Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng

Tín dụng toàn ngành ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao kỷ lục 16,56% sau 11 tháng năm 2025. Theo MBS, đà tăng này nhiều khả năng duy trì quanh 20% trong năm 2026, trong bối cảnh bộ đệm dự phòng dần mỏng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì trên 80%. Lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng nửa đầu năm 2026.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Tín dụng tăng kỷ lục, dự báo duy trì quanh 20% năm 2026

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 27/11 năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng gần 11,8%, tương đương mức tăng khoảng 20% so với cùng kỳ.

Trong báo cáo triển vọng 2026 ngành ngân hàng, với tựa đề "Những nỗ lực hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số" mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng 16,56% sau 11 tháng 2025 là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, với động lực chủ yếu vẫn đến từ cho vay doanh nghiệp trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp.

Cũng tính đến ngày 27/11, tổng huy động vốn toàn hệ thống đạt hơn 17,15 triệu tỷ đồng, tăng 12,05% so với đầu năm, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ tăng 5,87%, tương ứng mức tăng 16% so với cùng kỳ.

"Chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tín dụng cũng là một yếu tố góp phần gia tăng căng thẳng thanh khoản trên các kỳ hạn, đẩy lãi suất tăng trong những tháng cuối năm 2025" - MBS nhận định.

tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với đầu năm
"Trong năm 2026, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì quanh mức 20% nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng GDP 10%. Bên cạnh việc duy trì tích cực giải ngân đầu tư công, chúng tôi kỳ vọng nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) dự kiến sẽ có mức tăng khả quan hơn trong năm tới" - nhóm phân tích MBS đánh giá.

Năm 2025, nhóm phân tích dự báo tăng trưởng tín dụng ước đạt 20% so với cùng kỳ, nhờ đẩy mạnh đầu tư công và hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng vào tháng cuối năm.

Dự báo động lực tăng trưởng tín dụng năm 2026, theo MBS, chỉ số PMI đã tăng bền vững kể từ tháng 4/2025 và đạt mức 53,8 trong tháng 11/2025, cao nhất từ tháng 7/2024. Bức tranh thuế quan rõ ràng dự kiến sẽ kéo theo đơn hàng mới gia tăng đáng kể giúp tín dụng của nhóm SME phục hồi sau thời gian trì hoãn bởi biến động toàn cầu.

Cho vay tiêu dùng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tín dụng khách hàng cá nhân, đặc biệt sau các đợt thiên tai lớn nhằm phục vụ nhu cầu khôi phục thiệt hại.

Ở chiều ngược lại, cho vay mua nhà dự kiến sẽ chậm lại do lãi suất của phân khúc này có xu hướng tăng theo lãi suất huy động, trong khi dòng tín dụng nhiều khả năng sẽ được ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư công.

Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng niêm yết trong năm 2026 được dự báo sẽ tương đương với năm 2025. Bức tranh tín dụng nhìn chung không có nhiều thay đổi khi áp lực cạnh tranh vẫn ở mức cao, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng nhỏ, trong bối cảnh tín dụng doanh nghiệp tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt chính.

Ngoài nhóm ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng "0 đồng" được cấp hạn mức tín dụng cao hơn mặt bằng chung, dự kiến những ngân hàng có danh mục cho vay tập trung vào khách hàng doanh nghiệp sẽ có mức tăng trưởng tín dụng tốt hơn toàn ngành trong năm 2026, do tín dụng vẫn được ưu tiên cho nhóm khách hàng này nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước ở mức hai con số.

Bên cạnh đó, các ngân hàng sở hữu lợi thế về chi phí vốn như: nhóm ngân hàng quốc doanh hoặc các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao, cũng như năng lực cho vay theo dự án và cho vay chuỗi cung ứng, sẽ có lợi thế rõ rệt khi nhu cầu tín dụng được kỳ vọng cải thiện.

Đánh giá về mặt bằng lãi suất, MBS cho rằng, lãi suất huy động duy trì ở vùng thấp từ giữa năm 2024 đến tháng 9/2025, với mức bình quân lãi suất kỳ hạn 12 tháng đạt 4,8%/năm, sau đó bắt đầu tăng mạnh từ tháng 10/2025.

