Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng

Ánh Tuyết
Tín dụng toàn ngành ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao kỷ lục 16,56% sau 11 tháng năm 2025. Theo MBS, đà tăng này nhiều khả năng duy trì quanh 20% trong năm 2026, trong bối cảnh bộ đệm dự phòng dần mỏng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì trên 80%. Lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng nửa đầu năm 2026.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Tín dụng tăng kỷ lục, dự báo duy trì quanh 20% năm 2026

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 27/11 năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng gần 11,8%, tương đương mức tăng khoảng 20% so với cùng kỳ.

Trong báo cáo triển vọng 2026 ngành ngân hàng, với tựa đề "Những nỗ lực hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số" mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng 16,56% sau 11 tháng 2025 là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, với động lực chủ yếu vẫn đến từ cho vay doanh nghiệp trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp.

Cũng tính đến ngày 27/11, tổng huy động vốn toàn hệ thống đạt hơn 17,15 triệu tỷ đồng, tăng 12,05% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng 5,87%, tương ứng mức tăng 16% so với cùng kỳ.

"Chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tín dụng cũng là một yếu tố góp phần gia tăng căng thẳng thanh khoản trên các kỳ hạn, đẩy lãi suất tăng trong những tháng cuối năm 2025" - MBS nhận định.

tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm
"Trong năm 2026, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì quanh mức 20% nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng GDP 10%. Bên cạnh việc duy trì tích cực giải ngân đầu tư công, chúng tôi kỳ vọng nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) dự kiến sẽ có mức tăng khả quan hơn trong năm tới" - nhóm phân tích MBS đánh giá.

Năm 2025, nhóm phân tích dự báo tăng trưởng tín dụng ước đạt 20% so với cùng kỳ, nhờ đẩy mạnh đầu tư công và hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng vào tháng cuối năm.

Dự báo động lực tăng trưởng tín dụng năm 2026, theo MBS, chỉ số PMI đã tăng bền vững kể từ tháng 4/2025 và đạt mức 53,8 trong tháng 11/2025, cao nhất từ tháng 7/2024. Bức tranh thuế quan rõ ràng dự kiến sẽ kéo theo đơn hàng mới gia tăng đáng kể giúp tín dụng của nhóm SME phục hồi sau thời gian trì hoãn bởi biến động toàn cầu.

Cho vay tiêu dùng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tín dụng khách hàng cá nhân, đặc biệt sau các đợt thiên tai lớn nhằm phục vụ nhu cầu khôi phục thiệt hại.

Ở chiều ngược lại, cho vay mua nhà dự kiến sẽ chậm lại do lãi suất của phân khúc này có xu hướng tăng theo lãi suất huy động, trong khi dòng tín dụng nhiều khả năng sẽ được ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư công.

Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng niêm yết trong năm 2026 được dự báo sẽ tương đương với năm 2025. Bức tranh tín dụng nhìn chung không có nhiều thay đổi khi áp lực cạnh tranh vẫn ở mức cao, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng nhỏ, trong bối cảnh tín dụng doanh nghiệp tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt chính.

Ngoài nhóm ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng "0 đồng" được cấp hạn mức tín dụng cao hơn mặt bằng chung, dự kiến những ngân hàng có danh mục cho vay tập trung vào khách hàng doanh nghiệp sẽ có mức tăng trưởng tín dụng tốt hơn toàn ngành trong năm 2026, do tín dụng vẫn được ưu tiên cho nhóm khách hàng này nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước ở mức hai con số.

Bên cạnh đó, các ngân hàng sở hữu lợi thế về chi phí vốn như: nhóm ngân hàng quốc doanh hoặc các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao, cũng như năng lực cho vay theo dự án và cho vay chuỗi cung ứng, sẽ có lợi thế rõ rệt khi nhu cầu tín dụng được kỳ vọng cải thiện.

