Huy động nguồn lực tài chính, mở không gian tăng trưởng GDP trên 10%

Ánh Tuyết
Để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% giai đoạn tới, huy động nguồn lực tài chính đủ lớn, phù hợp với mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ được xác định là nhiệm vụ then chốt. Trong bối cảnh nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án trọng điểm gia tăng, việc cân bằng các kênh huy động vốn và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế trở nên cấp thiết.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới Tín dụng vượt 18 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước hoán đổi ngoại tệ hỗ trợ thanh khoản

Hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng cao

Phát biểu tại Phiên chuyên đề tài chính - ngân hàng tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 với chủ đề “Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030” diễn ra ngày 16/12, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước đã đặt mục tiêu tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025 và tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới nhóm nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045.

Đây là những mục tiêu chiến lược, thể hiện quyết tâm, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Huy động nguồn lực tài chính, mở không gian tăng trưởng GDP trên 10%
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà phát biểu tại phiên chuyên đề tài chính - ngân hàng. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Để hiện thực hóa khát vọng đó, theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà, yêu cầu cấp thiết đặt ra là Việt Nam phải đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục, ổn định và bền vững trong giai đoạn phát triển tới.

Trong đó, mục tiêu tăng trưởng “hai con số” có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo tiền đề vững chắc trong việc thu hẹp nhanh khoảng cách với các nước đi trước; kết hợp với nâng cao năng lực tự chủ và hiệu quả hội nhập kinh tế, qua đó khẳng định được vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.

"Việc huy động nguồn lực về vốn đảm bảo đủ lớn, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, thúc đẩy nền kinh tế vận hành theo mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng có tầm ảnh hưởng quyết định đến mục tiêu tăng trưởng “2 con số” đã đặt ra" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nhấn mạnh.

Trong năm 2025, nhiều Nghị quyết quan trọng đã được ban hành, tạo nền tảng thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, đặc biệt là là “bộ tứ trụ cột”: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế; Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật và Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.

"Đây là những “trụ cột chính sách” tập trung vào các đột phá chiến lược, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đó, đã hiệu triệu được sự vào cuộc đồng bộ, sáng tạo của cả hệ thống chính trị cùng sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, người dân và giới tri thức" - Phó Thống đốc nhấn mạnh.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, diễn biến phức tạp, các cú sốc về kinh tế, chính trị, biến đổi khí hậu… có tác động không thuận lợi đến kinh tế của đất nước, cần khuôn khổ chính sách đủ mạnh, cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả phân bổ vốn theo tín hiệu thị trường, sẽ là nền tảng để nền kinh tế chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ngân hàng vào cuộc quyết liệt để dẫn vốn

Chia sẻ cụ thể về các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, các giải pháp tín dụng, tín dụng ngành, lĩnh vực đã được triển khai quyết liệt, góp phần tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng và phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Huy động nguồn lực tài chính, mở không gian tăng trưởng GDP trên 10%
Các đại biểu thảo luận về định hướng chính sách tín dụng ngân hàng và phát triển thị trường vốn để tạo không gian cho các động lực tăng trưởng.

Trong đó, ngành ngân hàng tích cực triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, đặc biệt là chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do một số nguyên nhân như: đại dịch Covid-19, thiên tai, khó khăn trong sản xuất kinh doanh..., tạo điều kiện cho 1,3 triệu khách hàng được cơ cấu nợ với giá trị nợ gốc, lãi khoảng 1 triệu tỷ đồng.

Đồng thời, đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo; tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình này.

"Một số chương trình rất hiệu quả/nhiều lần được nâng quy mô như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản 4 lần được nâng quy mô, hiện tại là 185 nghìn tỷ đồng, đến nay đã giải ngân được 94%; chương trình cho vay liên kết lúa gạo theo Quyết định 1490/QĐ-TTg đến cuối tháng 10/2025, doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình trong vòng 05 tháng đạt gần 3.000 tỷ đồng" - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế nêu rõ.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, tăng trưởng tín dụng đã đạt kết quả tích cực. Đến ngày 27/11/2025, dư nợ tín dụng đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024 và tăng gần gấp đôi so với đầu giai đoạn vừa qua. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế.

