Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%

Tú Anh
(TBTCO) - Tín dụng xanh ngày càng lan tỏa trong hệ thống ngân hàng, với dư nợ trên 704.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 21%/năm. Ngân hàng Nhà nước đang đẩy mạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, sớm trình Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất 2% nhằm thúc đẩy tín dụng xanh, hướng tới phát triển bền vững.
aa
Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%
Một số khó khăn, tồn tại khiến tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh vẫn khiêm tốn, dù tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ. Ảnh tư liệu

Các nhà băng tiên phong dẫn dắt tín dụng xanh

Chia sẻ gần đây, bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Phó Giám đốc Ban Khách hàng Doanh nghiệp BIDV nhấn mạnh, phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh được coi là định hướng chiến lược xuyên suốt, trong đó, tại chiến lược phát triển của mình, BIDV đặt ra mục tiêu trở thành ngân hàng net zero vào năm 2050.

Dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng ấn tượng 26%/năm

"Tính đến ngày 31/5/2025, BIDV cấp tín dụng xanh cho 1.569 khách hàng với 1.943 dự án, phương án, tổng dư nợ xanh đạt 78.076 tỷ đồng, chiếm khoảng 3,7% tổng dư nợ, trong đó lĩnh vực năng lượng xanh và tái tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất 73,4%. Trong giai đoạn 2021 - 2025, dư nợ tín dụng xanh của BIDV tăng trưởng bình quân 26%/năm, từ 32.000 tỷ đồng cuối năm 2020 lên khoảng 81.000 tỷ đồng cuối năm 2024". Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Phó Giám đốc Ban Khách hàng Doanh nghiệp BIDV

Để đạt được mục tiêu này, bà Nguyễn Thị Kim Phượng cho biết, BIDV chủ động xây dựng các chính sách kiểm soát và hạn chế dần việc cấp tín dụng đối với các ngành có phát thải carbon cao như: sắt thép, xi măng, phân bón; đồng thời, ưu tiên áp dụng các cơ chế ưu đãi về lãi suất, tài sản đảm bảo, tỷ giá nhằm tăng tỷ trọng tài trợ cho các lĩnh vực, dự án xanh.

Đặc biệt, BIDV tập trung đẩy mạnh huy động vốn phục vụ các hoạt động tín dụng xanh thông qua nhiều hình thức đa dạng và hiệu quả. Trong lĩnh vực phát hành trái phiếu ESG, năm 2023, BIDV phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA) và trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành trái phiếu xanh theo chuẩn quốc tế. Tiếp nối thành công đó, năm 2024, BIDV tiếp tục phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu bền vững huy động vốn cho các dự án trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, giao thông bền vững, công trình xanh và nhà ở xã hội.

Song song với đó, ngân hàng tích cực đẩy mạnh hoạt động tín dụng xanh. Trong đó, BIDV thiết kế các gói tín dụng chuyên biệt theo từng lĩnh vực với khách hàng doanh nghiệp, bao gồm: gói dệt may xanh trị giá 4.200 tỷ đồng; gói tài trợ công trình xanh 10.000 tỷ đồng; tín dụng xanh cho dự án cấp nước sạch 5.000 tỷ đồng; hay tài chính xanh cho doanh nghiệp cảng biển với quy mô 2.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đẩy mạnh hợp tác với các định chế tài chính quốc tế nhằm huy động nguồn vốn ưu đãi phục vụ cho phát triển bền vững.

"BIDV không ngừng nâng cao năng lực thể chế, hoàn thiện quy trình nội bộ liên quan đến quản lý tín dụng xanh, rủi ro môi trường - xã hội" - bà Phượng nhấn mạnh.

Từ góc nhìn định chế tài chính quốc tế, bà Tan Mona - Giám đốc Tài chính Bền vững khu vực ASEAN và Nam Á của Ngân hàng Standard Chartered cho biết, ngân hàng đã ban hành quy định về tín dụng xanh áp dụng trên toàn cầu và tích cực đồng hành cùng các ngân hàng Việt Nam trong quá trình chuyển đổi xanh.

