Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khép lại tháng 10, thị trường tiền tệ ghi nhận diễn biến trái chiều khi tỷ giá USD/VND trên kênh chính thức hạ nhiệt, trong khi thị trường tự do tiếp tục nóng, tăng 1.180 đồng chỉ trong một tháng, đẩy chênh lệch tỷ giá lên mức kỷ lục. Lãi suất qua đêm vẫn neo cao, cho thấy sự thận trọng trong điều hành thanh khoản dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 39.300 tỷ đồng trong tháng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/10: Tỷ giá tự do phá đỉnh, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6% Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/10: Bán USD hạ tỷ giá, bơm ròng hơn 70.000 tỷ đồng tiếp sức thanh khoản Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng

Ngày 31/10, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.093 VND/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 23.838 - 26.348 VND/USD. Tỷ giá mua - bán tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước ở mức 23.889 - 26.297 VND/USD, tăng 2 đồng cả hai chiều.

Tỷ giá ngân hàng hạ nhiệt, “chợ đen” vẫn nóng

Ở kênh chính thức, tỷ giá USD tại các ngân hàng trải qua một tuần trầm lắng, biên độ dao động hẹp chỉ 5 - 10 đồng, tiếp đà đi xuống của tuần trước. Trái lại, tỷ giá USD chợ đen nối dài tuần tăng thứ 6, dù mức tăng hẹp hơn 4 tuần trước đó, giao dịch quanh 27.760 - 27.800 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 100 đồng cả hai chiều so với tuần trước.

Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng. Ảnh minh hoạ.

Tỷ giá USD/VND khép lại tháng 10 trong xu hướng hạ nhiệt trên kênh chính thức, với mức giảm 94 đồng so với cuối tháng 9, với tỷ giá trung tâm, xuống còn 25.093 VND/USD, nhưng tăng mạnh ở thị trường tự do. Tỷ giá USD “chợ đen” leo lên 27.760 - 27.800 VND/USD, cao hơn gần 1.500 đồng so với ngân hàng và tăng ròng rã 1.360 đồng trong suốt 6 tuần liên tiếp vừa qua.

Chốt tháng 10/2025, tỷ giá trung tâm hạ nhiệt sâu 94 đồng so với cuối tháng 9, sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất lần đầu trong năm vào ngày 18/9 và Ngân hàng Nhà nước bán USD kỳ hạn có hủy ngang nhằm dịu nhiệt thị trường ngoại hối.

Diễn biến xảy ra tương tự tại các ngân hàng thương mại. Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ngày 31/10 ở 26.097 - 26.347 VND/USD, giảm lần lượt 79 - 99 đồng so với cuối tháng trước; BIDV niêm yết 26.127 - 26.347 VND/USD, giảm 56 - 155 đồng.

Trái lại, chênh lệch giữa tỷ giá ngân hàng và thị trường tự do tiếp tục nới rộng, khi giá USD trên “chợ đen” cao hơn gần 1.500 đồng/USD. Chỉ trong một tháng qua, tỷ giá USD tự do tăng 1.180 đồng ở cả hai chiều, gần tương đương mức tăng ròng rã 1.360 đồng suốt 6 tuần liên tiếp vừa qua.

Cũng trong tuần qua, nhà điều hành và Ngân hàng Nhà nước các chi nhánh khu vực liên tiếp ban ban hành nhiều chỉ đạo, yêu cầu tăng cường thanh, kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối trong bối cảnh tỷ giá có dấu hiệu biến động mạnh giữa hệ thống ngân hàng và thị trường "chợ đen".

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ chủ chốt, tăng lên 99,55 điểm, mức cao nhất kể từ đầu tháng 8, tương ứng mức tăng khoảng 2% tháng qua. Đà tăng của USD diễn ra sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell phát tín hiệu thận trọng, cho rằng việc thiếu dữ liệu kinh tế đầy đủ có thể khiến Fed trì hoãn cắt giảm lãi suất lần thứ 3 vào tháng 12. Hiện các nhà giao dịch chỉ còn định giá khả năng cắt giảm lãi suất trong tháng 12 ở mức 71%, giảm so với 85% trước bài phát biểu.

Đồng Euro tiếp tục suy yếu so với USD sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức 2% trong cuộc họp thứ ba liên tiếp và chưa đưa ra tín hiệu rõ ràng về các bước đi tiếp theo.

