Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng

Ánh Tuyết
Tín dụng toàn ngành ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao kỷ lục 16,56% sau 11 tháng năm 2025. Theo MBS, đà tăng này nhiều khả năng duy trì quanh 20% trong năm 2026, trong bối cảnh bộ đệm dự phòng dần mỏng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì trên 80%. Lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng nửa đầu năm 2026.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Tín dụng tăng kỷ lục, dự báo duy trì quanh 20% năm 2026

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 27/11 năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng gần 11,8%, tương đương mức tăng khoảng 20% so với cùng kỳ.

Trong báo cáo triển vọng 2026 ngành ngân hàng, với tựa đề "Những nỗ lực hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số" mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng 16,56% sau 11 tháng 2025 là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, với động lực chủ yếu vẫn đến từ cho vay doanh nghiệp trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp.

Cũng tính đến ngày 27/11, tổng huy động vốn toàn hệ thống đạt hơn 17,15 triệu tỷ đồng, tăng 12,05% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng 5,87%, tương ứng mức tăng 16% so với cùng kỳ.

"Chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tín dụng cũng là một yếu tố góp phần gia tăng căng thẳng thanh khoản trên các kỳ hạn, đẩy lãi suất tăng trong những tháng cuối năm 2025" - MBS nhận định.

tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm
"Trong năm 2026, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì quanh mức 20% nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng GDP 10%. Bên cạnh việc duy trì tích cực giải ngân đầu tư công, chúng tôi kỳ vọng nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) dự kiến sẽ có mức tăng khả quan hơn trong năm tới" - nhóm phân tích MBS đánh giá.

Năm 2025, nhóm phân tích dự báo tăng trưởng tín dụng ước đạt 20% so với cùng kỳ, nhờ đẩy mạnh đầu tư công và hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng vào tháng cuối năm.

Dự báo động lực tăng trưởng tín dụng năm 2026, theo MBS, chỉ số PMI đã tăng bền vững kể từ tháng 4/2025 và đạt mức 53,8 trong tháng 11/2025, cao nhất từ tháng 7/2024. Bức tranh thuế quan rõ ràng dự kiến sẽ kéo theo đơn hàng mới gia tăng đáng kể giúp tín dụng của nhóm SME phục hồi sau thời gian trì hoãn bởi biến động toàn cầu.

Cho vay tiêu dùng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tín dụng khách hàng cá nhân, đặc biệt sau các đợt thiên tai lớn nhằm phục vụ nhu cầu khôi phục thiệt hại.

Ở chiều ngược lại, cho vay mua nhà dự kiến sẽ chậm lại do lãi suất của phân khúc này có xu hướng tăng theo lãi suất huy động, trong khi dòng tín dụng nhiều khả năng sẽ được ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư công.

Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng niêm yết trong năm 2026 được dự báo sẽ tương đương với năm 2025. Bức tranh tín dụng nhìn chung không có nhiều thay đổi khi áp lực cạnh tranh vẫn ở mức cao, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng nhỏ, trong bối cảnh tín dụng doanh nghiệp tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt chính.

Ngoài nhóm ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng "0 đồng" được cấp hạn mức tín dụng cao hơn mặt bằng chung, dự kiến những ngân hàng có danh mục cho vay tập trung vào khách hàng doanh nghiệp sẽ có mức tăng trưởng tín dụng tốt hơn toàn ngành trong năm 2026, do tín dụng vẫn được ưu tiên cho nhóm khách hàng này nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước ở mức hai con số.

Bên cạnh đó, các ngân hàng sở hữu lợi thế về chi phí vốn như: nhóm ngân hàng quốc doanh hoặc các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao, cũng như năng lực cho vay theo dự án và cho vay chuỗi cung ứng, sẽ có lợi thế rõ rệt khi nhu cầu tín dụng được kỳ vọng cải thiện.

