Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%

Tú Anh
(TBTCO) - Tín dụng xanh ngày càng lan tỏa trong hệ thống ngân hàng, với dư nợ trên 704.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 21%/năm. Ngân hàng Nhà nước đang đẩy mạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, sớm trình Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất 2% nhằm thúc đẩy tín dụng xanh, hướng tới phát triển bền vững.
aa
Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Một số khó khăn, tồn tại khiến tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh vẫn khiêm tốn, dù tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ. Ảnh tư liệu

Các nhà băng tiên phong dẫn dắt tín dụng xanh

Chia sẻ gần đây, bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Phó Giám đốc Ban Khách hàng Doanh nghiệp BIDV nhấn mạnh, phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh được coi là định hướng chiến lược xuyên suốt, trong đó, tại chiến lược phát triển của mình, BIDV đặt ra mục tiêu trở thành ngân hàng net zero vào năm 2050.

Dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng ấn tượng 26%/năm

"Tính đến ngày 31/5/2025, BIDV cấp tín dụng xanh cho 1.569 khách hàng với 1.943 dự án, phương án, tổng dư nợ xanh đạt 78.076 tỷ đồng, chiếm khoảng 3,7% tổng dư nợ, trong đó lĩnh vực năng lượng xanh và tái tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất 73,4%. Trong giai đoạn 2021 - 2025, dư nợ tín dụng xanh của BIDV tăng trưởng bình quân 26%/năm, từ 32.000 tỷ đồng cuối năm 2020 lên khoảng 81.000 tỷ đồng cuối năm 2024". Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Phó Giám đốc Ban Khách hàng Doanh nghiệp BIDV

Để đạt được mục tiêu này, bà Nguyễn Thị Kim Phượng cho biết, BIDV chủ động xây dựng các chính sách kiểm soát và hạn chế dần việc cấp tín dụng đối với các ngành có phát thải carbon cao như: sắt thép, xi măng, phân bón; đồng thời, ưu tiên áp dụng các cơ chế ưu đãi về lãi suất, tài sản đảm bảo, tỷ giá nhằm tăng tỷ trọng tài trợ cho các lĩnh vực, dự án xanh.

Đặc biệt, BIDV tập trung đẩy mạnh huy động vốn phục vụ các hoạt động tín dụng xanh thông qua nhiều hình thức đa dạng và hiệu quả. Trong lĩnh vực phát hành trái phiếu ESG, năm 2023, BIDV phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA) và trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành trái phiếu xanh theo chuẩn quốc tế. Tiếp nối thành công đó, năm 2024, BIDV tiếp tục phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu bền vững huy động vốn cho các dự án trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, giao thông bền vững, công trình xanh và nhà ở xã hội.

Song song với đó, ngân hàng tích cực đẩy mạnh hoạt động tín dụng xanh. Trong đó, BIDV thiết kế các gói tín dụng chuyên biệt theo từng lĩnh vực với khách hàng doanh nghiệp, bao gồm: gói dệt may xanh trị giá 4.200 tỷ đồng; gói tài trợ công trình xanh 10.000 tỷ đồng; tín dụng xanh cho dự án cấp nước sạch 5.000 tỷ đồng; hay tài chính xanh cho doanh nghiệp cảng biển với quy mô 2.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đẩy mạnh hợp tác với các định chế tài chính quốc tế nhằm huy động nguồn vốn ưu đãi phục vụ cho phát triển bền vững.

"BIDV không ngừng nâng cao năng lực thể chế, hoàn thiện quy trình nội bộ liên quan đến quản lý tín dụng xanh, rủi ro môi trường - xã hội" - bà Phượng nhấn mạnh.

Từ góc nhìn định chế tài chính quốc tế, bà Tan Mona - Giám đốc Tài chính Bền vững khu vực ASEAN và Nam Á của Ngân hàng Standard Chartered cho biết, ngân hàng đã ban hành quy định về tín dụng xanh áp dụng trên toàn cầu và tích cực đồng hành cùng các ngân hàng Việt Nam trong quá trình chuyển đổi xanh.