Theo đó, các đồng tiền mạnh khác bị điều chỉnh giảm tương đối so với VND. Theo đó, tỷ giá EUR tại Vietcombank lùi về 29.651 - 31.214 VND/EUR, giảm 534 - 562 đồng; tại BIDV còn 30.019 - 31.184 VND/EUR, giảm 357 - 387 đồng.

Tỷ giá GBP giảm sâu nhất, Vietcombank mua ở 33.709 VND/GBP, bán ra 35.141 VND/GBP, thấp hơn cuối tháng trước tới 866 - 903 đồng; BIDV cũng giảm khoảng 905 - 925 đồng.

Còn tỷ giá JPY và CNY cũng điều chỉnh giảm trong tháng qua tại nhiều ngân hàng.

Nguồn cung USD hạn chế, lãi suất liên ngân hàng vẫn neo cao

Trong báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ tháng 10, nhóm nghiên cứu Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định, chênh lệch tỷ giá trên thị trường tự do và chính thức đạt mức cao kỷ lục từ trước đến nay.

"Chênh lệch hiếm thấy này cho thấy sự hạn chế trong nguồn cung USD, ở cả trong và ngoài hệ thống, được dẫn chứng bởi việc Ngân hàng Nhà nước cam kết bán ngoại tệ có kỳ hạn cho các ngân hàng thương mại với quy mô khoảng 4,4 tỷ USD từ tháng 8 đến nay" - nhóm phân tích VDSC nhận định.

Ngoài ra, nhu cầu USD trên thị trường tự do tăng đột biến có thể phản ánh sự liên thông giữa thị trường USD tự do và thị trường vàng khi chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới nới rộng.

Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng

Trong ngắn hạn, theo VDSC, nguồn cung ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước đảm bảo trong tương lai đang là "điểm neo" đối với tỷ giá trên thị trường chính thức. Nhiều khả năng sự bất thường trong chênh lệch giữa hai thị trường sẽ không duy trì quá lâu.

“Van” thanh khoản mở chậm, lãi suất nhích tăng

"Việc lãi suất cho vay qua đêm liên tục neo ở mức cao cho thấy sự thận trọng trong việc tăng cường thêm thanh khoản cho hệ thống của nhà điều hành. Trên thị trường 1 (huy động vốn từ người dân và tổ chức), lãi suất huy động của một số ngân hàng ghi nhận mức tăng từ 0,1 - 0,3 điểm phần trăm trong tháng 10. Đồng thời, hiện tượng tặng thêm lãi suất và gia tăng các ưu đãi nhằm tăng huy động vốn trở nên phổ biến hơn trong các tháng cuối năm" - nhóm phân tích VDSC nhận định.

Về diễn biến trên thị trường 2, tuần qua, 29/10, lãi suất liên ngân hàng đồng loạt giảm ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống được cải thiện.

Theo đó, lãi suất qua đêm giảm mạnh 1,65 điểm phần trăm xuống quanh 4,17%, mức thấp nhất trong hơn 1 tháng qua.

Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt giảm 1,1 và 0,6 điểm phần trăm, còn 4,77% và 5,38%. Kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng hạ nhẹ xuống 5,57% và 5,67%, cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn đang dần ổn định sau giai đoạn căng thẳng tạm thời, song mức lãi suất này vẫn ở mức cao.

Trên thị trường mở (OMO), tuần từ 27 - 31/10 ghi nhận khối lượng trúng thầu giảm mạnh so với mức gần 120 nghìn tỷ đồng của tuần trước, chỉ còn 38.509,28 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, với lãi suất duy trì 4%. Trong khi đó, 37.654,7 tỷ đồng đến hạn trên kênh cầm cố, đưa tổng lượng vốn đang lưu hành qua kênh này còn 224.337,66 tỷ đồng.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 854,58 tỷ đồng trong tuần và bơm ròng 39.305,41 tỷ đồng cả tháng 10, góp phần duy trì thanh khoản ổn định trong hệ thống ngân hàng.

Theo quan sát của nhóm phân tích VDSC, từ giữa tháng 6/2025 đến nay, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng nhiều lần tăng vượt mức 5%/năm. Tình trạng này lặp lại từ giữa tháng 10/2025 mặc dù Ngân hàng Nhà nước duy trì quy mô cho vay khá lớn trên kênh cầm cố.

Với sự thận trọng trong điều hành của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng dự báo duy trì ở mức cao trong các tháng cuối năm. Đồng thời, xu hướng tăng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại dần thể hiện rõ hơn trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trong quý cuối năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80