Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh huy động năm 2025 cho thấy sự phân hóa rõ nét. Theo đó, nhóm ngân hàng tư nhân tăng tốc mạnh, có ngân hàng tăng tới 47%, trong khi nhiều nhà băng khác tăng dưới 10%, hụt hơi so với nhịp tăng tín dụng; còn nhóm quốc doanh dẫn đầu về quy mô. Tính chung 27 ngân hàng niêm yết tăng 15% về tiền gửi khách hàng, lên 12,8 triệu tỷ đồng, quý cuối năm bứt tốc nhờ cú hích lãi suất.
aa

"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Nhóm tư nhân bứt tốc, nhiều ngân hàng vẫn chậm nhịp

Tại Hội nghị Nhà đầu tư vừa tổ chức, lãnh đạo MB bật mí năm 2026 ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng huy động quanh 35%, qua đó, củng cố nền tảng thanh khoản cho chu kỳ tăng trưởng mới và tạo dư địa mở rộng tín dụng. Trước đó, trong năm 2025, MB cùng VPBank là hai ngân hàng nổi trội trong nhóm nhà băng quy mô lớn ghi nhận mức tăng tiền gửi khách hàng lên tới 29%.

Tính cả phát hành giấy tờ có giá, tổng huy động năm 2025 của MB tăng tới 32%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng cao.

Theo đánh giá của ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB, trong 5 năm qua, tốc độ tăng huy động của MB đứng đầu trong nhóm các ngân hàng được so sánh, những con số này thể hiện MB rất tích cực trong việc huy động khách hàng. Một trọng tâm xuyên suốt là ngân hàng tối ưu bảng cân đối và tỷ lệ cho vay trên huy động, nhằm đảm bảo hiệu quả về cho vay.

Trước lo ngại về khả năng cạnh tranh lãi suất huy động trong năm 2026, đại diện MB cho rằng không quá quan ngại, bởi định hướng điều hành hiện vẫn song hành giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng.

"Hiện rất nhiều lựa chọn ngân hàng để gửi tiền. Thay chỉ vì nhìn lãi suất tiền gửi như những năm trước đây, khách hàng đánh giá nhiều về các sản phẩm dịch vụ tổng thể ngân hàng mang lại, cho nên MB khá tự tin việc huy động vốn năm sau" - đại diện MB nhấn mạnh.

Với VPBank, tăng trưởng huy động của ngân hàng cũng rất ấn tượng, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng. Trong đó, VPBank thu hút các nguồn huy động trung và dài hạn gần 2,4 triệu USD từ các tổ chức quốc tế.

"Nhiệm vụ tăng trưởng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) hay tăng trưởng huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng nhất của của ngân hàng, của tất cả các phân khúc, bảo đảm câu chuyện của thanh khoản và tăng trưởng tín dụng cao ở tất cả các phân khúc khách hàng" - đại diện VPBank bày tỏ.

Đồ họa: Ánh Tuyết
Bên cạnh nhóm tăng tốc mạnh, có tới 10/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tiền gửi dưới 10%. Đáng chú ý, một số ngân hàng chỉ đạt mức tăng 4 - 5%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng tới 4 - 5 lần, qua đó, tạo áp lực đáng kể lên cân đối nguồn vốn. Nhóm mở rộng tiền gửi ở mức khiêm tốn gồm: VIB tăng 6,6%, BVBank tăng 6%, OCB tăng 5,3%; thấp nhất là BacABank với 3,7%.

Khảo sát của phóng viên cũng cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, xét riêng về tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng năm 2025, dẫn đầu toàn nhóm khảo sát là ABBank với mức tăng 47,1%, bỏ xa phần còn lại và thể hiện nỗ lực mở rộng nền khách hàng cũng như cải thiện năng lực huy động. Theo sau là NCB với mức tăng 32,6%.

Trong khi đó, VPBank và MB lần lượt ghi nhận mức tăng 29,3% và 29%, duy trì đà tăng cao trong nhóm ngân hàng quy mô lớn.

HDBank và MSB cũng nổi bật với mức tăng 28,2% và 27,2%, cho thấy nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đang cạnh tranh quyết liệt trong việc gia tăng thị phần huy động.

Theo đại diện MSB, sự tăng trưởng huy động phản ánh rõ nét hiệu quả của việc triển khai các sản phẩm trên kênh số như: tài khoản cho cá nhân, doanh nghiệp, sinh lời với lợi suất hấp dẫn, chương trình chăm sóc khách hàng gắn bó… đáp ứng tính tiện ích và phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng. MSB cũng duy trì tỷ lệ CASA ở mức cao 28,9%, giúp ngân hàng có lợi thế lớn về chi phí vốn.

“Ông lớn” quốc doanh dẫn đầu, huy động tăng tốc cuối năm

Bức tranh tiền gửi khách hàng cũng cho thấy nhóm “ông lớn” quốc doanh vẫn giữ vị thế dẫn dắt tuyệt đối về quy mô huy động.

