"Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng ngân hàng đang chảy mạnh vào bất động sản, ghi nhận tốc độ tăng nhanh nhất nhiều năm. Nhiều động thái cho thấy, cơ quan quản lý đang "điều hướng" dòng vốn, ưu tiên cho dự án nhà ở xã hội, còn ngân hàng bắt đầu điều chỉnh chiến lược kinh doanh.
aa

Đằng sau dòng vốn ngân hàng ồ ạt chảy mạnh vào bất động sản

Thống kê cho thấy, trong quý III/2025, chỉ có 12 ngân hàng công bố chi tiết dư nợ cho vay hoạt động kinh doanh bất động sản, giảm so với con số 21 ngân hàng ở báo cáo tài chính bán niên. Theo đó, tổng dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản của nhóm này tính đến cuối quý III/2025 đạt gần 900.000 tỷ đồng, tăng 25,8% so với cuối năm 2024 và tăng tới 39,7% so với cùng kỳ năm 2024, cho thấy xu hướng mở rộng nhanh dòng vốn cho vay kinh doanh bất động sản.

Các con số này mới chỉ phản ánh phần dư nợ được các ngân hàng công bố chi tiết, chưa bao gồm các khoản vay cá nhân hoặc tín dụng “ẩn giấu” dưới dạng phục vụ nhu cầu đời sống như mua, xây dựng hay cải tạo nhà ở, vốn cũng chiếm tỷ trọng lớn và góp phần làm tăng đáng kể dòng vốn thực tế chảy vào lĩnh vực bất động sản.

Đồ hoạ: Ánh Tuyết

Theo TS. Đinh Thế Hiển - chuyên gia kinh tế, ngân hàng thường cho vay khoảng 70% giá trị bất động sản, 30% giá trị bất động sản do người mua trả tiền trước. Cùng với đó, tình trạng ngân hàng cho vay đặt cọc bất động sản cho thấy, tín dụng chảy mạnh vào hoạt động "lướt sóng", thay vì nhu cầu thực. Khi giá bất động sản tăng nóng, nhưng thanh khoản yếu, nhóm nhà đầu tư ngắn hạn dễ rơi vào thế khó, khiến tín dụng dồn lại và rủi ro tăng cao.

Ở góc nhìn khác, chia sẻ với phóng viên về một trong nhiều nguyên nhân khiến dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng "phình to", một chuyên gia trong ngành tài chính - ngân hàng cho hay, thời gian qua, nhiều lô trái phiếu bất động sản đến hạn, nhưng trong bối cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang được “nâng chất” và siết chặt chuẩn mực phát hành, không ít chủ đầu tư buộc phải tái cơ cấu các lô trái phiếu này thông qua nguồn tín dụng ngân hàng. Qua đó, góp phần khiến dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản tiếp tục tăng mạnh trong hệ thống.

Basel III siết chuẩn an toàn vốn của các ngân hàng

Các công trình hạ tầng đều mang tính dài hạn. Hiện nay, các ngân hàng đều hướng đến tiêu chuẩn Basel III, tức yếu tố an toàn vốn ngày càng siết chặt; trong đó, tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, cho vay các dự án hạ tầng ngày càng được kiểm soát chặt. Do đó, cần nguồn vốn dài hạn mới để hoàn thiện hạ tầng cho bất động sản.

Ông Dương Đức Hiếu - đại diện VIS Rating

Ông Dương Đức Hiếu - Giám đốc Khối Xếp hạng và Nghiên cứu VIS Rating cho biết, theo ước tính, dư nợ trái phiếu của doanh nghiệp bất động sản tính đến tháng 9/2025 chỉ còn khoảng 400.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy, tín dụng ngân hàng vẫn là động lực chính cho thị trường bất động sản.

Tín dụng bất động sản qua "bộ lọc" mới

Trong bối cảnh dư nợ tín dụng bất động sản tăng gấp đôi kể từ đầu năm 2022, ngân hàng vừa phải cấp vốn mới, vừa phải xử lý nợ cũ từ các dự án dở dang và trái phiếu đến hạn, nhiều quy định mới về hệ số rủi ro đối với các khoản vay liên quan đến bất động sản được ban hành, nhằm kiểm soát chặt rủi ro.

Chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển cho biết, cơ quan quản lý đang tăng cường biện pháp kiểm soát dòng vốn, hạn chế tín dụng chảy vào các hoạt động đầu cơ. Trong ngắn hạn, những dự án phục vụ nhu cầu “đón sóng” của các nhà đầu cơ sẽ gặp khó trong tiếp cận vốn, trong khi các dự án tốt vẫn có tiềm năng hút vốn.

