Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm

(TBTCO) - Bức tranh huy động năm 2025 cho thấy sự phân hóa rõ nét. Theo đó, nhóm ngân hàng tư nhân tăng tốc mạnh, có ngân hàng tăng tới 47%, trong khi nhiều nhà băng khác tăng dưới 10%, hụt hơi so với nhịp tăng tín dụng; còn nhóm quốc doanh dẫn đầu về quy mô. Tính chung 27 ngân hàng niêm yết tăng 15% về tiền gửi khách hàng, lên 12,8 triệu tỷ đồng, quý cuối năm bứt tốc nhờ cú hích lãi suất.
aa

"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Nhóm tư nhân bứt tốc, nhiều ngân hàng vẫn chậm nhịp

Tại Hội nghị Nhà đầu tư vừa tổ chức, lãnh đạo MB bật mí năm 2026 ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng huy động quanh 35%, qua đó, củng cố nền tảng thanh khoản cho chu kỳ tăng trưởng mới và tạo dư địa mở rộng tín dụng. Trước đó, trong năm 2025, MB cùng VPBank là hai ngân hàng nổi trội trong nhóm nhà băng quy mô lớn ghi nhận mức tăng tiền gửi khách hàng lên tới 29%.

Tính cả phát hành giấy tờ có giá, tổng huy động năm 2025 của MB tăng tới 32%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng cao.

Theo đánh giá của ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB, trong 5 năm qua, tốc độ tăng huy động của MB đứng đầu trong nhóm các ngân hàng được so sánh, những con số này thể hiện MB rất tích cực trong việc huy động khách hàng. Một trọng tâm xuyên suốt là ngân hàng tối ưu bảng cân đối và tỷ lệ cho vay trên huy động, nhằm đảm bảo hiệu quả về cho vay.

Trước lo ngại về khả năng cạnh tranh lãi suất huy động trong năm 2026, đại diện MB cho rằng không quá quan ngại, bởi định hướng điều hành hiện vẫn song hành giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng.

"Hiện rất nhiều lựa chọn ngân hàng để gửi tiền. Thay chỉ vì nhìn lãi suất tiền gửi như những năm trước đây, khách hàng đánh giá nhiều về các sản phẩm dịch vụ tổng thể ngân hàng mang lại, cho nên MB khá tự tin việc huy động vốn năm sau" - đại diện MB nhấn mạnh.

Với VPBank, tăng trưởng huy động của ngân hàng cũng rất ấn tượng, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng. Trong đó, VPBank thu hút các nguồn huy động trung và dài hạn gần 2,4 triệu USD từ các tổ chức quốc tế.

"Nhiệm vụ tăng trưởng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) hay tăng trưởng huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng nhất của của ngân hàng, của tất cả các phân khúc, bảo đảm câu chuyện của thanh khoản và tăng trưởng tín dụng cao ở tất cả các phân khúc khách hàng" - đại diện VPBank bày tỏ.

Đồ họa: Ánh Tuyết
Bên cạnh nhóm tăng tốc mạnh, có tới 10/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tiền gửi dưới 10%. Đáng chú ý, một số ngân hàng chỉ đạt mức tăng 4 - 5%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng tới 4 - 5 lần, qua đó, tạo áp lực đáng kể lên cân đối nguồn vốn. Nhóm mở rộng tiền gửi ở mức khiêm tốn gồm: VIB tăng 6,6%, BVBank tăng 6%, OCB tăng 5,3%; thấp nhất là BacABank với 3,7%.

Khảo sát của phóng viên cũng cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, xét riêng về tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng năm 2025, dẫn đầu toàn nhóm khảo sát là ABBank với mức tăng 47,1%, bỏ xa phần còn lại và thể hiện nỗ lực mở rộng nền khách hàng cũng như cải thiện năng lực huy động. Theo sau là NCB với mức tăng 32,6%.

Trong khi đó, VPBank và MB lần lượt ghi nhận mức tăng 29,3% và 29%, duy trì đà tăng cao trong nhóm ngân hàng quy mô lớn.

HDBank và MSB cũng nổi bật với mức tăng 28,2% và 27,2%, cho thấy nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đang cạnh tranh quyết liệt trong việc gia tăng thị phần huy động.

Theo đại diện MSB, sự tăng trưởng huy động phản ánh rõ nét hiệu quả của việc triển khai các sản phẩm trên kênh số như: tài khoản cho cá nhân, doanh nghiệp, sinh lời với lợi suất hấp dẫn, chương trình chăm sóc khách hàng gắn bó… đáp ứng tính tiện ích và phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng. MSB cũng duy trì tỷ lệ CASA ở mức cao 28,9%, giúp ngân hàng có lợi thế lớn về chi phí vốn.

“Ông lớn” quốc doanh dẫn đầu, huy động tăng tốc cuối năm

Bức tranh tiền gửi khách hàng cũng cho thấy nhóm “ông lớn” quốc doanh vẫn giữ vị thế dẫn dắt tuyệt đối về quy mô huy động.

