Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng

Ánh Tuyết
Tín dụng toàn ngành ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao kỷ lục 16,56% sau 11 tháng năm 2025. Theo MBS, đà tăng này nhiều khả năng duy trì quanh 20% trong năm 2026, trong bối cảnh bộ đệm dự phòng dần mỏng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì trên 80%. Lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng nửa đầu năm 2026.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Tín dụng tăng kỷ lục, dự báo duy trì quanh 20% năm 2026

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 27/11 năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng gần 11,8%, tương đương mức tăng khoảng 20% so với cùng kỳ.

Trong báo cáo triển vọng 2026 ngành ngân hàng, với tựa đề "Những nỗ lực hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số" mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng 16,56% sau 11 tháng 2025 là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, với động lực chủ yếu vẫn đến từ cho vay doanh nghiệp trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp.

Cũng tính đến ngày 27/11, tổng huy động vốn toàn hệ thống đạt hơn 17,15 triệu tỷ đồng, tăng 12,05% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng 5,87%, tương ứng mức tăng 16% so với cùng kỳ.

"Chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tín dụng cũng là một yếu tố góp phần gia tăng căng thẳng thanh khoản trên các kỳ hạn, đẩy lãi suất tăng trong những tháng cuối năm 2025" - MBS nhận định.

tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm
"Trong năm 2026, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì quanh mức 20% nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng GDP 10%. Bên cạnh việc duy trì tích cực giải ngân đầu tư công, chúng tôi kỳ vọng nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) dự kiến sẽ có mức tăng khả quan hơn trong năm tới" - nhóm phân tích MBS đánh giá.

Năm 2025, nhóm phân tích dự báo tăng trưởng tín dụng ước đạt 20% so với cùng kỳ, nhờ đẩy mạnh đầu tư công và hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng vào tháng cuối năm.

Dự báo động lực tăng trưởng tín dụng năm 2026, theo MBS, chỉ số PMI đã tăng bền vững kể từ tháng 4/2025 và đạt mức 53,8 trong tháng 11/2025, cao nhất từ tháng 7/2024. Bức tranh thuế quan rõ ràng dự kiến sẽ kéo theo đơn hàng mới gia tăng đáng kể giúp tín dụng của nhóm SME phục hồi sau thời gian trì hoãn bởi biến động toàn cầu.

Cho vay tiêu dùng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tín dụng khách hàng cá nhân, đặc biệt sau các đợt thiên tai lớn nhằm phục vụ nhu cầu khôi phục thiệt hại.

Ở chiều ngược lại, cho vay mua nhà dự kiến sẽ chậm lại do lãi suất của phân khúc này có xu hướng tăng theo lãi suất huy động, trong khi dòng tín dụng nhiều khả năng sẽ được ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư công.

Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng niêm yết trong năm 2026 được dự báo sẽ tương đương với năm 2025. Bức tranh tín dụng nhìn chung không có nhiều thay đổi khi áp lực cạnh tranh vẫn ở mức cao, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng nhỏ, trong bối cảnh tín dụng doanh nghiệp tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt chính.

Ngoài nhóm ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng "0 đồng" được cấp hạn mức tín dụng cao hơn mặt bằng chung, dự kiến những ngân hàng có danh mục cho vay tập trung vào khách hàng doanh nghiệp sẽ có mức tăng trưởng tín dụng tốt hơn toàn ngành trong năm 2026, do tín dụng vẫn được ưu tiên cho nhóm khách hàng này nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước ở mức hai con số.

Bên cạnh đó, các ngân hàng sở hữu lợi thế về chi phí vốn như: nhóm ngân hàng quốc doanh hoặc các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao, cũng như năng lực cho vay theo dự án và cho vay chuỗi cung ứng, sẽ có lợi thế rõ rệt khi nhu cầu tín dụng được kỳ vọng cải thiện.

