Đưa thị trường trái phiếu tăng tốc, giải "cơn khát" vốn cho giai đoạn tới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), trong 5 năm tới, nền kinh tế Việt Nam cần bổ sung khoảng 250 - 350 tỷ USD vốn đầu tư, mở ra dư địa lớn huy động vốn qua thị trường trái phiếu. Yêu cầu then chốt là mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực, phát triển các sản phẩm trái phiếu kỳ hạn dài tới 10 năm, cùng nâng hạng tín nhiệm quốc gia để vươn ra thị trường vốn quốc tế.
aa

Nhu cầu vốn tăng tốc khi tăng trưởng GDP vượt 10%

Chia sẻ tại Hội thảo "Đa dạng vốn cho phát triển bền vững" do Báo Tài chính - Đầu tư vừa tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, tính đến tháng 10/2025, quy mô dư nợ trái phiếu doanh nghiệp xanh xấp xỉ 1 tỷ USD. Đây là con số rất ấn tượng, bởi thị trường này hình thành và phát triển muộn hơn.

"Song song với sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh, Bộ Tài chính đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan để xây dựng đề án thí điểm phát hành trái phiếu Chính phủ xanh, với kỳ vọng đề án này sẽ sớm được trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2026 để tổ chức triển khai thực hiện" - bà Tâm thông tin thêm.

Đưa thị trường trái phiếu tăng tốc,  giải
Giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu huy động vốn đầu tư phát triển nền kinh tế dự kiến tăng gấp đôi so với giai đoạn 2021 - 2025. Ảnh: TL

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu huy động vốn đầu tư phát triển nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, dự kiến tăng gấp đôi so với giai đoạn 2021 - 2025. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội lớn để huy động vốn qua thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Dự báo nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng rất mạnh, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam phân tích, trước đây, tỷ lệ đầu tư công khoảng 6% GDP/năm; bước sang giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến tăng lên 8% GDP, song quy mô tuyệt đối ước tăng thêm 50 - 70 tỷ USD.

"Thị trường trái phiếu hiện nay chủ yếu vẫn cung cấp nguồn vốn ngắn đến trung hạn, nhưng các nguồn vốn dài hạn trên 10 năm hầu như chưa có. Đây là một hạn chế của thị trường trái phiếu Việt Nam. Trong thời gian tới, lĩnh vực này cần được phát triển rất mạnh, bởi về lâu dài, đây chính là kênh cung cấp vốn dài hạn và ổn định nhất cho doanh nghiệp".

Ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB

Cùng với đó, đầu tư toàn xã hội dự kiến tăng từ mức khoảng 32% GDP lên 40% GDP, tương ứng với nhu cầu vốn bổ sung khoảng 250 - 350 tỷ USD trong 5 năm tới.

Cũng theo Kinh tế trưởng ADB, theo kế hoạch tài chính giai đoạn 2026 - 2030, chi đầu tư dự kiến tăng 136%, trong khi chi thường xuyên tăng 28%.

Nhu cầu vốn đầu tư tăng tốc trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 10%/năm từ năm 2026 trở đi. So sánh với tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 30 năm qua của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, ông Hùng cho rằng, đây là mục tiêu đầy tham vọng. Trong 30 năm qua, chỉ có Trung Quốc duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 10%, trong khi các “con hổ châu Á” như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan đạt mức cao nhất khoảng trên 9%. Điều này đặt ra yêu cầu cao về nguồn lực và cách thức huy động vốn.

Giải bài toán huy động vốn trung và dài hạn cho phát triển

Vấn đề đặt ra là trong bối cảnh này, làm thế nào để huy động được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, ông Nguyễn Bá Hùng cho biết, hiện dư nợ trái phiếu Chính phủ Việt Nam khoảng 20% GDP, thấp hơn đáng kể so với nhiều nước trong khu vực, cho thấy còn nhiều dư địa mở rộng. Ngoài ra, tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trái phiếu Chính phủ gần như bằng 0, trong khi tại nhiều quốc gia trong khu vực, con số này có thể lên tới khoảng 20%.

