Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh huy động năm 2025 cho thấy sự phân hóa rõ nét. Theo đó, nhóm ngân hàng tư nhân tăng tốc mạnh, có ngân hàng tăng tới 47%, trong khi nhiều nhà băng khác tăng dưới 10%, hụt hơi so với nhịp tăng tín dụng; còn nhóm quốc doanh dẫn đầu về quy mô. Tính chung 27 ngân hàng niêm yết tăng 15% về tiền gửi khách hàng, lên 12,8 triệu tỷ đồng, quý cuối năm bứt tốc nhờ cú hích lãi suất.
aa

"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Nhóm tư nhân bứt tốc, nhiều ngân hàng vẫn chậm nhịp

Tại Hội nghị Nhà đầu tư vừa tổ chức, lãnh đạo MB bật mí năm 2026 ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng huy động quanh 35%, qua đó, củng cố nền tảng thanh khoản cho chu kỳ tăng trưởng mới và tạo dư địa mở rộng tín dụng. Trước đó, trong năm 2025, MB cùng VPBank là hai ngân hàng nổi trội trong nhóm nhà băng quy mô lớn ghi nhận mức tăng tiền gửi khách hàng lên tới 29%.

Tính cả phát hành giấy tờ có giá, tổng huy động năm 2025 của MB tăng tới 32%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng cao.

Theo đánh giá của ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB, trong 5 năm qua, tốc độ tăng huy động của MB đứng đầu trong nhóm các ngân hàng được so sánh, những con số này thể hiện MB rất tích cực trong việc huy động khách hàng. Một trọng tâm xuyên suốt là ngân hàng tối ưu bảng cân đối và tỷ lệ cho vay trên huy động, nhằm đảm bảo hiệu quả về cho vay.

Trước lo ngại về khả năng cạnh tranh lãi suất huy động trong năm 2026, đại diện MB cho rằng không quá quan ngại, bởi định hướng điều hành hiện vẫn song hành giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng.

"Hiện rất nhiều lựa chọn ngân hàng để gửi tiền. Thay chỉ vì nhìn lãi suất tiền gửi như những năm trước đây, khách hàng đánh giá nhiều về các sản phẩm dịch vụ tổng thể ngân hàng mang lại, cho nên MB khá tự tin việc huy động vốn năm sau" - đại diện MB nhấn mạnh.

Với VPBank, tăng trưởng huy động của ngân hàng cũng rất ấn tượng, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng. Trong đó, VPBank thu hút các nguồn huy động trung và dài hạn gần 2,4 triệu USD từ các tổ chức quốc tế.

"Nhiệm vụ tăng trưởng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) hay tăng trưởng huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng nhất của của ngân hàng, của tất cả các phân khúc, bảo đảm câu chuyện của thanh khoản và tăng trưởng tín dụng cao ở tất cả các phân khúc khách hàng" - đại diện VPBank bày tỏ.

Đồ họa: Ánh Tuyết
Bên cạnh nhóm tăng tốc mạnh, có tới 10/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tiền gửi dưới 10%. Đáng chú ý, một số ngân hàng chỉ đạt mức tăng 4 - 5%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng tới 4 - 5 lần, qua đó, tạo áp lực đáng kể lên cân đối nguồn vốn. Nhóm mở rộng tiền gửi ở mức khiêm tốn gồm: VIB tăng 6,6%, BVBank tăng 6%, OCB tăng 5,3%; thấp nhất là BacABank với 3,7%.

Khảo sát của phóng viên cũng cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, xét riêng về tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng năm 2025, dẫn đầu toàn nhóm khảo sát là ABBank với mức tăng 47,1%, bỏ xa phần còn lại và thể hiện nỗ lực mở rộng nền khách hàng cũng như cải thiện năng lực huy động. Theo sau là NCB với mức tăng 32,6%.

Trong khi đó, VPBank và MB lần lượt ghi nhận mức tăng 29,3% và 29%, duy trì đà tăng cao trong nhóm ngân hàng quy mô lớn.

HDBank và MSB cũng nổi bật với mức tăng 28,2% và 27,2%, cho thấy nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đang cạnh tranh quyết liệt trong việc gia tăng thị phần huy động.

Theo đại diện MSB, sự tăng trưởng huy động phản ánh rõ nét hiệu quả của việc triển khai các sản phẩm trên kênh số như: tài khoản cho cá nhân, doanh nghiệp, sinh lời với lợi suất hấp dẫn, chương trình chăm sóc khách hàng gắn bó… đáp ứng tính tiện ích và phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng. MSB cũng duy trì tỷ lệ CASA ở mức cao 28,9%, giúp ngân hàng có lợi thế lớn về chi phí vốn.