Dẫn đầu là BIDV với 2,2 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 13,8% so với năm 2024. Đây là năm đầu tiên ngân hàng này vượt mốc 2 triệu tỷ đồng và cũng là tổ chức duy nhất trong nhóm khảo sát chạm tới cột mốc này. VietinBank xếp sau với gần 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%, trong khi Vietcombank đạt 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 10,4%.

Quy mô vượt trội của ba ngân hàng quốc doanh phản ánh lợi thế bền vững về thương hiệu, mạng lưới rộng khắp, tập khách hàng doanh nghiệp nhà nước cùng dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước. Nhờ đó, nhóm này duy trì năng lực hút vốn ổn định, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất ngắn hạn.

Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồn, dòng chảy được “kích hoạt” bởi lãi suất
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm. Ảnh tư liệu.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, MB nổi bật với lượng tiền gửi lên 921,4 nghìn tỷ đồng; VPBank đạt 628 nghìn tỷ đồng. Techcombank tăng 16% lên 619 nghìn tỷ đồng; Sacombank tăng 9,1% lên 618,4 nghìn tỷ đồng.

Cả ba ngân hàng này (VPBank, Techcombank và Sacombank) lần đầu vượt ngưỡng 600 nghìn tỷ đồng tiền gửi.

Bên cạnh đó, ACB đạt 585.180 tỷ đồng, tăng 8,9%. Đại diện ACB cho biết, ở phân khúc cá nhân, ACB tiếp tục mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với các giải pháp khác biệt như: thẻ Lotusmiles Pay, chứng chỉ tiền gửi linh hoạt, phản ánh định hướng lấy khách hàng làm trung tâm và tạo giá trị thực chất. Còn CASA khách hàng doanh nghiệp cải thiện rõ nét nhờ các giải pháp tài chính chuyên biệt theo ngành nghề, từ dệt may, nhựa, FDI đến nông thủy sản.

Dù khoảng cách quy mô với nhóm quốc doanh vẫn còn lớn, các ngân hàng tư nhân đang từng bước mở rộng thị phần nhờ đẩy mạnh số hóa, cải thiện trải nghiệm khách hàng và linh hoạt điều chỉnh chính sách lãi suất trong môi trường cạnh tranh thanh khoản ngày càng cao.

Trong báo cáo cập nhật về ngành ngân hàng, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ghi nhận tăng trưởng huy động của ngành cuối năm 2025 đạt 16,8%, dù đã tăng tốc so với cuối quý III/2025 (11,4%), nhưng vẫn chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng (19,5%).

Trong đó, tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 15%, trong khi quý III/2025 mới tăng 10,2%; cùng tăng trưởng huy động từ giấy tờ có giá tăng lên 32,7%, cao hơn quý III/2025 (21,7%)./.

Giải tỏa áp lực lớn về thanh khoản quý IV/2025

Theo chuyên gia phân tích VDSC, sự tăng tốc trong tăng trưởng huy động cuối anwm 2025 được hỗ trợ bởi tốc độ giải ngân tăng nhanh vào cuối năm và xu hướng nâng lãi suất huy động, vốn đã diễn ra trước đó từ quý III/2025 ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhằm giải tỏa áp lực rất lớn về thanh khoản trong giai đoạn cuối năm khi tín dụng tăng nóng và quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước giảm 55 nghìn tỷ đồng trong quý IV/2025.

Các ngân hàng tiếp tục gia tăng quy mô huy động trên thị trường liên ngân hàng trong quý IV/2025, đưa lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên mức 7% trong nửa đầu tháng 12/2025.

Cùng với đó, từ ngày 4/12, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất trên kênh cầm cố thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5% để khống chế lãi suất trên thị trường mở, kéo theo sự điều chỉnh lãi suất huy động của các ngân hàng quốc doanh vào hai tuần cuối của năm 2025.

"Sự điều chỉnh của lãi suất huy động cũng đã góp phần hạ nhiệt áp lực thanh khoản vào thời điểm cuối năm với tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) ước tính tại phần lớn các ngân hàng thương mại giảm từ 1 - 5 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025" - chuyên gia phân tích VDSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,680 ▲130K 14,280 ▲130K
Trang sức 99.99 13,690 ▲130K 14,290 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17530 17802 18381
CAD 17665 17939 18557
CHF 30541 30917 31556
CNY 0 3823 3919
EUR 28435 28652 29735
GBP 33473 33861 34798
HKD 0 3166 3369
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14215 14803
SGD 19675 19956 20536
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26065
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,405 28,548 29,772
GBP 33,565 33,734 34,763
HKD 3,222 3,238 3,355
CHF 30,566 30,720 31,667
JPY 159.10 160.22 168.18
AUD 17,683 17,772 18,368
SGD 19,824 19,924 20,518
THB 750 754 791
CAD 17,834 17,924 18,520
NZD 14,270 14,825
KRW 18.59 20.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25660 26040
AUD 17703 17803 18725
CAD 17837 17937 18953
CHF 30707 30737 32322
CNY 3800.7 3825.7 3960.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28579 28609 30331
GBP 33715 33765 35536
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14321 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19823 19953 20675
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30