"Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng ngân hàng đang chảy mạnh vào bất động sản, ghi nhận tốc độ tăng nhanh nhất nhiều năm. Nhiều động thái cho thấy, cơ quan quản lý đang "điều hướng" dòng vốn, ưu tiên cho dự án nhà ở xã hội, còn ngân hàng bắt đầu điều chỉnh chiến lược kinh doanh.
aa

Đằng sau dòng vốn ngân hàng ồ ạt chảy mạnh vào bất động sản

Thống kê cho thấy, trong quý III/2025, chỉ có 12 ngân hàng công bố chi tiết dư nợ cho vay hoạt động kinh doanh bất động sản, giảm so với con số 21 ngân hàng ở báo cáo tài chính bán niên. Theo đó, tổng dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản của nhóm này tính đến cuối quý III/2025 đạt gần 900.000 tỷ đồng, tăng 25,8% so với cuối năm 2024 và tăng tới 39,7% so với cùng kỳ năm 2024, cho thấy xu hướng mở rộng nhanh dòng vốn cho vay kinh doanh bất động sản.

Các con số này mới chỉ phản ánh phần dư nợ được các ngân hàng công bố chi tiết, chưa bao gồm các khoản vay cá nhân hoặc tín dụng “ẩn giấu” dưới dạng phục vụ nhu cầu đời sống như mua, xây dựng hay cải tạo nhà ở, vốn cũng chiếm tỷ trọng lớn và góp phần làm tăng đáng kể dòng vốn thực tế chảy vào lĩnh vực bất động sản.

Đồ hoạ: Ánh Tuyết

Theo TS. Đinh Thế Hiển - chuyên gia kinh tế, ngân hàng thường cho vay khoảng 70% giá trị bất động sản, 30% giá trị bất động sản do người mua trả tiền trước. Cùng với đó, tình trạng ngân hàng cho vay đặt cọc bất động sản cho thấy, tín dụng chảy mạnh vào hoạt động "lướt sóng", thay vì nhu cầu thực. Khi giá bất động sản tăng nóng, nhưng thanh khoản yếu, nhóm nhà đầu tư ngắn hạn dễ rơi vào thế khó, khiến tín dụng dồn lại và rủi ro tăng cao.

Ở góc nhìn khác, chia sẻ với phóng viên về một trong nhiều nguyên nhân khiến dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng "phình to", một chuyên gia trong ngành tài chính - ngân hàng cho hay, thời gian qua, nhiều lô trái phiếu bất động sản đến hạn, nhưng trong bối cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang được “nâng chất” và siết chặt chuẩn mực phát hành, không ít chủ đầu tư buộc phải tái cơ cấu các lô trái phiếu này thông qua nguồn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần khiến dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản tiếp tục tăng mạnh trong hệ thống.

Basel III siết chuẩn an toàn vốn của các ngân hàng

Các công trình hạ tầng đều mang tính dài hạn. Hiện nay, các ngân hàng đều hướng đến tiêu chuẩn Basel III, tức yếu tố an toàn vốn ngày càng siết chặt; trong đó, tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, cho vay các dự án hạ tầng ngày càng được kiểm soát chặt. Do đó, cần nguồn vốn dài hạn mới để hoàn thiện hạ tầng cho bất động sản.

Ông Dương Đức Hiếu - đại diện VIS Rating

Ông Dương Đức Hiếu - Giám đốc Khối Xếp hạng và Nghiên cứu VIS Rating cho biết, theo ước tính, dư nợ trái phiếu của doanh nghiệp bất động sản tính đến tháng 9/2025 chỉ còn khoảng 400.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy, tín dụng ngân hàng vẫn là động lực chính cho thị trường bất động sản.

Tín dụng bất động sản qua "bộ lọc" mới

Trong bối cảnh dư nợ tín dụng bất động sản tăng gấp đôi kể từ đầu năm 2022, ngân hàng vừa phải cấp vốn mới, vừa phải xử lý nợ cũ từ các dự án dở dang và trái phiếu đến hạn, nhiều quy định mới về hệ số rủi ro đối với các khoản vay liên quan đến bất động sản được ban hành, nhằm kiểm soát chặt rủi ro.

Chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển cho biết, cơ quan quản lý đang tăng cường biện pháp kiểm soát dòng vốn, hạn chế tín dụng chảy vào các hoạt động đầu cơ. Trong ngắn hạn, những dự án phục vụ nhu cầu “đón sóng” của các nhà đầu cơ sẽ gặp khó trong tiếp cận vốn, trong khi các dự án tốt vẫn có tiềm năng hút vốn.