Đánh giá về mặt bằng lãi suất, MBS cho rằng, lãi suất huy động duy trì ở vùng thấp từ giữa năm 2024 đến tháng 9/2025, với mức bình quân lãi suất kỳ hạn 12 tháng đạt 4,8%/năm, sau đó bắt đầu tăng mạnh từ tháng 10/2025.

Xu hướng tăng này tiếp tục về cuối năm vì ba lý do. Một là, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR thuần) của 27 ngân hàng niêm yết đã lên mức cao nhất trong nhiều năm, đạt 111% tại cuối quý III/2025. Hai là, nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm.

Ba là, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng vẫn khá căng thẳng dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm ròng trong 3 tháng gần đây. Lãi suất qua đêm đã tăng lên mức cao trong nhiều năm, đạt 7,35% vào ngày 3/12.

"Chúng tôi cho rằng trong nửa đầu năm 2026, lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng, trong đó lãi suất huy động của nhóm ngân hàng tư nhân có thể tăng thêm từ 25 - 50 điểm cơ bản so với cuối năm 2025, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng nhẹ hơn, khoảng từ 15 - 30 điểm cơ bản" - MBS đánh giá.

Bộ đệm dự phòng mỏng dần, duy trì quanh 80%

Về chất lượng tài sản, toàn ngành ghi nhận sự suy giảm so với cuối năm 2024 dù tăng trưởng tín dụng tích cực, khiến áp lực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu gia tăng đáng kể và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026.

Trong năm 2026, nhóm phân tích MBS cho rằng, chất lượng tài sản toàn ngành sẽ không biến động nhiều so với 2025. Áp lực gia tăng nợ xấu sẽ giảm dần đi, khi tăng trưởng tín dụng khả quan hơn. Nhưng đồng thời bộ đệm trích lập của các ngân hàng cũng đã vơi đi khá nhiều khi tích cực xử lý nợ tồn đọng trong 2 năm gần nhất. Tỷ lệ bao nợ xấu dự kiến vẫn sẽ duy trì trên mức 80% trong năm 2026, nhưng khả năng trên 100% sẽ không quá cao.

Tại thời điểm cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành lần lượt đạt 2% và 1,37%, tăng 9 điểm cơ bản và giảm 24 điểm cơ bản so với cuối năm 2024.

Theo quan sát của MBS, tốc độ gia tăng nợ xấu giảm dần qua từng quý kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023. Dư nợ nhóm 2 và dư nợ xấu lần lượt tăng 24,5% và 41,5% so với cùng kỳ tại cuối năm 2023, nhưng đến cuối quý III/2025 đã ghi nhận mức giảm 3,7% và tăng 8,2% so với cùng kỳ.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành, dù chưa phục hồi về mức trên 100% như giai đoạn hậu đại dịch Covid-19, đã bắt đầu cho thấy dấu hiệu hồi phục, đạt 84,3% tại cuối quý III/2025, tăng nhẹ 4% so với quý trước, dù vẫn thấp hơn mức 91,4% ghi nhận đầu năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng tích cực cùng với việc chủ động trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu là những yếu tố chính giúp chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện rõ nét.

Những ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng tốt như: VPBank, Techcombank, MB hay Vietinbank ghi nhận mức cải thiện chất lượng tài sản tốt hơn mặt bằng chung.

Nhóm phân tích MBS đánh giá cao các cổ phiếu của ngân hàng Vietinbank (CTG), ACB (ACB) và BIDV (BID) nhờ tín dụng được hưởng lợi tiếp tục từ xu hướng đẩy mạnh cho vay đầu tư công; chi phí vốn thấp giúp tạo dư địa tăng trưởng tín dụng và nới rộng biên lãi ròng (NIM). Các ngân hàng cũng có kế hoạch tăng vốn, đặc biệt là vốn cấp 1 nhằm đảm bảo cho tăng trưởng cao và mở rộng sang các mảng kinh doanh mới như: vàng, tài sản số...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30