Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khép lại tháng 10, thị trường tiền tệ ghi nhận diễn biến trái chiều khi tỷ giá USD/VND trên kênh chính thức hạ nhiệt, trong khi thị trường tự do tiếp tục nóng, tăng 1.180 đồng chỉ trong một tháng, đẩy chênh lệch tỷ giá lên mức kỷ lục. Lãi suất qua đêm vẫn neo cao, cho thấy sự thận trọng trong điều hành thanh khoản dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 39.300 tỷ đồng trong tháng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/10: Tỷ giá tự do phá đỉnh, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6% Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/10: Bán USD hạ tỷ giá, bơm ròng hơn 70.000 tỷ đồng tiếp sức thanh khoản Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng

Ngày 31/10, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.093 VND/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 23.838 - 26.348 VND/USD. Tỷ giá mua - bán tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước ở mức 23.889 - 26.297 VND/USD, tăng 2 đồng cả hai chiều.

Tỷ giá ngân hàng hạ nhiệt, “chợ đen” vẫn nóng

Ở kênh chính thức, tỷ giá USD tại các ngân hàng trải qua một tuần trầm lắng, biên độ dao động hẹp chỉ 5 - 10 đồng, tiếp đà đi xuống của tuần trước. Trái lại, tỷ giá USD chợ đen nối dài tuần tăng thứ 6, dù mức tăng hẹp hơn 4 tuần trước đó, giao dịch quanh 27.760 - 27.800 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 100 đồng cả hai chiều so với tuần trước.

Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng. Ảnh minh hoạ.

Tỷ giá USD/VND khép lại tháng 10 trong xu hướng hạ nhiệt trên kênh chính thức, với mức giảm 94 đồng so với cuối tháng 9, với tỷ giá trung tâm, xuống còn 25.093 VND/USD, nhưng tăng mạnh ở thị trường tự do. Tỷ giá USD “chợ đen” leo lên 27.760 - 27.800 VND/USD, cao hơn gần 1.500 đồng so với ngân hàng và tăng ròng rã 1.360 đồng trong suốt 6 tuần liên tiếp vừa qua.

Chốt tháng 10/2025, tỷ giá trung tâm hạ nhiệt sâu 94 đồng so với cuối tháng 9, sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất lần đầu trong năm vào ngày 18/9 và Ngân hàng Nhà nước bán USD kỳ hạn có hủy ngang nhằm dịu nhiệt thị trường ngoại hối.

Diễn biến xảy ra tương tự tại các ngân hàng thương mại. Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ngày 31/10 ở 26.097 - 26.347 VND/USD, giảm lần lượt 79 - 99 đồng so với cuối tháng trước; BIDV niêm yết 26.127 - 26.347 VND/USD, giảm 56 - 155 đồng.

Trái lại, chênh lệch giữa tỷ giá ngân hàng và thị trường tự do tiếp tục nới rộng, khi giá USD trên “chợ đen” cao hơn gần 1.500 đồng/USD. Chỉ trong một tháng qua, tỷ giá USD tự do tăng 1.180 đồng ở cả hai chiều, gần tương đương mức tăng ròng rã 1.360 đồng suốt 6 tuần liên tiếp vừa qua.

Cũng trong tuần qua, nhà điều hành và Ngân hàng Nhà nước các chi nhánh khu vực liên tiếp ban ban hành nhiều chỉ đạo, yêu cầu tăng cường thanh, kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối trong bối cảnh tỷ giá có dấu hiệu biến động mạnh giữa hệ thống ngân hàng và thị trường "chợ đen".

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ chủ chốt, tăng lên 99,55 điểm, mức cao nhất kể từ đầu tháng 8, tương ứng mức tăng khoảng 2% tháng qua. Đà tăng của USD diễn ra sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell phát tín hiệu thận trọng, cho rằng việc thiếu dữ liệu kinh tế đầy đủ có thể khiến Fed trì hoãn cắt giảm lãi suất lần thứ 3 vào tháng 12. Hiện các nhà giao dịch chỉ còn định giá khả năng cắt giảm lãi suất trong tháng 12 ở mức 71%, giảm so với 85% trước bài phát biểu.

Đồng Euro tiếp tục suy yếu so với USD sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức 2% trong cuộc họp thứ ba liên tiếp và chưa đưa ra tín hiệu rõ ràng về các bước đi tiếp theo.

Theo đó, các đồng tiền mạnh khác bị điều chỉnh giảm tương đối so với VND. Theo đó, tỷ giá EUR tại Vietcombank lùi về 29.651 - 31.214 VND/EUR, giảm 534 - 562 đồng; tại BIDV còn 30.019 - 31.184 VND/EUR, giảm 357 - 387 đồng.

Tỷ giá GBP giảm sâu nhất, Vietcombank mua ở 33.709 VND/GBP, bán ra 35.141 VND/GBP, thấp hơn cuối tháng trước tới 866 - 903 đồng; BIDV cũng giảm khoảng 905 - 925 đồng.

Còn tỷ giá JPY và CNY cũng điều chỉnh giảm trong tháng qua tại nhiều ngân hàng.

