Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất cho vay lĩnh vực bất động sản đang tăng tốc, nhiều ngân hàng “Big 4” đã đưa lãi suất vay mua nhà cố định lên quanh mức 14%/năm. Khi thời kỳ “vốn rẻ” với các gói ưu đãi lãi suất dần khép lại, tín dụng được kiểm soát theo hướng chọn lọc, khiến hoạt động đầu tư “lướt sóng” bị siết lại, thị trường trước một bài kiểm tra mới về “sức bền”.
aa
"Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản “Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới Rủi ro tích tụ sau đà tăng bất động sản, yêu cầu siết kỷ luật tín dụng

"Big 4" đẩy lãi vay cố định lên 14%

Trong bối cảnh cuối năm 2025 và đầu năm 2026, lãi suất huy động tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng leo thang khi các ngân hàng vay mượn lẫn nhau “nóng” hơn bao giờ hết, mặt bằng lãi suất cho vay, đặc biệt là cho vay bất động sản, cũng đang tăng tốc rõ rệt.

Thực tế cho thấy, lãi suất cho vay đang đi lên cùng nhịp với lãi suất huy động, thậm chí nhanh hơn. Sau Tết Dương lịch, lãi suất huy động đầu vào của một số ngân hàng đã vượt mốc 8%/năm ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Áp lực này nhanh chóng truyền sang lãi suất cho vay, đặc biệt là các khoản vay đến kỳ thả nổi.

Các "ông lớn" ngân hàng như: VietinBank, Vietcombank, BIDV... đưa lãi suất cho vay bất động sản lên ngưỡng cao, có nơi lên gần 14%/năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống có tài sản bảo đảm; cho vay mua ô tô; cho vay sản xuất kinh doanh; hay trả nợ trước hạn tổ chức tín dụng khác thấp hơn đáng kể, dưới 9%/năm, song cũng đã cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước. Thời kỳ “vốn rẻ” với các gói vay ưu đãi lãi suất, cố định kéo dài 1 - 3 năm như giai đoạn 2024 - 2025, gần như đã đi qua.

Đơn cử, trong 6 tháng đầu, có ngân hàng công bố lãi suất cho vay cố định tối thiểu 9,7%/năm; hoặc 10,1%/năm cố định 12 tháng đầu tiên; hay 13,5%/năm cố định 18 tháng đầu tiên. Trong khi đó, các khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống, mua ô tô, sản xuất kinh doanh hoặc trả nợ trước hạn tổ chức tín dụng khác (không nhằm mục đích bất động sản) được hưởng lãi suất thấp hơn, chỉ từ 8,2 - 9%/năm tùy thời gian cố định lãi suất.

Rõ ràng, chính sách lãi suất cho vay của nhiều ngân hàng quốc doanh cũng được thiết kế theo hướng phân tầng rất rõ theo mục đích sử dụng vốn, qua đó, thể hiện chủ trương kiểm soát tín dụng bất động sản, nhưng vẫn ưu tiên dòng vốn sản xuất kinh doanh.

Điểm đáng chú ý, tốc độ tăng lãi suất cho vay đang vượt xa tốc độ tăng lãi suất huy động. Đơn cử, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của BIDV và Vietcombank chỉ tăng khoảng 0,5 điểm phần trăm, từ 4,7% lên 5,2%/năm, trong khi lãi suất cho vay lại điều chỉnh mạnh hơn nhiều.

lãi suất bất động sản big 4
Chính sách cho vay tại một số ngân hàng quốc doanh đầu năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo chia sẻ của một tư vấn đầu tư bất động sản, với diễn biến hiện nay, thị trường bất động sản đang đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là phân khúc bất động sản hình thành trong tương lai. Hiện tại, nhiều chủ đầu tư vẫn áp dụng chính sách ân hạn lãi và gốc nên áp lực tài chính chưa bộc lộ rõ, song rủi ro lớn được dự báo sẽ xuất hiện trong giai đoạn tới.

Theo người này, lãi suất vay mua bất động sản tại các ngân hàng "big 4" đang dao động 12 - 14%. Khi hết thời gian ân hạn, cộng thêm lãi suất thả nổi tạo áp lực rất nặng lên người vay. Đơn cử, chỉ cần vay 2 tỷ đồng trong 20 năm, người vay phải trả khoảng 25 - 26 triệu đồng/tháng. Nếu vay 4 - 5 đồng tỷ đồng thì con số này cao hơn nhiều. Chưa kể, thị trường đón lượng cung cực lớn, hàng trăm nghìn sản phẩm được tung ra. Nhiều khả năng từ cuối năm 2026 - 2027 sẽ xuất hiện "làn sóng" bán tháo để thoát khỏi áp lực trả nợ hàng tháng, nhất là các sản phẩm chưa tạo ra dòng tiền.

