Giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan bảo hiểm xã hội

Hà My
(TBTCO) - Theo Bộ Tài chính, nếu cơ quan bảo hiểm xã hội không có chức năng kiểm tra chuyên ngành, thì sẽ khó kiểm soát tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động.
aa

Làm rõ thẩm quyền kiểm tra của cơ quan Bảo hiểm xã hội

Nghị định số 03/2024/NĐ-CP quy định, Thanh tra Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và luật chuyên ngành khác.

Tuy nhiên, theo Luật Thanh tra (năm 2025) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, không có cơ quan thanh tra tại các bộ Tài chính, Nội vụ, Y tế. Thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trong các bộ, ngành được quy định tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP.

Để đảm bảo tính tương thích trong hệ thống pháp luật, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội không còn quy định về hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, mà giữ nguyên nội dung “kiểm tra” về bảo hiểm xã hội như tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (khoản 5, Điều 17).

Giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan bảo hiểm xã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Ảnh: Đức Thanh

Góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (sửa đổi nhằm đảm bảo phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp), Bộ Tài chính kiến nghị làm rõ vị trí pháp lý của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Theo đó, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung quy định về “cơ quan bảo hiểm xã hội” theo hướng: “cơ quan bảo hiểm xã hội” là cơ quan nhà nước đặc thù thuộc Bộ Tài chính có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, cơ quan bảo hiểm xã hội có chức năng kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.

Bộ Tài chính cho biết, việc quy định bảo hiểm xã hội là cơ quan nhà nước có ý nghĩa rất lớn. Nếu bỏ nội dung này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp tục quy định về hoạt động kiểm tra chuyên ngành của cơ quan bảo hiểm xã hội tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP, vì khoản 5 Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 không thể hiện rõ đó là hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Trong khi kiểm tra chuyên ngành của cơ quan bảo hiểm xã hội là đòi hỏi từ thực tiễn tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Theo Bộ Tài chính, các cơ quan thanh tra, kiểm tra khác không cập nhật được dữ liệu, tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp và rất hạn chế số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra về nội dung này cả trong việc xây dựng kế hoạch và thực tế triển khai những năm qua.

Tỷ lệ chậm đóng bảo hiểm xã hội còn 2,55% số thu

Bộ Tài chính cho biết, Bộ đã chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai nhiều giải pháp để hạn chế vi phạm, bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Qua đó, tỷ lệ chậm đóng bảo hiểm xã hội đã giảm từ 3,05% tổng số tiền phải thu năm 2021, xuống còn 2,59% trong năm 2024 và dự kiến còn 2,55% trong năm 2025.

Thống kê cho thấy, tính đến tháng 11/2025, tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên cả nước là 15.882 tỷ đồng, chiếm 2,66% số phải thu. Trong đó, số tiền chậm đóng 1 - 3 tháng là 709 tỷ đồng; số tiền chậm đóng từ 3 tháng trở lên là 10.359 tỷ đồng; số tiền chậm đóng khó thu là 4.814 tỷ đồng.

Do đó, theo Bộ Tài chính, nếu không có quy định kiểm tra chuyên ngành đối với cơ quan bảo hiểm xã hội, sẽ khó kiểm soát tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động; không đạt các mục tiêu về độ bao phủ, về tỷ lệ người hết tuổi lao động được hưởng hưu trí…

Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Nội vụ bổ sung quy định tại Điều 16 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật để đảm bảo thống nhất và đồng bộ với các quy định pháp luật nêu trên.

Sẽ kiểm tra từ xa khi doanh nghiệp có dấu hiệu chậm đóng, trốn đóng

Về các giải pháp giải quyết tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội, Bộ Tài chính cho biết, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 30/11/2025, trong đó đã làm rõ các hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội và tăng cường chế tài xử lý các hành vi này nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động. Qua đó, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Bộ Tài chính đang hoàn thiện thông tư hướng dẫn quy trình kiểm tra bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Trong đó quy định kiểm tra từ xa khi phát hiện dấu hiệu chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội. Giải pháp này nhằm hạn chế tình trạng chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài.

Cùng với đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng cường đôn đốc doanh nghiệp đóng tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định. Hằng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thống kê, rà soát, gửi thông báo đến doanh nghiệp có số tiền chậm đóng. Đồng thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam còn phối hợp với cơ quan Thuế, Nội vụ, Công an và UBND các cấp để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.

Đối với doanh nghiệp cố tình trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ chuyển hồ sơ, kiến nghị khởi tố theo quy định pháp luật, tạo sự răn đe đối với các doanh nghiệp chưa có ý thức chấp hành tốt pháp luật về bảo hiểm xã hội. Các biện pháp này được kỳ vọng sẽ ngăn chặn hiệu quả tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài, bảo đảm an sinh xã hội.

Doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội phải nộp thêm số tiền phạt 0,03%/ngày

Đây là nội dung được quy định tại Nghị định số 274/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội. Theo đó, kể từ ngày 30/11/2025, các đơn vị, doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sẽ phải nộp thêm mức 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng.

Theo Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, số tiền chậm đóng là phần nghĩa vụ mà người sử dụng lao động còn phải nộp sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất. Số ngày chậm đóng được tính từ ngày sau thời hạn đăng ký hoặc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Số tiền trốn đóng được xác định khi người sử dụng lao động không đăng ký, không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc kê khai mức lương thấp hơn thực tế, sau 60 ngày kể từ khi hết thời hạn phải đóng mà vẫn không khắc phục.

Nghị định cũng nêu rõ, các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp hoặc sự kiện bất khả kháng được cơ quan có thẩm quyền công bố sẽ không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, phải có hồ sơ chứng minh nguyên nhân bất khả kháng gửi cơ quan bảo hiểm xã hội trước ngày 25 của tháng có văn bản đôn đốc.

Hà My

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 22:00
Ngân hàng