Theo bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội tăng cao. Nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia là rất lớn, tạo áp lực cho các tổ chức tín dụng trong cung ứng vốn tín dụng để thực hiện dự án cũng như rủi ro kỳ hạn cho các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh kết quả đạt được, lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thẳng thắn nhìn nhận, hoạt động tín dụng ngân hàng còn gặp một số khó khăn, thách thức.

Theo đó, một số chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực còn gặp khó khăn trong quá trình triển khai như: Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ khó khăn do nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế.

Bên cạnh các giải pháp nêu trên, ngành ngân hàng rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ của các ban, bộ, ngành đối với hoạt động tín dụng ngân hàng và có các giải pháp/tham mưu cấp có thẩm quyền các giải pháp phát triển thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, tạo kênh dẫn vốn trung, dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các nút thắt trong đầu tư, kinh doanh để tăng khả năng hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có định hướng đầu tư tín dụng phù hợp.

Tại phiên thảo luận chuyên đề về tài chính - ngân hàng tập trung làm rõ ba nhóm vấn đề lớn. Thứ nhất, dự báo nhu cầu vốn và khả năng huy động các nguồn lực phục vụ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030. Thứ hai, định hướng chính sách tín dụng ngân hàng và phát triển thị trường vốn để tạo không gian cho các động lực tăng trưởng như: kinh tế tư nhân, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn. Thứ ba, tham vấn các đề xuất và khuyến nghị chính sách nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng trong việc huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực trong ngoài nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Kim TT/AVPL 17,010 ▼370K 17,360 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Nguyên Liệu 99.99 15,550 ▼370K 15,750 ▼370K
Nguyên Liệu 99.9 15,500 ▼370K 15,700 ▼370K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 ▼420K 16,850 ▼320K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 ▼420K 16,800 ▼320K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 ▼420K 16,780 ▼320K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Hà Nội - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Đà Nẵng - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Miền Tây - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Tây Nguyên - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
NL 99.90 15,520 ▼350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550 ▼350K
Trang sức 99.9 16,490 ▼350K 17,190 ▼350K
Trang sức 99.99 16,500 ▼350K 17,200 ▼350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1567K 17,352 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1567K 17,353 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,698 ▼37K 1,733 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,698 ▼37K 1,734 ▼32K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,678 ▼37K 1,718 ▲1543K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▼3168K 170,099 ▼3168K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▼2400K 129,013 ▼2400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▼2176K 116,986 ▼2176K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▼1953K 104,958 ▼1953K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▼1866K 100,319 ▼1866K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▼1334K 71,798 ▼1334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Cập nhật: 02/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17571 17843 18419
CAD 18386 18663 19280
CHF 32267 32650 33298
CNY 0 3470 3830
EUR 29715 29987 31012
GBP 33958 34347 35273
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19916 20198 20726
THB 719 782 835
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,945 29,969 31,208
JPY 160.99 161.28 169.95
GBP 34,280 34,373 35,351
AUD 17,844 17,908 18,471
CAD 18,633 18,693 19,264
CHF 32,650 32,752 33,506
SGD 20,102 20,165 20,833
CNY - 3,760 3,880
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.07 16.76 18.12
THB 770.41 779.93 830.4
NZD 14,766 14,903 15,252
SEK - 2,734 2,813
DKK - 4,008 4,123
NOK - 2,665 2,742
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,113.41 - 6,860.69
TWD 745.48 - 897.54
SAR - 6,917.38 7,241.41
KWD - 83,795 88,608
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26362
AUD 17748 17848 18779
CAD 18568 18668 19682
CHF 32523 32553 34140
CNY 3758.7 3783.7 3918.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29900 29930 31653
GBP 34258 34308 36069
HKD 0 3355 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20072 20202 20935
THB 0 748.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 16000000 16000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,362
USD20 26,168 26,218 26,362
USD1 26,168 26,218 26,362
AUD 17,807 17,907 19,016
EUR 30,073 30,073 31,484
CAD 18,526 18,626 19,935
SGD 20,160 20,310 20,875
JPY 162.13 163.63 168.21
GBP 34,211 34,561 35,428
XAU 16,878,000 0 17,282,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80