Nguồn cung USD hạn chế, lãi suất liên ngân hàng vẫn neo cao

Trong báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ tháng 10, nhóm nghiên cứu Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định, chênh lệch tỷ giá trên thị trường tự do và chính thức đạt mức cao kỷ lục từ trước đến nay.

"Chênh lệch hiếm thấy này cho thấy sự hạn chế trong nguồn cung USD, ở cả trong và ngoài hệ thống, được dẫn chứng bởi việc Ngân hàng Nhà nước cam kết bán ngoại tệ có kỳ hạn cho các ngân hàng thương mại với quy mô khoảng 4,4 tỷ USD từ tháng 8 đến nay" - nhóm phân tích VDSC nhận định.

Ngoài ra, nhu cầu USD trên thị trường tự do tăng đột biến có thể phản ánh sự liên thông giữa thị trường USD tự do và thị trường vàng khi chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới nới rộng.

Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng

Trong ngắn hạn, theo VDSC, nguồn cung ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước đảm bảo trong tương lai đang là "điểm neo" đối với tỷ giá trên thị trường chính thức. Nhiều khả năng sự bất thường trong chênh lệch giữa hai thị trường sẽ không duy trì quá lâu.

“Van” thanh khoản mở chậm, lãi suất nhích tăng

"Việc lãi suất cho vay qua đêm liên tục neo ở mức cao cho thấy sự thận trọng trong việc tăng cường thêm thanh khoản cho hệ thống của nhà điều hành. Trên thị trường 1 (huy động vốn từ người dân và tổ chức), lãi suất huy động của một số ngân hàng ghi nhận mức tăng từ 0,1 - 0,3 điểm phần trăm trong tháng 10. Đồng thời, hiện tượng tặng thêm lãi suất và gia tăng các ưu đãi nhằm tăng huy động vốn trở nên phổ biến hơn trong các tháng cuối năm" - nhóm phân tích VDSC nhận định.

Về diễn biến trên thị trường 2, tuần qua, 29/10, lãi suất liên ngân hàng đồng loạt giảm ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống được cải thiện.

Theo đó, lãi suất qua đêm giảm mạnh 1,65 điểm phần trăm xuống quanh 4,17%, mức thấp nhất trong hơn 1 tháng qua.

Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt giảm 1,1 và 0,6 điểm phần trăm, còn 4,77% và 5,38%. Kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng hạ nhẹ xuống 5,57% và 5,67%, cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn đang dần ổn định sau giai đoạn căng thẳng tạm thời, song mức lãi suất này vẫn ở mức cao.

Trên thị trường mở (OMO), tuần từ 27 - 31/10 ghi nhận khối lượng trúng thầu giảm mạnh so với mức gần 120 nghìn tỷ đồng của tuần trước, chỉ còn 38.509,28 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, với lãi suất duy trì 4%. Trong khi đó, 37.654,7 tỷ đồng đến hạn trên kênh cầm cố, đưa tổng lượng vốn đang lưu hành qua kênh này còn 224.337,66 tỷ đồng.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 854,58 tỷ đồng trong tuần và bơm ròng 39.305,41 tỷ đồng cả tháng 10, góp phần duy trì thanh khoản ổn định trong hệ thống ngân hàng.

Theo quan sát của nhóm phân tích VDSC, từ giữa tháng 6/2025 đến nay, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng nhiều lần tăng vượt mức 5%/năm. Tình trạng này lặp lại từ giữa tháng 10/2025 mặc dù Ngân hàng Nhà nước duy trì quy mô cho vay khá lớn trên kênh cầm cố.

Với sự thận trọng trong điều hành của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng dự báo duy trì ở mức cao trong các tháng cuối năm. Đồng thời, xu hướng tăng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại dần thể hiện rõ hơn trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trong quý cuối năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

(TBTCO) - Sáng 12/8, tỷ giá trung tâm tăng 23 đồng lên 25.539 đồng, trong khi tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng vẫn chưa dứt xu hướng điều chỉnh giảm. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,02% lên 99,84 điểm, giá dầu tăng khơi lại lo ngại lạm phát, đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt, trái chiều với tín hiệu từ báo cáo việc làm yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

(TBTCO) - Sáng 11/8, tỷ giá trung tâm tăng 25 đồng, lên 25.516 đồng/USD, lần đầu vượt 25.500 đồng, kéo tỷ giá trần lên sát 26.792 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng nhẹ lên 99,8 điểm, trong khi đồng Yên tiếp tục chịu áp lực giảm giá dù Nhật Bản can thiệp kỷ lục, khi chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn là yếu tố chi phối.
Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

(TBTCO) - Sáng 10/8, tỷ giá trung tâm tăng 28 đồng, lên 25.491 đồng/USD, song giá bán USD tại ngân hàng vẫn thấp hơn trần gần 400 đồng. Trên thị trường tự do, USD giảm mạnh 170 đồng, xuống 25.800 - 25.830 VND/USD. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,13% lên 99,66 điểm. Tuần này, CPI tháng 7 của Mỹ sẽ là chất xúc tác quan trọng đối với đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80