Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh huy động năm 2025 cho thấy sự phân hóa rõ nét. Theo đó, nhóm ngân hàng tư nhân tăng tốc mạnh, có ngân hàng tăng tới 47%, trong khi nhiều nhà băng khác tăng dưới 10%, hụt hơi so với nhịp tăng tín dụng; còn nhóm quốc doanh dẫn đầu về quy mô. Tính chung 27 ngân hàng niêm yết tăng 15% về tiền gửi khách hàng, lên 12,8 triệu tỷ đồng, quý cuối năm bứt tốc nhờ cú hích lãi suất.
aa

"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Nhóm tư nhân bứt tốc, nhiều ngân hàng vẫn chậm nhịp

Tại Hội nghị Nhà đầu tư vừa tổ chức, lãnh đạo MB bật mí năm 2026 ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng huy động quanh 35%, qua đó, củng cố nền tảng thanh khoản cho chu kỳ tăng trưởng mới và tạo dư địa mở rộng tín dụng. Trước đó, trong năm 2025, MB cùng VPBank là hai ngân hàng nổi trội trong nhóm nhà băng quy mô lớn ghi nhận mức tăng tiền gửi khách hàng lên tới 29%.

Tính cả phát hành giấy tờ có giá, tổng huy động năm 2025 của MB tăng tới 32%, vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng cao.

Theo đánh giá của ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB, trong 5 năm qua, tốc độ tăng huy động của MB đứng đầu trong nhóm các ngân hàng được so sánh, những con số này thể hiện MB rất tích cực trong việc huy động khách hàng. Một trọng tâm xuyên suốt là ngân hàng tối ưu bảng cân đối và tỷ lệ cho vay trên huy động, nhằm đảm bảo hiệu quả về cho vay.

Trước lo ngại về khả năng cạnh tranh lãi suất huy động trong năm 2026, đại diện MB cho rằng không quá quan ngại, bởi định hướng điều hành hiện vẫn song hành giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng.

"Hiện rất nhiều lựa chọn ngân hàng để gửi tiền. Thay chỉ vì nhìn lãi suất tiền gửi như những năm trước đây, khách hàng đánh giá nhiều về các sản phẩm dịch vụ tổng thể ngân hàng mang lại, cho nên MB khá tự tin việc huy động vốn năm sau" - đại diện MB nhấn mạnh.

Với VPBank, tăng trưởng huy động của ngân hàng cũng rất ấn tượng, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng. Trong đó, VPBank thu hút các nguồn huy động trung và dài hạn gần 2,4 triệu USD từ các tổ chức quốc tế.

"Nhiệm vụ tăng trưởng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) hay tăng trưởng huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng nhất của của ngân hàng, của tất cả các phân khúc, bảo đảm câu chuyện của thanh khoản và tăng trưởng tín dụng cao ở tất cả các phân khúc khách hàng" - đại diện VPBank bày tỏ.

Đồ họa: Ánh Tuyết
Bên cạnh nhóm tăng tốc mạnh, có tới 10/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tiền gửi dưới 10%. Đáng chú ý, một số ngân hàng chỉ đạt mức tăng 4 - 5%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng tới 4 - 5 lần, qua đó, tạo áp lực đáng kể lên cân đối nguồn vốn. Nhóm mở rộng tiền gửi ở mức khiêm tốn gồm: VIB tăng 6,6%, BVBank tăng 6%, OCB tăng 5,3%; thấp nhất là BacABank với 3,7%.

Khảo sát của phóng viên cũng cho thấy, trong 27 ngân hàng niêm yết, xét riêng về tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng năm 2025, dẫn đầu toàn nhóm khảo sát là ABBank với mức tăng 47,1%, bỏ xa phần còn lại và thể hiện nỗ lực mở rộng nền khách hàng cũng như cải thiện năng lực huy động. Theo sau là NCB với mức tăng 32,6%.

Trong khi đó, VPBank và MB lần lượt ghi nhận mức tăng 29,3% và 29%, duy trì đà tăng cao trong nhóm ngân hàng quy mô lớn.

HDBank và MSB cũng nổi bật với mức tăng 28,2% và 27,2%, cho thấy nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đang cạnh tranh quyết liệt trong việc gia tăng thị phần huy động.

Theo đại diện MSB, sự tăng trưởng huy động phản ánh rõ nét hiệu quả của việc triển khai các sản phẩm trên kênh số như: tài khoản cho cá nhân, doanh nghiệp, sinh lời với lợi suất hấp dẫn, chương trình chăm sóc khách hàng gắn bó… đáp ứng tính tiện ích và phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng. MSB cũng duy trì tỷ lệ CASA ở mức cao 28,9%, giúp ngân hàng có lợi thế lớn về chi phí vốn.