Trong bối cảnh ngân hàng siết chặt tín dụng bất động sản, còn cho vay sản xuất kinh doanh được ưu đãi hơn với lãi suất thấp hơn, tư vấn bất động sản này nhấn mạnh hạn chế dùng đòn bẩy, hoặc chỉ vay trong khả năng kiểm soát được dòng tiền trả lãi và gốc hàng tháng.

Lãi suất tăng là "phép thử" lớn, đẩy lùi đầu cơ

Trước động thái điều chỉnh tăng lãi suất cho vay bất động sản, trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bất động sản và ngân hàng là hai lĩnh vực có mối quan hệ cộng sinh, gắn kết và ràng buộc chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, thời gian qua, bất động sản chủ yếu hướng vào các phân khúc trung cấp, cao cấp, chưa kể đến bất động sản thương mại và hoạt động đầu cơ. Mục tiêu nhằm quay vòng nhanh, tạo mức sinh lời đủ cao để có thể thanh toán lại các khoản vay ngân hàng.

"Lãi suất tăng nhanh sẽ khiến thanh khoản bắt đầu trục trặc. Thị trường bất động sản dần trở nên kém thanh khoản, thậm chí “đông cứng” ở một số phân khúc, khi đó, chính hệ thống ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Những tác động này thể hiện ở tăng trưởng dư nợ, chất lượng tài sản và cả khả năng sinh lời của ngân hàng. Lãi suất tăng cao có thể xem như "phép thử" lớn đối với ngành bất động sản, đồng thời cũng là phép thử đối với hệ thống ngân hàng".

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.

"Khi thanh khoản trên thị trường bất động sản có vấn đề, bắt đầu lan tỏa tác động với cả ngân hàng" - ông Linh nêu rõ.

Trước nhiều quan ngại, rủi ro có thể xảy đến, ông Linh cho rằng, ngân hàng nhận thức rất rõ điều này. Chính vì vậy Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn cách “siết mềm”, tức là kiểm soát tín dụng bất động sản theo hướng thận trọng.

Chuyên gia từ Vinacapital cũng cho rằng, lãi suất cho vay mua nhà đã tăng lên khoảng 11% vào cuối năm 2025, mức đủ cao để hạn chế hoạt động đầu cơ, nhưng vẫn ở ngưỡng có thể chấp nhận được đối với người mua nhà để ở.

"Trên thực tế, nhiều nhà đầu cơ thường sử dụng một phép tính “nhanh” với ngưỡng lãi suất khoảng 1%/tháng (tương đương 12 - 13%/năm). Nếu vượt trên mức này, họ thường do dự hơn khi mua bất động sản với mục đích lướt sóng" - chuyên gia từ Vinacapital đánh giá.

lãi suất bất động sản big 4
Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”. Ảnh minh họa.

Trước đó, vào giữa năm 2025, hầu hết các đợt mở bán mới đều được tiêu thụ gần như ngay lập tức, phần lớn nhờ lực cầu đầu cơ kỳ vọng “lướt sóng” trong bối cảnh giá tăng nhanh. Tuy nhiên, đến cuối năm, khi lãi suất vay mua nhà tăng lên khoảng 11%, nhu cầu đầu cơ đã hạ nhiệt, trong khi lãi suất cao hơn khiến người mua để ở thận trọng hơn, dẫn đến tốc độ hấp thụ sản phẩm chậm lại.

Bên cạnh đó, giá bất động sản sơ cấp có thể sẽ điều chỉnh giảm nhẹ trong năm nay, sau khi tăng mạnh trong năm trước. Dự báo giá giảm trong năm 2026 của Vinacapital dựa trên hai yếu tố chính. Một là, nguồn cung gia tăng khi các dự án mới được đưa ra thị trường. Hai là, mức tăng khoảng 1 điểm phần trăm của lãi suất cho vay mua nhà trong năm vừa qua.

Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, năm 2026 hệ thống ngân hàng dự kiến đưa thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng ra nền kinh tế, thấp hơn quy mô bơm vốn của năm trước khoảng 183.000 tỷ đồng. Con số này cho thấy định hướng tăng trưởng vẫn được duy trì, nhưng đã chuyển sang trạng thái thận trọng và có chọn lọc hơn.

Trong bối cảnh lãi suất có xu hướng tăng, tín dụng được kiểm soát theo hướng chọn lọc và hoạt động đầu tư “lướt sóng” dần thoái trào, thị trường đang bước vào một bài kiểm tra mới về “sức bền” đối với cả doanh nghiệp lẫn nhà đầu tư trong chu kỳ tiếp theo./,

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80