Đánh giá về mặt bằng lãi suất, MBS cho rằng, lãi suất huy động duy trì ở vùng thấp từ giữa năm 2024 đến tháng 9/2025, với mức bình quân lãi suất kỳ hạn 12 tháng đạt 4,8%/năm, sau đó bắt đầu tăng mạnh từ tháng 10/2025.

Xu hướng tăng này tiếp tục về cuối năm vì ba lý do. Một là, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR thuần) của 27 ngân hàng niêm yết đã lên mức cao nhất trong nhiều năm, đạt 111% tại cuối quý III/2025. Hai là, nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm.

Ba là, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng vẫn khá căng thẳng dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm ròng trong 3 tháng gần đây. Lãi suất qua đêm đã tăng lên mức cao trong nhiều năm, đạt 7,35% vào ngày 3/12.

"Chúng tôi cho rằng trong nửa đầu năm 2026, lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng, trong đó lãi suất huy động của nhóm ngân hàng tư nhân có thể tăng thêm từ 25 - 50 điểm cơ bản so với cuối năm 2025, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng nhẹ hơn, khoảng từ 15 - 30 điểm cơ bản" - MBS đánh giá.

Bộ đệm dự phòng mỏng dần, duy trì quanh 80%

Về chất lượng tài sản, toàn ngành ghi nhận sự suy giảm so với cuối năm 2024 dù tăng trưởng tín dụng tích cực, khiến áp lực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu gia tăng đáng kể và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026.

Trong năm 2026, nhóm phân tích MBS cho rằng, chất lượng tài sản toàn ngành sẽ không biến động nhiều so với 2025. Áp lực gia tăng nợ xấu sẽ giảm dần đi, khi tăng trưởng tín dụng khả quan hơn. Nhưng đồng thời bộ đệm trích lập của các ngân hàng cũng đã vơi đi khá nhiều khi tích cực xử lý nợ tồn đọng trong 2 năm gần nhất. Tỷ lệ bao nợ xấu dự kiến vẫn sẽ duy trì trên mức 80% trong năm 2026, nhưng khả năng trên 100% sẽ không quá cao.

Tại thời điểm cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành lần lượt đạt 2% và 1,37%, tăng 9 điểm cơ bản và giảm 24 điểm cơ bản so với cuối năm 2024.

Theo quan sát của MBS, tốc độ gia tăng nợ xấu giảm dần qua từng quý kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023. Dư nợ nhóm 2 và dư nợ xấu lần lượt tăng 24,5% và 41,5% so với cùng kỳ tại cuối năm 2023, nhưng đến cuối quý III/2025 đã ghi nhận mức giảm 3,7% và tăng 8,2% so với cùng kỳ.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành, dù chưa phục hồi về mức trên 100% như giai đoạn hậu đại dịch Covid-19, đã bắt đầu cho thấy dấu hiệu hồi phục, đạt 84,3% tại cuối quý III/2025, tăng nhẹ 4% so với quý trước, dù vẫn thấp hơn mức 91,4% ghi nhận đầu năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng tích cực cùng với việc chủ động trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu là những yếu tố chính giúp chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện rõ nét.

Những ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng tốt như: VPBank, Techcombank, MB hay Vietinbank ghi nhận mức cải thiện chất lượng tài sản tốt hơn mặt bằng chung.

Nhóm phân tích MBS đánh giá cao các cổ phiếu của ngân hàng Vietinbank (CTG), ACB (ACB) và BIDV (BID) nhờ tín dụng được hưởng lợi tiếp tục từ xu hướng đẩy mạnh cho vay đầu tư công; chi phí vốn thấp giúp tạo dư địa tăng trưởng tín dụng và nới rộng biên lãi ròng (NIM). Các ngân hàng cũng có kế hoạch tăng vốn, đặc biệt là vốn cấp 1 nhằm đảm bảo cho tăng trưởng cao và mở rộng sang các mảng kinh doanh mới như: vàng, tài sản số...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80