Bồi đắp sức mạnh tiết kiệm và đầu tư cho phát triển bền vững

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ
(TBTCO) - Trải qua hơn một thế kỷ, Ngày Tiết kiệm Thế giới trở thành biểu tượng về giáo dục tài chính và tiết kiệm bền vững. Tiết kiệm không chỉ là hành vi cá nhân, mà là sức mạnh nội sinh củng cố nội lực quốc gia và tăng sức chống chịu trước biến động. Tuy nhiên, khi tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi, tỷ lệ LDR vượt ngưỡng 85%, đòi hỏi nâng cao hiệu quả tiết kiệm, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và điều hành lãi suất hợp lý giữ dòng vốn ổn định.
aa

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025 Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Từ những đồng tiết kiệm nhỏ, gây dựng sức mạnh lớn cho nền kinh tế

Hơn 1 thế kỷ lan tỏa tinh thần tiết kiệm

Ngày Tiết kiệm Thế giới ra đời năm 1924 tại Milan (Ý), trong giai đoạn các quốc gia châu Âu cần tái lập niềm tin tài chính sau Thế chiến I. Mục tiêu ban đầu nhằm khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng thay vì giữ tiền mặt, nhằm bảo đảm an toàn tài chính cá nhân và huy động nguồn vốn phục vụ phục hồi kinh tế.

Qua hơn một thế kỷ, ý nghĩa của Ngày Tiết kiệm Thế giới được mở rộng, bao hàm giáo dục tài chính, quản lý chi tiêu, đầu tư và hình thành thói quen tiết kiệm bền vững. Các tổ chức tài chính quốc tế nhận định, tiết kiệm là hành vi cá nhân, mang lại nền tảng sức mạnh của nền kinh tế. Tỷ lệ tiết kiệm cao giúp ổn định tỷ giá, duy trì thanh khoản ngân hàng, giảm phụ thuộc vốn ngoại và tạo điều kiện cho đầu tư dài hạn.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thống kê các nước có tỷ lệ tiết kiệm trên 25% GDP thường đạt tăng trưởng ổn định và năng lực chống chịu cao. Quốc gia có mức tiết kiệm thấp dễ rơi vào thâm hụt ngân sách và lệ thuộc dòng vốn ngoại.

Ngày Tiết kiệm Thế giới là công cụ nâng cao nhận thức tài chính toàn cầu, nhất là trong thời kỳ số hóa khi thói quen tiêu dùng thay đổi nhanh.

Ngân hàng số, ví điện tử và nền tảng thanh toán di động mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính, nhưng cũng đòi hỏi người dân biết kiểm soát chi tiêu, nợ vay và duy trì kỷ luật tài chính.

Bồi đắp sức mạnh tiết kiệm và đầu tư cho phát triển bền vững
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Hiện nhiều quốc gia lồng ghép giáo dục tài chính vào chương trình phổ thông để nuôi dưỡng ý thức tiết kiệm từ nhỏ. Tiết kiệm không giới hạn trong hộ gia đình, mở rộng đến doanh nghiệp và khu vực công. Tích lũy vốn nội địa giúp nền kinh tế tự chủ trước biến động toàn cầu.

Đơn cử, Đức duy trì chương trình “Sparkassen” cấp sổ tiết kiệm cho học sinh tiểu học. Nhật Bản lồng ghép ngày 31/10 vào Tuần lễ Tiết kiệm Quốc gia, khuyến khích tích lũy để phòng thiên tai và tuổi già. Tiết kiệm là biểu hiện của trách nhiệm cá nhân với gia đình và xã hội.

Ngoài ra, kinh nghiệm Ấn Độ và Philippines cho thấy tiết kiệm vi mô có thể nâng thu nhập hộ nghèo 20 - 30% sau 3 năm, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng.

Tại Việt Nam, hoạt động truyền thông tháng 10 hằng năm thường lan tỏa khẩu hiệu “Tiết kiệm hôm nay - Thịnh vượng tương lai”. Ngày Tiết kiệm Thế giới cũng được Việt Nam gắn với mục tiêu phát triển bền vững và chuyển đổi số tài chính; trong đó, điểm nhấn là sự kiện “Ngày Thẻ Việt Nam” khuyến khích thanh toán điện tử, góp phần thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện đến năm 2025.

Bùng nổ tài chính số tạo điều kiện mở rộng tiết kiệm. Tính đến giữa năm 2024, Việt Nam có 182 triệu tài khoản thanh toán điện tử, cho thấy độ phủ công nghệ cao. Gửi tiết kiệm trực tuyến nhanh chóng, minh bạch và linh hoạt, giúp các ngân hàng huy động hiệu quả hơn. Ứng dụng dữ liệu lớn giúp thiết kế sản phẩm phù hợp từng nhóm khách hàng, khuyến khích tiết kiệm dài hạn qua lãi suất thưởng hoặc quỹ đầu tư xanh.

Củng cố nội lực tài chính quốc gia, "tấm đệm" trước biến động

Tính đến tháng 7/2025, số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tổng tiền gửi đạt 15,71 triệu tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, 7,748 triệu tỷ đồng là tiền gửi dân cư; 7,976 triệu tỷ đồng của doanh nghiệp, thể hiện niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Tuy vậy, dư nợ tín dụng lên tới 17,2 triệu tỷ đồng khiến tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) vượt mức khuyến nghị 85%, cho thấy áp lực huy động vốn vẫn lớn.