Đánh giá về mặt bằng lãi suất, MBS cho rằng, lãi suất huy động duy trì ở vùng thấp từ giữa năm 2024 đến tháng 9/2025, với mức bình quân lãi suất kỳ hạn 12 tháng đạt 4,8%/năm, sau đó bắt đầu tăng mạnh từ tháng 10/2025.

Xu hướng tăng này tiếp tục về cuối năm vì ba lý do. Một là, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR thuần) của 27 ngân hàng niêm yết đã lên mức cao nhất trong nhiều năm, đạt 111% tại cuối quý III/2025. Hai là, nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm.

Ba là, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng vẫn khá căng thẳng dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm ròng trong 3 tháng gần đây. Lãi suất qua đêm đã tăng lên mức cao trong nhiều năm, đạt 7,35% vào ngày 3/12.

"Chúng tôi cho rằng trong nửa đầu năm 2026, lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng, trong đó lãi suất huy động của nhóm ngân hàng tư nhân có thể tăng thêm từ 25 - 50 điểm cơ bản so với cuối năm 2025, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng nhẹ hơn, khoảng từ 15 - 30 điểm cơ bản" - MBS đánh giá.

Bộ đệm dự phòng mỏng dần, duy trì quanh 80%

Về chất lượng tài sản, toàn ngành ghi nhận sự suy giảm so với cuối năm 2024 dù tăng trưởng tín dụng tích cực, khiến áp lực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu gia tăng đáng kể và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026.

Trong năm 2026, nhóm phân tích MBS cho rằng, chất lượng tài sản toàn ngành sẽ không biến động nhiều so với 2025. Áp lực gia tăng nợ xấu sẽ giảm dần đi, khi tăng trưởng tín dụng khả quan hơn. Nhưng đồng thời bộ đệm trích lập của các ngân hàng cũng đã vơi đi khá nhiều khi tích cực xử lý nợ tồn đọng trong 2 năm gần nhất. Tỷ lệ bao nợ xấu dự kiến vẫn sẽ duy trì trên mức 80% trong năm 2026, nhưng khả năng trên 100% sẽ không quá cao.

Tại thời điểm cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành lần lượt đạt 2% và 1,37%, tăng 9 điểm cơ bản và giảm 24 điểm cơ bản so với cuối năm 2024.

Theo quan sát của MBS, tốc độ gia tăng nợ xấu giảm dần qua từng quý kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023. Dư nợ nhóm 2 và dư nợ xấu lần lượt tăng 24,5% và 41,5% so với cùng kỳ tại cuối năm 2023, nhưng đến cuối quý III/2025 đã ghi nhận mức giảm 3,7% và tăng 8,2% so với cùng kỳ.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành, dù chưa phục hồi về mức trên 100% như giai đoạn hậu đại dịch Covid-19, đã bắt đầu cho thấy dấu hiệu hồi phục, đạt 84,3% tại cuối quý III/2025, tăng nhẹ 4% so với quý trước, dù vẫn thấp hơn mức 91,4% ghi nhận đầu năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng tích cực cùng với việc chủ động trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu là những yếu tố chính giúp chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện rõ nét.

Những ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng tốt như: VPBank, Techcombank, MB hay Vietinbank ghi nhận mức cải thiện chất lượng tài sản tốt hơn mặt bằng chung.

Nhóm phân tích MBS đánh giá cao các cổ phiếu của ngân hàng Vietinbank (CTG), ACB (ACB) và BIDV (BID) nhờ tín dụng được hưởng lợi tiếp tục từ xu hướng đẩy mạnh cho vay đầu tư công; chi phí vốn thấp giúp tạo dư địa tăng trưởng tín dụng và nới rộng biên lãi ròng (NIM). Các ngân hàng cũng có kế hoạch tăng vốn, đặc biệt là vốn cấp 1 nhằm đảm bảo cho tăng trưởng cao và mở rộng sang các mảng kinh doanh mới như: vàng, tài sản số...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Kim TT/AVPL 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80