Ngân hàng đặt mục tiêu huy động 300 tỷ USD tài chính xanh và bền vững đến năm 2030, với tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính bền vững đạt khoảng 32%/năm. Bên cạnh đó, Standard Chartered cũng thúc đẩy các hoạt động tài trợ thương mại chuyển đổi xanh, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững, điển hình là cho vay đối với Công ty TNHH Thép Tung Ho Việt Nam. Kể từ khi thành lập tại Việt Nam, Tung Ho áp dụng phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng 95 - 100% phế liệu, thép tái chế làm nguyên liệu đầu vào và phương pháp sản xuất tiết kiệm năng lượng và giảm tới 75% lượng phát thải CO2.

Tăng trưởng mạnh nhưng vẫn còn vướng nhiều rào cản

Dù đạt được những tiến bộ nhất định, việc triển khai tín dụng xanh trong nông nghiệp, nông thôn vẫn đối mặt nhiều thách thức. Chính Ngân hàng Nhà nước cũng thẳng thắn thừa nhận một số khó khăn, tồn tại khiến tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh vẫn khiêm tốn, dù tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ so với toàn ngành. Theo đó, khung pháp lý vẫn chưa hoàn chỉnh, công cụ thẩm định hạn chế; thời gian thu hồi vốn các dự án xanh thường dài; khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính xanh quốc tế còn thấp và năng lực đội ngũ ngân hàng về quản lý môi trường - xã hội - khí hậu vẫn là điểm yếu.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà - Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank, Phó Trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, bộ tiêu chí, danh mục dự án xanh được ban hành tại Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 (Quyết định số 21), đây là cơ sở pháp lý và chuẩn mực cho các tổ chức tín dụng xác định cơ sở phân loại, tiêu chí sàng lọc, ngưỡng và chỉ tiêu áp dụng đối với các dự án, khách hàng trong hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, cần văn bản hướng dẫn có liên quan của Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành để triển khai thực hiện.

"Đối với thu hút nguồn vốn nước ngoài, tuy nguồn vốn xanh quốc tế đầu tư vào Việt Nam rất lớn và có xu hướng tăng trưởng nhanh, nhưng mức lãi suất chưa thực sự cạnh tranh với huy động vốn trong nước, trong khi tiêu chí, yêu cầu cho vay khắt khe và phức tạp trong việc xác định đối tượng cho vay phù hợp" - đại diện Agribank nêu rõ khó khăn.

Do đó, tổ chức tín dụng không còn tiếp cận được các nguồn vốn quốc tế giá rẻ, ưu đãi lãi suất... Đây là một trong những nguyên nhân tổ chức tín dụng hạn chế trong việc tiếp nhận nguồn vốn vay, ủy thác từ các tổ chức quốc tế.

Cùng chung quan điểm, đại diện BIDV cho rằng, hiện khung pháp lý về phát hành và quản lý trái phiếu xanh chưa đầy đủ, thiếu các cơ chế giám sát, đảm bảo dòng vốn phát hành được sử dụng đúng mục đích. "Cơ chế khuyến khích tín dụng xanh còn thiếu cụ thể, chưa có hỗ trợ kịp thời về nguồn vốn tái cấp vốn, trong khi vốn huy động chủ yếu ngắn hạn không phù hợp đặc thù tín dụng xanh cần thời gian hoàn vốn dài, chi phí cao" - đại diện BIDV nhìn nhận.

Sắp có thêm hướng dẫn cho vay xanh và chính sách hỗ trợ lãi suất

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến quý I/2025, có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ xanh với tổng giá trị trên 704.000 tỷ đồng. Giai đoạn 2017 - 2024, dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân trên 21%/năm, vượt xa tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Danh mục cho vay xanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm khoảng 37%), nông nghiệp xanh (trên 29%). Song song đó, các tổ chức tín dụng cũng đẩy mạnh quản trị rủi ro môi trường trong cấp tín dụng.

Ghi nhận ý kiến của các đơn vị, bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ sớm ban hành văn bản hướng dẫn cho vay và báo cáo thống kê tín dụng xanh đối với các dự án thuộc danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21.

"Cùng với đó, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG" - bà Tùng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, tích cực đàm phán, tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các tổ chức ở trong và ngoài nước để tiếp nhận các hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ kỹ thuật để triển khai các hoạt động về tài chính xanh, ngân hàng xanh, đặc biệt là nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ ngân hàng về ngân hàng xanh - tín dụng xanh, biến đổi khí hậu.

Tú Anh

Đọc thêm

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 15/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80