Việc nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu Chính phủ bằng đồng nội tệ hiện vẫn chưa thực hiện được ở Việt Nam, dù kinh nghiệm quốc tế cho thấy điều này hoàn toàn khả thi và cần được nghiên cứu, thúc đẩy thời gian tới.

Với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, theo ông Hùng, quy mô tại nhiều nước ASEAN vẫn dưới 1.000 tỷ USD, trong khi Trung Quốc và Hàn Quốc cao hơn đáng kể. Điều này cho thấy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển.

Trước nhu cầu vốn gia tăng giai đoạn tới, lãnh đạo Vụ Các định chế tài chính cũng thẳng thắn chỉ rõ hạn chế lớn của thị trường vốn và thị trường trái phiếu là cơ sở nhà đầu tư còn mỏng, thiếu vắng các nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính mạnh và nguồn vốn dài hạn.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, với trái phiếu Chính phủ, nhà đầu tư chủ yếu là các tổ chức tài chính phi ngân hàng như: bảo hiểm xã hội, các doanh nghiệp bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các ngân hàng thương mại. Trong năm 2025, khối lượng huy động vốn trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch được đặt ra ở mức cao hơn so với các năm trước, song hiện đạt trên 60% kế hoạch.

"Ngân hàng thương mại từ xưa đến nay vẫn là nhà đầu tư chủ chốt trên thị trường trái phiếu Chính phủ, nhưng trong năm 2025, các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho tăng trưởng tín dụng, khiến lượng vốn nhàn rỗi dành cho đầu tư vào trái phiếu Chính phủ bị hạn chế" - đại diện Bộ Tài chính bày tỏ.

Từ thực tế đó, bài toán đặt ra để thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu nói chung và thị trường trái phiếu xanh nói riêng trong thời gian tới là phải phát triển cơ sở nhà đầu tư, coi đây là yêu cầu then chốt và có ý nghĩa quyết định.

Lãnh đạo Vụ Các định chế tài chính cho biết, Bộ Tài chính đang phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để triển khai nhiệm vụ này, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của nhiều bộ, ngành liên quan.

Nâng hạng tín nhiệm quốc gia giúp hạ giá vốn, hướng ra "biển lớn"

Ông Trần Lê Minh - Tổng Giám đốc VIS Rating cho biết, nếu Chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, lãi suất phải trả sẽ cao hơn khoảng 4,02% so với lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm. Trong khi đó, một số quốc gia trong khu vực có xếp hạng tín nhiệm quốc tế tốt hơn, như Thái Lan chỉ phải trả mức phần bù rủi ro khoảng 1,93%. Theo ông Minh, nếu Việt Nam nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, không chỉ Chính phủ, mà cả doanh nghiệp khi huy động vốn từ thị trường quốc tế có thể tiết kiệm lãi suất 1,1 - 2%/năm.

Với trái phiếu xanh, Tổng Giám đốc VIS Rating thẳng thắn nhìn nhận, thực tế các tổ chức phát hành hầu như không được hưởng lợi ích tài chính trực tiếp so với việc phát hành trái phiếu thông thường, xét trên phương diện lãi suất phải chi trả.

Quan sát các dự án hợp tác công - tư (PPP) trên thế giới, ông Minh cho biết, trong giai đoạn đầu tư, thường kéo dài khoảng 3 - 5 năm, các dự án này chủ yếu sử dụng vốn ngân hàng do khả năng huy động nhanh. Tuy nhiên, khi dự án gần hoàn thành và bắt đầu hình thành dòng tiền, phần vốn vay ngân hàng sẽ được hoàn trả và phát hành trái phiếu dài hạn có thể kéo dài 10 năm hoặc thậm chí 20 năm, tồn tại song song với quá trình hoàn vốn của dự án.

"Vì vậy, việc phát hành trái phiếu dài hạn, từng bước phát hành ra thị trường quốc tế, gần như là con đường chắc chắn các doanh nghiệp phải đi" - Tổng Giám đốc VIS Rating nhấn mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80