Bồi đắp sức mạnh tiết kiệm và đầu tư cho phát triển bền vững

Cùng với đó, cấu trúc tiết kiệm vẫn nghiêng về tiền gửi truyền thống. Tỷ trọng đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu hay quỹ hưu trí còn thấp, trong khi tại các nền kinh tế phát triển, con số này chiếm 40 - 60% tổng tài sản hộ gia đình. Nguyên nhân chính là thiếu hiểu biết tài chính. Khảo sát cho thấy, chỉ 31% người trưởng thành Việt Nam hiểu rõ lãi suất, rủi ro và đa dạng hóa đầu tư, thấp hơn mức trung bình 45% của khu vực. Do đó, nâng cao giáo dục tài chính trong trường học, doanh nghiệp, truyền thông là chiến lược trọng tâm giúp tiết kiệm có định hướng và bền vững.

Trên phương diện quốc gia, mối quan hệ tiết kiệm - đầu tư thể hiện rõ trong tài khoản vãng lai. Khi tiết kiệm thấp hơn đầu tư, nền kinh tế phải vay nước ngoài, tạo thâm hụt cán cân và ngược lại. Năm 2023, Việt Nam đạt thặng dư vãng lai 1,7% GDP nhờ tiết kiệm hộ gia đình ổn định và xuất khẩu tăng, giúp duy trì dự trữ ngoại hối ở mức 100 - 110 tỷ USD, tương đương 3, 5 tháng nhập khẩu theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Cùng với đó, trong bối cảnh hội nhập, tiết kiệm nội địa trở thành “tấm đệm” giúp Việt Nam chống chịu chu kỳ vốn quốc tế. Giai đoạn 2020 - 2023, khi vốn FDI giải ngân chậm do bất ổn toàn cầu, tổng đầu tư xã hội vẫn tăng nhờ khu vực tư nhân trong nước, cho thấy sức mạnh của vốn nội địa. Nền kinh tế có khả năng tự tài trợ đầu tư sẽ ít chịu tác động từ biến động bên ngoài, duy trì ổn định vĩ mô và bảo đảm phát triển bền vững.

Tiết kiệm cũng là "lá chắn" vững vàng trước khủng hoảng. Thống kê trong giai đoạn Covid-19 cho thấy, các hộ gia đình có dự phòng tài chính tương đương 3 tháng thu nhập duy trì mức chi tiêu ổn định cao hơn 45% so với nhóm không có tiết kiệm. Ở cấp quốc gia, những nước có tỷ lệ tiết kiệm cao như Singapore, Thái Lan và Malaysia đều phục hồi nhanh hơn sau khủng hoảng nhờ nguồn lực nội địa dồi dào.

Về lâu dài, muốn nâng cao tỷ lệ tiết kiệm hiệu quả cần đi cùng cải thiện môi trường đầu tư. Khi cơ hội sinh lời rõ ràng, người dân sẵn sàng tiết kiệm nhiều hơn. Việt Nam đang nghiên cứu phát hành “trái phiếu tiết kiệm xanh” cho cá nhân, đầu tư vào năng lượng tái tạo và xử lý chất thải với mô hình mang lợi ích tài chính và đóng góp phát triển bền vững. Kinh nghiệm từ Đức cho thấy hiệu quả rõ rệt, kể từ năm 2020, nước này đã huy động hơn 6 tỷ Euro thông qua trái phiếu xanh.

Cùng với đó, lãi suất đóng vai trò nhân tố điều tiết then chốt, tác động trực tiếp đến hành vi tích lũy của người dân. Khi lãi suất thực dương, người dân tăng tích lũy để bảo toàn tài sản. Vào năm 2023, lãi suất huy động tại Việt Nam giảm còn 5%/năm, trong khi lạm phát ở mức 3,25%, khiến lãi suất thực không cao, làm giảm sức hấp dẫn gửi tiết kiệm. Lãi suất duy trì thấp quá lâu, dòng tiền có thể chuyển sang đầu cơ bất động sản hoặc vàng, gây rủi ro bong bóng tài sản và giảm tiết kiệm dài hạn./.

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ

Đọc thêm

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲150K 15,600 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▲150K 16,600 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▲150K 16,550 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▲150K 16,530 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 ▲150K 16,640 ▲150K
Trang sức 99.99 15,950 ▲150K 16,650 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 07/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18562 18839 19420
CAD 18776 19054 19668
CHF 33175 33561 34211
CNY 0 3827 3919
EUR 30329 30603 31631
GBP 35021 35415 36349
HKD 0 3228 3430
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15416 16004
SGD 20238 20522 21050
THB 733 797 850
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26133 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26214 26214 26368
AUD 18738 18838 19766
CAD 18956 19056 20071
CHF 33425 33455 35038
CNY 3807.2 3832.2 3967.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30520 30550 32275
GBP 35324 35374 37131
HKD 0 3355 0
JPY 164.7 165.2 175.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15513 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20397 20527 21255
THB 0 762.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16450000 16450000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,368
USD20 26,138 26,188 26,368
USD1 26,138 26,188 26,368
AUD 18,802 18,902 20,011
EUR 30,654 30,654 32,063
CAD 18,904 19,004 20,315
SGD 20,479 20,629 21,193
JPY 165.34 166.84 171.38
GBP 35,229 35,579 36,696
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80