“Ông lớn” quốc doanh dẫn đầu, huy động tăng tốc cuối năm

Bức tranh tiền gửi khách hàng cũng cho thấy nhóm “ông lớn” quốc doanh vẫn giữ vị thế dẫn dắt tuyệt đối về quy mô huy động.

Dẫn đầu là BIDV với 2,2 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 13,8% so với năm 2024. Đây là năm đầu tiên ngân hàng này vượt mốc 2 triệu tỷ đồng và cũng là tổ chức duy nhất trong nhóm khảo sát chạm tới cột mốc này. VietinBank xếp sau với gần 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%, trong khi Vietcombank đạt 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 10,4%.

Quy mô vượt trội của ba ngân hàng quốc doanh phản ánh lợi thế bền vững về thương hiệu, mạng lưới rộng khắp, tập khách hàng doanh nghiệp nhà nước cùng dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước. Nhờ đó, nhóm này duy trì năng lực hút vốn ổn định, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất ngắn hạn.

Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồn, dòng chảy được “kích hoạt” bởi lãi suất
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm. Ảnh tư liệu.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, MB nổi bật với lượng tiền gửi lên 921,4 nghìn tỷ đồng; VPBank đạt 628 nghìn tỷ đồng. Techcombank tăng 16% lên 619 nghìn tỷ đồng; Sacombank tăng 9,1% lên 618,4 nghìn tỷ đồng.

Cả ba ngân hàng này (VPBank, Techcombank và Sacombank) lần đầu vượt ngưỡng 600 nghìn tỷ đồng tiền gửi.

Bên cạnh đó, ACB đạt 585.180 tỷ đồng, tăng 8,9%. Đại diện ACB cho biết, ở phân khúc cá nhân, ACB tiếp tục mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với các giải pháp khác biệt như: thẻ Lotusmiles Pay, chứng chỉ tiền gửi linh hoạt, phản ánh định hướng lấy khách hàng làm trung tâm và tạo giá trị thực chất. Còn CASA khách hàng doanh nghiệp cải thiện rõ nét nhờ các giải pháp tài chính chuyên biệt theo ngành nghề, từ dệt may, nhựa, FDI đến nông thủy sản.

Dù khoảng cách quy mô với nhóm quốc doanh vẫn còn lớn, các ngân hàng tư nhân đang từng bước mở rộng thị phần nhờ đẩy mạnh số hóa, cải thiện trải nghiệm khách hàng và linh hoạt điều chỉnh chính sách lãi suất trong môi trường cạnh tranh thanh khoản ngày càng cao.

Trong báo cáo cập nhật về ngành ngân hàng, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ghi nhận tăng trưởng huy động của ngành cuối năm 2025 đạt 16,8%, dù đã tăng tốc so với cuối quý III/2025 (11,4%), nhưng vẫn chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng (19,5%).

Trong đó, tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 15%, trong khi quý III/2025 mới tăng 10,2%; cùng tăng trưởng huy động từ giấy tờ có giá tăng lên 32,7%, cao hơn quý III/2025 (21,7%)./.

Giải tỏa áp lực lớn về thanh khoản quý IV/2025

Theo chuyên gia phân tích VDSC, sự tăng tốc trong tăng trưởng huy động cuối anwm 2025 được hỗ trợ bởi tốc độ giải ngân tăng nhanh vào cuối năm và xu hướng nâng lãi suất huy động, vốn đã diễn ra trước đó từ quý III/2025 ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhằm giải tỏa áp lực rất lớn về thanh khoản trong giai đoạn cuối năm khi tín dụng tăng nóng và quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước giảm 55 nghìn tỷ đồng trong quý IV/2025.

Các ngân hàng tiếp tục gia tăng quy mô huy động trên thị trường liên ngân hàng trong quý IV/2025, đưa lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên mức 7% trong nửa đầu tháng 12/2025.

Cùng với đó, từ ngày 4/12, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất trên kênh cầm cố thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5% để khống chế lãi suất trên thị trường mở, kéo theo sự điều chỉnh lãi suất huy động của các ngân hàng quốc doanh vào hai tuần cuối của năm 2025.

"Sự điều chỉnh của lãi suất huy động cũng đã góp phần hạ nhiệt áp lực thanh khoản vào thời điểm cuối năm với tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) ước tính tại phần lớn các ngân hàng thương mại giảm từ 1 - 5 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025" - chuyên gia phân tích VDSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17968 18243 18862
CHF 31824 32205 32861
CNY 0 3829 3922
EUR 29342 29563 30646
GBP 34042 34432 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15218
SGD 19748 20029 20601
THB 704 767 820
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26466
AUD 17762 17862 18787
CAD 18138 18238 19249
CHF 32039 32069 33655
CNY 3809.9 3834.9 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29497 29527 31250
GBP 34325 34375 36144
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14712 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20750
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80