Dẫn đầu là BIDV với 2,2 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 13,8% so với năm 2024. Đây là năm đầu tiên ngân hàng này vượt mốc 2 triệu tỷ đồng và cũng là tổ chức duy nhất trong nhóm khảo sát chạm tới cột mốc này. VietinBank xếp sau với gần 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%, trong khi Vietcombank đạt 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 10,4%.

Quy mô vượt trội của ba ngân hàng quốc doanh phản ánh lợi thế bền vững về thương hiệu, mạng lưới rộng khắp, tập khách hàng doanh nghiệp nhà nước cùng dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước. Nhờ đó, nhóm này duy trì năng lực hút vốn ổn định, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất ngắn hạn.

Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồn, dòng chảy được “kích hoạt” bởi lãi suất
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm. Ảnh tư liệu.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, MB nổi bật với lượng tiền gửi lên 921,4 nghìn tỷ đồng; VPBank đạt 628 nghìn tỷ đồng. Techcombank tăng 16% lên 619 nghìn tỷ đồng; Sacombank tăng 9,1% lên 618,4 nghìn tỷ đồng.

Cả ba ngân hàng này (VPBank, Techcombank và Sacombank) lần đầu vượt ngưỡng 600 nghìn tỷ đồng tiền gửi.

Bên cạnh đó, ACB đạt 585.180 tỷ đồng, tăng 8,9%. Đại diện ACB cho biết, ở phân khúc cá nhân, ACB tiếp tục mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với các giải pháp khác biệt như: thẻ Lotusmiles Pay, chứng chỉ tiền gửi linh hoạt, phản ánh định hướng lấy khách hàng làm trung tâm và tạo giá trị thực chất. Còn CASA khách hàng doanh nghiệp cải thiện rõ nét nhờ các giải pháp tài chính chuyên biệt theo ngành nghề, từ dệt may, nhựa, FDI đến nông thủy sản.

Dù khoảng cách quy mô với nhóm quốc doanh vẫn còn lớn, các ngân hàng tư nhân đang từng bước mở rộng thị phần nhờ đẩy mạnh số hóa, cải thiện trải nghiệm khách hàng và linh hoạt điều chỉnh chính sách lãi suất trong môi trường cạnh tranh thanh khoản ngày càng cao.

Trong báo cáo cập nhật về ngành ngân hàng, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ghi nhận tăng trưởng huy động của ngành cuối năm 2025 đạt 16,8%, dù đã tăng tốc so với cuối quý III/2025 (11,4%), nhưng vẫn chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng (19,5%).

Trong đó, tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 15%, trong khi quý III/2025 mới tăng 10,2%; cùng tăng trưởng huy động từ giấy tờ có giá tăng lên 32,7%, cao hơn quý III/2025 (21,7%)./.

Giải tỏa áp lực lớn về thanh khoản quý IV/2025

Theo chuyên gia phân tích VDSC, sự tăng tốc trong tăng trưởng huy động cuối anwm 2025 được hỗ trợ bởi tốc độ giải ngân tăng nhanh vào cuối năm và xu hướng nâng lãi suất huy động, vốn đã diễn ra trước đó từ quý III/2025 ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhằm giải tỏa áp lực rất lớn về thanh khoản trong giai đoạn cuối năm khi tín dụng tăng nóng và quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước giảm 55 nghìn tỷ đồng trong quý IV/2025.

Các ngân hàng tiếp tục gia tăng quy mô huy động trên thị trường liên ngân hàng trong quý IV/2025, đưa lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên mức 7% trong nửa đầu tháng 12/2025.

Cùng với đó, từ ngày 4/12, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất trên kênh cầm cố thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5% để khống chế lãi suất trên thị trường mở, kéo theo sự điều chỉnh lãi suất huy động của các ngân hàng quốc doanh vào hai tuần cuối của năm 2025.

"Sự điều chỉnh của lãi suất huy động cũng đã góp phần hạ nhiệt áp lực thanh khoản vào thời điểm cuối năm với tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) ước tính tại phần lớn các ngân hàng thương mại giảm từ 1 - 5 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025" - chuyên gia phân tích VDSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18575 18852 19433
CAD 18685 18963 19579
CHF 33049 33435 34072
CNY 0 3841 3933
EUR 30220 30494 31520
GBP 34793 35186 36131
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15325 15915
SGD 20150 20433 20961
THB 730 793 846
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26382
AUD 18770 18870 19795
CAD 18871 18971 19988
CHF 33291 33321 34904
CNY 3822.7 3847.7 3983.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30406 30436 32161
GBP 35117 35167 36920
HKD 0 3355 0
JPY 163.37 163.87 174.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15436 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20308 20438 21171
THB 0 758.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,382
USD20 26,175 26,225 26,382
USD1 23,870 26,225 26,382
AUD 18,797 18,897 20,014
EUR 30,566 30,566 31,986
CAD 18,822 18,922 20,234
SGD 20,398 20,548 21,485
JPY 163.87 165.37 169.97
GBP 35,029 35,379 36,270
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 796 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80