“Ông lớn” quốc doanh dẫn đầu, huy động tăng tốc cuối năm

Bức tranh tiền gửi khách hàng cũng cho thấy nhóm “ông lớn” quốc doanh vẫn giữ vị thế dẫn dắt tuyệt đối về quy mô huy động.

Dẫn đầu là BIDV với 2,2 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 13,8% so với năm 2024. Đây là năm đầu tiên ngân hàng này vượt mốc 2 triệu tỷ đồng và cũng là tổ chức duy nhất trong nhóm khảo sát chạm tới cột mốc này. VietinBank xếp sau với gần 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%, trong khi Vietcombank đạt 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 10,4%.

Quy mô vượt trội của ba ngân hàng quốc doanh phản ánh lợi thế bền vững về thương hiệu, mạng lưới rộng khắp, tập khách hàng doanh nghiệp nhà nước cùng dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước. Nhờ đó, nhóm này duy trì năng lực hút vốn ổn định, ít phụ thuộc vào cạnh tranh lãi suất ngắn hạn.

Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồn, dòng chảy được “kích hoạt” bởi lãi suất
Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm. Ảnh tư liệu.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, MB nổi bật với lượng tiền gửi lên 921,4 nghìn tỷ đồng; VPBank đạt 628 nghìn tỷ đồng. Techcombank tăng 16% lên 619 nghìn tỷ đồng; Sacombank tăng 9,1% lên 618,4 nghìn tỷ đồng.

Cả ba ngân hàng này (VPBank, Techcombank và Sacombank) lần đầu vượt ngưỡng 600 nghìn tỷ đồng tiền gửi.

Bên cạnh đó, ACB đạt 585.180 tỷ đồng, tăng 8,9%. Đại diện ACB cho biết, ở phân khúc cá nhân, ACB tiếp tục mở rộng hệ sinh thái sản phẩm với các giải pháp khác biệt như: thẻ Lotusmiles Pay, chứng chỉ tiền gửi linh hoạt, phản ánh định hướng lấy khách hàng làm trung tâm và tạo giá trị thực chất. Còn CASA khách hàng doanh nghiệp cải thiện rõ nét nhờ các giải pháp tài chính chuyên biệt theo ngành nghề, từ dệt may, nhựa, FDI đến nông thủy sản.

Dù khoảng cách quy mô với nhóm quốc doanh vẫn còn lớn, các ngân hàng tư nhân đang từng bước mở rộng thị phần nhờ đẩy mạnh số hóa, cải thiện trải nghiệm khách hàng và linh hoạt điều chỉnh chính sách lãi suất trong môi trường cạnh tranh thanh khoản ngày càng cao.

Trong báo cáo cập nhật về ngành ngân hàng, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ghi nhận tăng trưởng huy động của ngành cuối năm 2025 đạt 16,8%, dù đã tăng tốc so với cuối quý III/2025 (11,4%), nhưng vẫn chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng (19,5%).

Trong đó, tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 15%, trong khi quý III/2025 mới tăng 10,2%; cùng tăng trưởng huy động từ giấy tờ có giá tăng lên 32,7%, cao hơn quý III/2025 (21,7%)./.

Giải tỏa áp lực lớn về thanh khoản quý IV/2025

Theo chuyên gia phân tích VDSC, sự tăng tốc trong tăng trưởng huy động cuối anwm 2025 được hỗ trợ bởi tốc độ giải ngân tăng nhanh vào cuối năm và xu hướng nâng lãi suất huy động, vốn đã diễn ra trước đó từ quý III/2025 ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhằm giải tỏa áp lực rất lớn về thanh khoản trong giai đoạn cuối năm khi tín dụng tăng nóng và quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước giảm 55 nghìn tỷ đồng trong quý IV/2025.

Các ngân hàng tiếp tục gia tăng quy mô huy động trên thị trường liên ngân hàng trong quý IV/2025, đưa lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên mức 7% trong nửa đầu tháng 12/2025.

Cùng với đó, từ ngày 4/12, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất trên kênh cầm cố thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5% để khống chế lãi suất trên thị trường mở, kéo theo sự điều chỉnh lãi suất huy động của các ngân hàng quốc doanh vào hai tuần cuối của năm 2025.

"Sự điều chỉnh của lãi suất huy động cũng đã góp phần hạ nhiệt áp lực thanh khoản vào thời điểm cuối năm với tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) ước tính tại phần lớn các ngân hàng thương mại giảm từ 1 - 5 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025" - chuyên gia phân tích VDSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80