Ngân hàng đặt mục tiêu huy động 300 tỷ USD tài chính xanh và bền vững đến năm 2030, với tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính bền vững đạt khoảng 32%/năm. Bên cạnh đó, Standard Chartered cũng thúc đẩy các hoạt động tài trợ thương mại chuyển đổi xanh, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững, điển hình là cho vay đối với Công ty TNHH Thép Tung Ho Việt Nam. Kể từ khi thành lập tại Việt Nam, Tung Ho áp dụng phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng 95 - 100% phế liệu, thép tái chế làm nguyên liệu đầu vào và phương pháp sản xuất tiết kiệm năng lượng và giảm tới 75% lượng phát thải CO2.

Tăng trưởng mạnh nhưng vẫn còn vướng nhiều rào cản

Dù đạt được những tiến bộ nhất định, việc triển khai tín dụng xanh trong nông nghiệp, nông thôn vẫn đối mặt nhiều thách thức. Chính Ngân hàng Nhà nước cũng thẳng thắn thừa nhận một số khó khăn, tồn tại khiến tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh vẫn khiêm tốn, dù tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ so với toàn ngành. Theo đó, khung pháp lý vẫn chưa hoàn chỉnh, công cụ thẩm định hạn chế; thời gian thu hồi vốn các dự án xanh thường dài; khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính xanh quốc tế còn thấp và năng lực đội ngũ ngân hàng về quản lý môi trường - xã hội - khí hậu vẫn là điểm yếu.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà - Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank, Phó Trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, bộ tiêu chí, danh mục dự án xanh được ban hành tại Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 (Quyết định số 21), đây là cơ sở pháp lý và chuẩn mực cho các tổ chức tín dụng xác định cơ sở phân loại, tiêu chí sàng lọc, ngưỡng và chỉ tiêu áp dụng đối với các dự án, khách hàng trong hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, cần văn bản hướng dẫn có liên quan của Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành để triển khai thực hiện.

"Đối với thu hút nguồn vốn nước ngoài, tuy nguồn vốn xanh quốc tế đầu tư vào Việt Nam rất lớn và có xu hướng tăng trưởng nhanh, nhưng mức lãi suất chưa thực sự cạnh tranh với huy động vốn trong nước, trong khi tiêu chí, yêu cầu cho vay khắt khe và phức tạp trong việc xác định đối tượng cho vay phù hợp" - đại diện Agribank nêu rõ khó khăn.

Do đó, tổ chức tín dụng không còn tiếp cận được các nguồn vốn quốc tế giá rẻ, ưu đãi lãi suất... Đây là một trong những nguyên nhân tổ chức tín dụng hạn chế trong việc tiếp nhận nguồn vốn vay, ủy thác từ các tổ chức quốc tế.

Cùng chung quan điểm, đại diện BIDV cho rằng, hiện khung pháp lý về phát hành và quản lý trái phiếu xanh chưa đầy đủ, thiếu các cơ chế giám sát, đảm bảo dòng vốn phát hành được sử dụng đúng mục đích. "Cơ chế khuyến khích tín dụng xanh còn thiếu cụ thể, chưa có hỗ trợ kịp thời về nguồn vốn tái cấp vốn, trong khi vốn huy động chủ yếu ngắn hạn không phù hợp đặc thù tín dụng xanh cần thời gian hoàn vốn dài, chi phí cao" - đại diện BIDV nhìn nhận.

Sắp có thêm hướng dẫn cho vay xanh và chính sách hỗ trợ lãi suất

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến quý I/2025, có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ xanh với tổng giá trị trên 704.000 tỷ đồng. Giai đoạn 2017 - 2024, dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân trên 21%/năm, vượt xa tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Danh mục cho vay xanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm khoảng 37%), nông nghiệp xanh (trên 29%). Song song đó, các tổ chức tín dụng cũng đẩy mạnh quản trị rủi ro môi trường trong cấp tín dụng.

Ghi nhận ý kiến của các đơn vị, bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ sớm ban hành văn bản hướng dẫn cho vay và báo cáo thống kê tín dụng xanh đối với các dự án thuộc danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21.

"Cùng với đó, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG" - bà Tùng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, tích cực đàm phán, tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các tổ chức ở trong và ngoài nước để tiếp nhận các hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ kỹ thuật để triển khai các hoạt động về tài chính xanh, ngân hàng xanh, đặc biệt là nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ ngân hàng về ngân hàng xanh - tín dụng xanh, biến đổi khí hậu.

Tú Anh

Đọc thêm

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 21:00
Ngân hàng