Xu hướng tăng này tiếp tục về cuối năm vì ba lý do. Một là, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR thuần) của 27 ngân hàng niêm yết đã lên mức cao nhất trong nhiều năm, đạt 111% tại cuối quý III/2025. Hai là, nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm.

Ba là, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng vẫn khá căng thẳng dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm ròng trong 3 tháng gần đây. Lãi suất qua đêm đã tăng lên mức cao trong nhiều năm, đạt 7,35% vào ngày 3/12.

"Chúng tôi cho rằng trong nửa đầu năm 2026, lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng, trong đó lãi suất huy động của nhóm ngân hàng tư nhân có thể tăng thêm từ 25 - 50 điểm cơ bản so với cuối năm 2025, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng nhẹ hơn, khoảng từ 15 - 30 điểm cơ bản" - MBS đánh giá.

Bộ đệm dự phòng mỏng dần, duy trì quanh 80%

Về chất lượng tài sản, toàn ngành ghi nhận sự suy giảm so với cuối năm 2024 dù tăng trưởng tín dụng tích cực, khiến áp lực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu gia tăng đáng kể và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026.

Trong năm 2026, nhóm phân tích MBS cho rằng, chất lượng tài sản toàn ngành sẽ không biến động nhiều so với 2025. Áp lực gia tăng nợ xấu sẽ giảm dần đi, khi tăng trưởng tín dụng khả quan hơn. Nhưng đồng thời bộ đệm trích lập của các ngân hàng cũng đã vơi đi khá nhiều khi tích cực xử lý nợ tồn đọng trong 2 năm gần nhất. Tỷ lệ bao nợ xấu dự kiến vẫn sẽ duy trì trên mức 80% trong năm 2026, nhưng khả năng trên 100% sẽ không quá cao.

Tại thời điểm cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành lần lượt đạt 2% và 1,37%, tăng 9 điểm cơ bản và giảm 24 điểm cơ bản so với cuối năm 2024.

Theo quan sát của MBS, tốc độ gia tăng nợ xấu giảm dần qua từng quý kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023. Dư nợ nhóm 2 và dư nợ xấu lần lượt tăng 24,5% và 41,5% so với cùng kỳ tại cuối năm 2023, nhưng đến cuối quý III/2025 đã ghi nhận mức giảm 3,7% và tăng 8,2% so với cùng kỳ.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành, dù chưa phục hồi về mức trên 100% như giai đoạn hậu đại dịch Covid-19, đã bắt đầu cho thấy dấu hiệu hồi phục, đạt 84,3% tại cuối quý III/2025, tăng nhẹ 4% so với quý trước, dù vẫn thấp hơn mức 91,4% ghi nhận đầu năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng tích cực cùng với việc chủ động trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu là những yếu tố chính giúp chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện rõ nét.

Những ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng tốt như: VPBank, Techcombank, MB hay Vietinbank ghi nhận mức cải thiện chất lượng tài sản tốt hơn mặt bằng chung.

Nhóm phân tích MBS đánh giá cao các cổ phiếu của ngân hàng Vietinbank (CTG), ACB (ACB) và BIDV (BID) nhờ tín dụng được hưởng lợi tiếp tục từ xu hướng đẩy mạnh cho vay đầu tư công; chi phí vốn thấp giúp tạo dư địa tăng trưởng tín dụng và nới rộng biên lãi ròng (NIM). Các ngân hàng cũng có kế hoạch tăng vốn, đặc biệt là vốn cấp 1 nhằm đảm bảo cho tăng trưởng cao và mở rộng sang các mảng kinh doanh mới như: vàng, tài sản số...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,190
USD20 25,667 25,817 26,190
USD1 25,647 25,817 26,190
AUD 17,823 17,923 19,031
EUR 28,572 28,672 30,331
CAD 17,810 17,910 19,216
SGD 20,026 20,176 21,332
JPY 161.25 162.75 168.28
GBP 33,817 33,967 35,280
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30