện không chỉ là sự hỗ trợ vật chất mà còn là biểu hiện sinh động của tinh thần “từ trái tim đến hành động”, một tinh thần đã trở thành nét văn hóa cốt lõi của hệ thống Agribank.

Agribank khẳng định  trách nhiệm xã hội trong thời kỳ mới
Agribank Chi nhánh Hà Tĩnh trao tặng số tiền 25 triệu đồng cho gia đình ông Nguyễn Sỹ Hồng nhằm khắc phục thiệt hại sau bão số 10 (Bualoi).

Tinh thần ấy được bồi đắp từ những chương trình gắn kết cộng đồng trải rộng trên nhiều lĩnh vực đời sống. Những bước chân thiện nguyện của người Agribank còn hiện diện trong các chương trình chăm lo cho người nghèo và các nhóm yếu thế. Đầu năm 2025, tại TP. Hồ Chí Minh, Agribank dành 6 tỷ đồng chăm lo Tết cho hộ nghèo, đối tượng chính sách. Ở nhiều tỉnh khác, cán bộ Agribank đồng hành cùng chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát, đóng góp vào quỹ an sinh để xây mới hàng trăm căn nhà.

Điểm nổi bật trong hoạt động của Công đoàn Agribank là phương châm “mỗi đơn vị một hoạt động, mỗi cán bộ một tấm lòng”. Nhờ đó, phong trào an sinh xã hội không chỉ diễn ra ở cấp toàn hệ thống mà còn lan rộng đến từng chi nhánh, từng địa phương, phản ánh sự chủ động của từng tập thể và trách nhiệm của từng đoàn viên. Minh chứng rõ nét cho sự lan tỏa này là các hoạt động tại các địa bàn trọng điểm trên cả nước.

Tại Đắk Lắk, chi nhánh đã dành 16,8 tỷ đồng cho công tác an sinh trong năm 2024, xây dựng 300 căn nhà tình nghĩa trị giá 15 tỷ đồng cho đồng bào vùng sâu, vùng xa. Trong 5 tháng đầu năm 2025, chương trình “Tết Nghĩa tình” lần thứ 11 tiếp tục trao hơn 1,1 tỷ đồng hỗ trợ người nghèo. Đây là minh chứng tiêu biểu cho sự kiên trì của chi nhánh tại một địa bàn có nhiều hộ khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số.

Năm 2024, Agribank dành gần 700 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội. Trong năm 2025, tính đến hết tháng 11, kinh phí chi cho hoạt động cộng đồng là hơn 500 tỷ đồng. Những con số cho thấy nỗ lực kiên trì của Agribank đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội.

Tương tự, tại Hà Tĩnh, Chi nhánh Hà Tĩnh II đã trở thành một trong những điểm sáng của phong trào an sinh khi triển khai chuỗi hoạt động an sinh xã hội trị giá 20,6 tỷ đồng trong năm 2024, trong đó hỗ trợ xây dựng 110 ngôi nhà tình nghĩa và hàng loạt công trình giáo dục ở các xã Thạch Lạc, Hương Lâm, Gia Phố với tổng trị giá gần 12 tỷ đồng.

Trong khi đó ở địa bàn Quảng Nam, chi nhánh dành 11,2 tỷ đồng cho an sinh giai đoạn 2023-2025, trong đó 7,9 tỷ đồng dành cho giáo dục - y tế và hơn 3,3 tỷ đồng cán bộ, đoàn viên tự nguyện đóng góp để hỗ trợ sinh kế tại huyện Tây Giang (cũ) và phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng.

Tại các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Agribank vẫn thường xuyên triển khai các hoạt động nghĩa tình, nhân văn, gắn bó trực tiếp với cộng đồng dân cư. Chi nhánh Quận 5 (cũ) trong dịp Xuân Ất Tỵ 2025 đã phối hợp các đơn vị trao tặng 390 triệu đồng cho 390 hộ gia đình chính sách. Thậm chí, Chi nhánh Nhà Bè triển khai hỗ trợ thanh toán không dùng tiền mặt gắn với chính sách an sinh của địa phương, miễn phí phát hành thẻ và mở 600 tài khoản cho người dân hưởng trợ cấp xã hội với giá trị hỗ trợ hàng chục triệu đồng.

Khẳng định vai trò tiên phong trong thời kỳ mới

Đặc biệt, ở các tỉnh ven biển miền Trung, nơi hằng năm thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, hoạt động an sinh càng thể hiện rõ vai trò của hệ thống ngân hàng. Giữa năm 2025, Chi nhánh Thăng Bình (Đà Nẵng) đã hỗ trợ 300 triệu đồng xây dựng 5 nhà tình nghĩa cho các xã vùng ven biển. Bên cạnh đó, Chi nhánh Cam Lâm (Khánh Hòa) tài trợ thiết bị Kiosk và phần mềm tiếp đón bệnh nhân tự động cho Trung tâm Y tế khu vực Cam Lâm nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đặc biệt trong bối cảnh nhiều người dân vùng biển còn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại.

Ở miền núi phía Bắc, Chi nhánh Yên Bái là hình mẫu cho sự bền bỉ. Từ năm 2021 đến nay, chi nhánh đã xây dựng 7 nhà tình nghĩa trị giá 334 triệu đồng, tài trợ 5 tỷ đồng cho giáo dục và 222 triệu đồng cho y tế… những khoản đầu tư dài hạn vào tương lai vùng cao. Tại Quảng Ngãi, chi nhánh dành hơn 4 tỷ đồng cho an sinh xã hội trong năm 2022, bao gồm 13 căn nhà tình nghĩa, gần 1,3 tỷ đồng cho giáo dục và 870 triệu đồng cho công tác khắc phục thiên tai.

Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Chi nhánh Nam Định đã kịp thời hỗ trợ 100 triệu đồng cho Trường THCS Giao Tân sau bão lũ tại huyện Giao Bình (cũ), giúp nhà trường sửa chữa cơ sở vật chất và ổn định việc học của học sinh. Tại tỉnh Bắc Giang (cũ), đoàn viên, người lao động Agribank chi nhánh đã trao 1 tỷ đồng hỗ trợ người dân vùng ngập nặng… Những hành động cụ thể tại từng địa phương, mỗi nơi một cách làm, một mức độ phù hợp chứng minh cho sức lan tỏa mạnh mẽ của phong trào an sinh trong toàn hệ thống.

Trách nhiệm xã hội của Agribank được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực và bền bỉ. Từ trái tim sẻ chia của mỗi cán bộ đến các chương trình quy mô lớn trên toàn hệ thống, Agribank đang tiếp tục viết nên hành trình nhân văn, giàu bản sắc, góp phần xây dựng cộng đồng ấm no, bền vững và giàu tình người trong thời kỳ mới.

Agribank phát huy sức mạnh vì cộng đồng

Tiếp nối các hoạt động vì môi trường, tinh thần “Ngân hàng vì cộng đồng” luôn là nét đặc trưng xuyên suốt được công đoàn Agribank đặc biệt chú trọng và duy trì qua nhiều thập kỷ. Công đoàn Agribank coi hoạt động an sinh xã hội không chỉ là nghĩa vụ mà còn là văn hóa doanh nghiệp thấm nhuần trong mỗi đoàn viên.

Agribank duy trì việc chi hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho an sinh xã hội. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2025, ngân hàng đã dành hơn 250 tỷ đồng cho các chương trình xã hội từ thiện, tập trung mạnh mẽ vào các vùng sâu, vùng xa, và nhóm yếu thế cần sự hỗ trợ nhất.

Ngoài ra, với phương châm “kịp thời - sẻ chia - đồng hành”, công đoàn Agribank luôn tiên phong tổ chức cứu trợ, hỗ trợ tài chính trực tiếp cho đoàn viên và người dân vùng thiên tai. Tính đến cuối năm 2025, Agribank đã dành hơn 80 tỷ đồng hỗ trợ khắc phục hậu quả bão lũ. Gần đây nhất, đoàn viên toàn hệ thống Agribank đã cứu trợ khẩn cấp 11 tỷ đồng cho các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên sau đợt mưa lũ lịch sử, giúp người dân nhanh chóng ổn định và khôi phục sản xuất. Hành động này củng cố sâu sắc tinh thần tương thân tương ái, gắn kết Ngân hàng với cộng đồng. Công đoàn cũng tích cực hưởng ứng các chương trình lớn như “Chung tay xóa 1.000 căn nhà tạm, nhà dột nát”, góp phần hiệu quả vào mục tiêu giảm nghèo bền vững quốc gia…

Khải Ca

Đọc thêm

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼150K 15,050 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼150K 15,000 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼150K 16,050 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼150K 16,000 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼150K 15,980 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
NL 99.90 14,550 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼150K
Trang sức 99.9 15,340 ▼200K 16,040 ▼200K
Trang sức 99.99 15,350 ▼200K 16,050 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1424K 16,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1424K 16,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1445K 161 ▼1472K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1445K 1,611 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1427K 1,595 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼2277K 157,921 ▼2277K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼1725K 119,787 ▼1725K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼1564K 108,621 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▼1403K 97,455 ▼1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼1341K 93,148 ▼1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼959K 66,668 ▼959K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▼28K 1,615 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Cập nhật: 20/05/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18189 18464 19036
CAD 18626 18903 19520
CHF 32709 33094 33737
CNY 0 3830 3922
EUR 29938 30211 31235
GBP 34477 34869 35810
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15058 15645
SGD 20024 20306 20833
THB 721 784 838
USD (1,2) 26097 0 0
USD (5,10,20) 26139 0 0
USD (50,100) 26167 26187 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,151 26,151 26,391
USD(1-2-5) 25,105 - -
USD(10-20) 25,105 - -
EUR 30,030 30,054 31,321
JPY 161.1 161.39 170.19
GBP 34,623 34,717 35,724
AUD 18,345 18,411 19,005
CAD 18,784 18,844 19,435
CHF 32,939 33,041 33,837
SGD 20,109 20,172 20,854
CNY - 3,791 3,915
HKD 3,295 3,305 3,424
KRW 16.07 16.76 18.14
THB 767.13 776.6 827.76
NZD 15,002 15,141 15,503
SEK - 2,750 2,833
DKK - 4,019 4,138
NOK - 2,789 2,873
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,183.51 - 6,941.47
TWD 750.36 - 904.13
SAR - 6,899.77 7,228.26
KWD - 83,539 88,407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18356 18456 19379
CAD 18811 18911 19927
CHF 32961 32991 34574
CNY 3809.5 3834.5 3969.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30119 30149 31875
GBP 34788 34838 36607
HKD 0 3355 0
JPY 162.36 162.86 173.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20174 20304 21036
THB 0 749.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,391
USD20 26,185 26,235 26,391
USD1 23,879 26,235 26,391
AUD 18,391 18,491 19,608
EUR 30,264 30,264 31,687
CAD 18,753 18,853 20,167
SGD 20,245 20,395 21,320
JPY 162.69 164.19 168.78
GBP 34,668 35,018 36,160
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80