Tín dụng vượt 18 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước hoán đổi ngoại tệ hỗ trợ thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2025, tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024 và cao hơn nhiều so với các năm trước. Trước áp lực thanh khoản gia tăng dịp cuối năm, Ngân hàng Nhà nước triển khai thêm nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ nhằm giữ ổn định thị trường tiền tệ.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/12: Thanh khoản hụt “oxy”, lãi suất liên ngân hàng áp sát 7,5%

Thông tin tại họp báo Chính phủ vừa qua, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, tín dụng tăng trưởng khả quan, tích cực so với các năm. Đến ngày 27/11, tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024. Trong khi đó, cùng kỳ năm 2024, tín dụng 11 tháng tăng 11,47% so với cuối năm 2023; cuối năm 2024 tăng 15,09% so với cuối năm 2023.

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, những kết quả đạt được trong công tác điều hành chính sách tiền tệ đã góp phần kiểm soát tốt lạm phát và phù hợp với mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đề ra (bình quân 11 tháng 2025 lạm phát chung là 3,29% (mục tiêu là 4,5 - 5%), lạm phát cơ bản là 3,21%; tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2025 đạt mức 7,85% và duy trì đà tăng trưởng, giúp Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng ổn định vĩ mô.

Cùng với đó, thanh khoản hệ thống tổ chức tín dụng được đảm bảo, thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Trong đó, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giữ ổn định và có xu hướng giảm. Thị trường ngoại tệ thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.

Thông tin mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,5 - 9%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (4%/năm).

Thời gian gần đây, một số tổ chức tín dụng gia tăng nhu cầu thanh khoản. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, nhất là dịp cuối năm, bên cạnh kênh cung ứng tiền qua kênh nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nghiệp vụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng để ổn định thị trường tiền tệ.

Tín dụng vượt 18 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước hoán đổi ngoại tệ hỗ trợ thanh khoản
Đến ngày 27/11, tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm 2024. Ảnh minh hoạ.

Về diễn biến của tỷ giá, chia sẻ với báo chí gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, tính đến đầu tháng 12/2025, tỷ giá USD/VND tăng khoảng 3,5% so với cuối năm 2024. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt.

Thời gian qua, thị trường ngoại tệ và tỷ giá VND trong một số giai đoạn chịu áp lực từ một số yếu tố bên ngoài và biến động ngắn hạn của thị trường. Đến nay, các yếu tố này có dấu hiệu ổn định hơn, trong khi hoạt động thương mại và các cán cân đối ngoại của Việt Nam tiếp tục duy trì khả quan. Trên cơ sở các yếu tố nền tảng vĩ mô được duy trì, cân đối cung - cầu ngoại tệ trong trung và dài hạn dự kiến được hỗ trợ, tạo điều kiện cho môi trường tỷ giá ổn định hơn.

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đánh giá, trong thời gian tới, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, các nước lớn gia tăng hàng rào bảo hộ thương mại. Triển vọng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương, nhất là Mỹ, khó dự báo, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế cũng như đồng tiền của các quốc gia mới nổi và đang phát triển, thách thức đối với điều hành lãi suất, tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến, tình hình kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính - tiền tệ trong và ngoài nước, trong đó có quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và lộ trình, định hướng về lãi suất của Fed được công bố vào giữa tuần này để điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ.

Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho tổ chức tín dụng một cách linh hoạt qua nhiều kênh, qua đó ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, đặc biệt trong thời gian cao điểm cuối năm, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,410 ▲290K 15,010 ▲290K
Trang sức 99.99 14,420 ▲290K 15,020 ▲290K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18202 18477 19052
CAD 18416 18693 19312
CHF 32021 32403 33049
CNY 0 3840 3950
EUR 29909 30132 31213
GBP 34871 35264 36199
HKD 0 3205 3407
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15895
SGD 20057 20339 20910
THB 716 779 833
USD (1,2) 25883 0 0
USD (5,10,20) 25922 0 0
USD (50,100) 25951 25965 26333
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,956 30,076 31,275
GBP 35,029 35,170 36,209
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,092 32,221 33,163
JPY 160.46 161.10 169.08
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,227 20,308 20,907
THB 781 784 821
CAD 18,596 18,671 19,268
NZD 15,367 15,917
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25930 25930 26330
AUD 18388 18488 19411
CAD 18582 18682 19697
CHF 32257 32287 33869
CNY 3828.5 3853.5 3988.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30082 30112 31837
GBP 35164 35214 36975
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15419 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20215 20345 21066
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,930 25,980 26,310
USD20 25,880 25,980 26,830
USD1 25,830 25,980 26,880
AUD 18,406 18,506 19,646
EUR 29,830 29,930 31,633
CAD 18,517 18,617 19,948
SGD 20,261 20,411 21,693
JPY 161.25 162.75 168.54
GBP 35,011 35,161 36,530
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 14:00
Ngân hàng