Điều 17 Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực từ ngày 15/9/2025 quy định hệ số rủi ro tín dụng ưu đãi, thể hiện rõ định hướng khuyến khích phát triển phân khúc nhà ở xã hội.

Theo đó, nếu khoản vay thế chấp bằng nhà ở xã hội và người vay có nguồn trả nợ không phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản dưới 40%, hệ số rủi ro chỉ ở mức 20%. Khi tỷ lệ cho vay cao hơn, hệ số rủi ro được phép tăng dần, nhưng tối đa cũng chỉ 45%. Trong trường hợp người vay trả nợ bằng chính nguồn thu từ tài sản đó, hệ số rủi ro dao động trong khoảng 25 - 50% tùy theo tỷ lệ cho vay.

Với nhà ở thương mại, hệ số rủi ro cao hơn đáng kể, từ 25 - 100%, tùy thuộc vào khả năng trả nợ của người vay và tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản. Khi tỷ lệ cho vay cao (80 - 90%) và thu nhập người vay hạn chế, hệ số rủi ro có thể lên tới 80 - 100%.

Một thay đổi đáng chú ý khác là việc siết chặt điều kiện đối với các khoản vay bất động sản kinh doanh, thông qua việc xác định rõ khoản vay đủ tiêu chuẩn khi đáp ứng 3 điều kiện. Nếu không đáp ứng được các điều kiện này, hệ số rủi ro có thể bị nâng tới 150%, buộc ngân hàng phải dành lượng vốn gấp rưỡi thông thường để hỗ trợ khoản vay đó.

Với quy định mới, dòng tín dụng bất động sản sẽ được "gạn đục, khơi trong", chọn lọc chặt chẽ hơn. Khi đó, việc dồn nguồn lực vào các phân khúc cao cấp sẽ gặp rào cản tín dụng lớn hơn, còn những doanh nghiệp chuyển hướng sang nhà ở xã hội sẽ có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng thuận lợi hơn, với chi phí thấp và điều kiện vay ưu đãi hơn.

Trong buổi gặp gỡ nhà đầu tư để trao đổi thông tin về tình hình kinh doanh 9 tháng 2025, lãnh đạo một ngân hàng tư nhân quy mô lớn chia sẻ định hướng giảm tỷ trọng cho vay bất động sản xuống còn khoảng 22% tổng dư nợ, đồng thời cân bằng giữa cho vay khách hàng doanh nghiệp và cá nhân.

Cùng với đó, Chính phủ đang triển khai gói tín dụng ưu đãi 145.000 tỷ đồng dành cho nhà ở xã hội với mức lãi suất thấp hơn thị trường 1,5 - 2%/năm. Đây là lực đẩy "kép", vừa giúp đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng, vừa thúc đẩy chính sách an sinh xã hội.

Dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản của nhiều ngân hàng tăng 3 con số

Thống kê từ 12 ngân hàng công bố báo cáo tài chính thể hiện rõ dư nợ cho vay lĩnh vực kinh doanh bất động sản cho thấy, đến cuối quý III/2025, các nhà băng như Techcombank, VPBank, MB... tiếp tục dẫn đầu cho vay kinh doanh bất động sản.

Trong đó, Techcombank đạt hơn 237.800 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2024 và tăng tới 27,1% so với cuối năm 2024. Ngân hàng này cũng dẫn đầu dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản nhiều năm liên tiếp (trong danh sách những ngân hàng công bố thông tin).

VPBank cho vay kinh doanh bất động sản đạt hơn 205.900 tỷ đồng tính đến cuối quý III/2025, tăng 24,9% so với cùng kỳ; MB đạt hơn 97.000 tỷ đồng, tăng 76,1% so với cùng kỳ. Các ngân hàng quy mô tầm trung và nhỏ như BVBank, VIB, PGBank... cũng tăng mạnh dư nợ ở mức 3 con số, từ 104,9% đến 162,7%, song quy mô nhỏ hơn đáng kể.

Về tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản trong tổng dư nợ cho vay khách hàng, Techcombank đứng đầu, với 31%. BVBank, VPBank... cũng nằm trong nhóm cao, với tỷ trọng 23 - 25,3%. Trong khi đó, một số ngân hàng kiểm soát với tỷ trọng thấp hơn như: MSB (khoảng 9,8%), PGBank (8,9%), VIB (4,4%)...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80