Điều 17 Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực từ ngày 15/9/2025 quy định hệ số rủi ro tín dụng ưu đãi, thể hiện rõ định hướng khuyến khích phát triển phân khúc nhà ở xã hội.

Theo đó, nếu khoản vay thế chấp bằng nhà ở xã hội và người vay có nguồn trả nợ không phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản dưới 40%, hệ số rủi ro chỉ ở mức 20%. Khi tỷ lệ cho vay cao hơn, hệ số rủi ro được phép tăng dần, nhưng tối đa cũng chỉ 45%. Trong trường hợp người vay trả nợ bằng chính nguồn thu từ tài sản đó, hệ số rủi ro dao động trong khoảng 25 - 50% tùy theo tỷ lệ cho vay.

Với nhà ở thương mại, hệ số rủi ro cao hơn đáng kể, từ 25 - 100%, tùy thuộc vào khả năng trả nợ của người vay và tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản. Khi tỷ lệ cho vay cao (80 - 90%) và thu nhập người vay hạn chế, hệ số rủi ro có thể lên tới 80 - 100%.

Một thay đổi đáng chú ý khác là việc siết chặt điều kiện đối với các khoản vay bất động sản kinh doanh, thông qua việc xác định rõ khoản vay đủ tiêu chuẩn khi đáp ứng 3 điều kiện. Nếu không đáp ứng được các điều kiện này, hệ số rủi ro có thể bị nâng tới 150%, buộc ngân hàng phải dành lượng vốn gấp rưỡi thông thường để hỗ trợ khoản vay đó.

Với quy định mới, dòng tín dụng bất động sản sẽ được "gạn đục, khơi trong", chọn lọc chặt chẽ hơn. Khi đó, việc dồn nguồn lực vào các phân khúc cao cấp sẽ gặp rào cản tín dụng lớn hơn, còn những doanh nghiệp chuyển hướng sang nhà ở xã hội sẽ có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng thuận lợi hơn, với chi phí thấp và điều kiện vay ưu đãi hơn.

Trong buổi gặp gỡ nhà đầu tư để trao đổi thông tin về tình hình kinh doanh 9 tháng 2025, lãnh đạo một ngân hàng tư nhân quy mô lớn chia sẻ định hướng giảm tỷ trọng cho vay bất động sản xuống còn khoảng 22% tổng dư nợ, đồng thời cân bằng giữa cho vay khách hàng doanh nghiệp và cá nhân.

Cùng với đó, Chính phủ đang triển khai gói tín dụng ưu đãi 145.000 tỷ đồng dành cho nhà ở xã hội với mức lãi suất thấp hơn thị trường 1,5 - 2%/năm. Đây là lực đẩy "kép", vừa giúp đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng, vừa thúc đẩy chính sách an sinh xã hội.

Dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản của nhiều ngân hàng tăng 3 con số

Thống kê từ 12 ngân hàng công bố báo cáo tài chính thể hiện rõ dư nợ cho vay lĩnh vực kinh doanh bất động sản cho thấy, đến cuối quý III/2025, các nhà băng như Techcombank, VPBank, MB... tiếp tục dẫn đầu cho vay kinh doanh bất động sản.

Trong đó, Techcombank đạt hơn 237.800 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2024 và tăng tới 27,1% so với cuối năm 2024. Ngân hàng này cũng dẫn đầu dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản nhiều năm liên tiếp (trong danh sách những ngân hàng công bố thông tin).

VPBank cho vay kinh doanh bất động sản đạt hơn 205.900 tỷ đồng tính đến cuối quý III/2025, tăng 24,9% so với cùng kỳ; MB đạt hơn 97.000 tỷ đồng, tăng 76,1% so với cùng kỳ. Các ngân hàng quy mô tầm trung và nhỏ như BVBank, VIB, PGBank... cũng tăng mạnh dư nợ ở mức 3 con số, từ 104,9% đến 162,7%, song quy mô nhỏ hơn đáng kể.

Về tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản trong tổng dư nợ cho vay khách hàng, Techcombank đứng đầu, với 31%. BVBank, VPBank... cũng nằm trong nhóm cao, với tỷ trọng 23 - 25,3%. Trong khi đó, một số ngân hàng kiểm soát với tỷ trọng thấp hơn như: MSB (khoảng 9,8%), PGBank (8,9%), VIB (4,4%)...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80