Giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan bảo hiểm xã hội

Hà My
(TBTCO) - Theo Bộ Tài chính, nếu cơ quan bảo hiểm xã hội không có chức năng kiểm tra chuyên ngành, thì sẽ khó kiểm soát tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động.
aa

Làm rõ thẩm quyền kiểm tra của cơ quan Bảo hiểm xã hội

Nghị định số 03/2024/NĐ-CP quy định, Thanh tra Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và luật chuyên ngành khác.

Tuy nhiên, theo Luật Thanh tra (năm 2025) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, không có cơ quan thanh tra tại các bộ Tài chính, Nội vụ, Y tế. Thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trong các bộ, ngành được quy định tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP.

Để đảm bảo tính tương thích trong hệ thống pháp luật, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội không còn quy định về hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, mà giữ nguyên nội dung “kiểm tra” về bảo hiểm xã hội như tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (khoản 5, Điều 17).

Giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan bảo hiểm xã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Ảnh: Đức Thanh

Góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (sửa đổi nhằm đảm bảo phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp), Bộ Tài chính kiến nghị làm rõ vị trí pháp lý của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Theo đó, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung quy định về “cơ quan bảo hiểm xã hội” theo hướng: “cơ quan bảo hiểm xã hội” là cơ quan nhà nước đặc thù thuộc Bộ Tài chính có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, cơ quan bảo hiểm xã hội có chức năng kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.

Bộ Tài chính cho biết, việc quy định bảo hiểm xã hội là cơ quan nhà nước có ý nghĩa rất lớn. Nếu bỏ nội dung này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp tục quy định về hoạt động kiểm tra chuyên ngành của cơ quan bảo hiểm xã hội tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP, vì khoản 5 Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 không thể hiện rõ đó là hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Trong khi kiểm tra chuyên ngành của cơ quan bảo hiểm xã hội là đòi hỏi từ thực tiễn tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Theo Bộ Tài chính, các cơ quan thanh tra, kiểm tra khác không cập nhật được dữ liệu, tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp và rất hạn chế số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra về nội dung này cả trong việc xây dựng kế hoạch và thực tế triển khai những năm qua.

Tỷ lệ chậm đóng bảo hiểm xã hội còn 2,55% số thu

Bộ Tài chính cho biết, Bộ đã chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai nhiều giải pháp để hạn chế vi phạm, bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Qua đó, tỷ lệ chậm đóng bảo hiểm xã hội đã giảm từ 3,05% tổng số tiền phải thu năm 2021, xuống còn 2,59% trong năm 2024 và dự kiến còn 2,55% trong năm 2025.

Thống kê cho thấy, tính đến tháng 11/2025, tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên cả nước là 15.882 tỷ đồng, chiếm 2,66% số phải thu. Trong đó, số tiền chậm đóng 1 - 3 tháng là 709 tỷ đồng; số tiền chậm đóng từ 3 tháng trở lên là 10.359 tỷ đồng; số tiền chậm đóng khó thu là 4.814 tỷ đồng.

Do đó, theo Bộ Tài chính, nếu không có quy định kiểm tra chuyên ngành đối với cơ quan bảo hiểm xã hội, sẽ khó kiểm soát tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động; không đạt các mục tiêu về độ bao phủ, về tỷ lệ người hết tuổi lao động được hưởng hưu trí…

Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Nội vụ bổ sung quy định tại Điều 16 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật để đảm bảo thống nhất và đồng bộ với các quy định pháp luật nêu trên.

Sẽ kiểm tra từ xa khi doanh nghiệp có dấu hiệu chậm đóng, trốn đóng

Về các giải pháp giải quyết tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội, Bộ Tài chính cho biết, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 30/11/2025, trong đó đã làm rõ các hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội và tăng cường chế tài xử lý các hành vi này nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động. Qua đó, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Bộ Tài chính đang hoàn thiện thông tư hướng dẫn quy trình kiểm tra bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Trong đó quy định kiểm tra từ xa khi phát hiện dấu hiệu chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội. Giải pháp này nhằm hạn chế tình trạng chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài.

Cùng với đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng cường đôn đốc doanh nghiệp đóng tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định. Hằng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thống kê, rà soát, gửi thông báo đến doanh nghiệp có số tiền chậm đóng. Đồng thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam còn phối hợp với cơ quan Thuế, Nội vụ, Công an và UBND các cấp để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.

Đối với doanh nghiệp cố tình trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ chuyển hồ sơ, kiến nghị khởi tố theo quy định pháp luật, tạo sự răn đe đối với các doanh nghiệp chưa có ý thức chấp hành tốt pháp luật về bảo hiểm xã hội. Các biện pháp này được kỳ vọng sẽ ngăn chặn hiệu quả tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài, bảo đảm an sinh xã hội.

Doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội phải nộp thêm số tiền phạt 0,03%/ngày

Đây là nội dung được quy định tại Nghị định số 274/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội. Theo đó, kể từ ngày 30/11/2025, các đơn vị, doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sẽ phải nộp thêm mức 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng.

Theo Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, số tiền chậm đóng là phần nghĩa vụ mà người sử dụng lao động còn phải nộp sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất. Số ngày chậm đóng được tính từ ngày sau thời hạn đăng ký hoặc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Số tiền trốn đóng được xác định khi người sử dụng lao động không đăng ký, không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc kê khai mức lương thấp hơn thực tế, sau 60 ngày kể từ khi hết thời hạn phải đóng mà vẫn không khắc phục.

Nghị định cũng nêu rõ, các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp hoặc sự kiện bất khả kháng được cơ quan có thẩm quyền công bố sẽ không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, phải có hồ sơ chứng minh nguyên nhân bất khả kháng gửi cơ quan bảo hiểm xã hội trước ngày 25 của tháng có văn bản đôn đốc.

Hà My

Đọc thêm

Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

Doanh nghiệp hiến kế, tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng GDP nửa cuối năm

(TBTCO) - Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7, cộng đồng doanh nghiệp đã đề xuất nhiều giải pháp hỗ trợ tăng trưởng, trong đó nổi bật là cơ chế sandbox liên kết với doanh nghiệp FDI và mô hình ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 15,140
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 15,030
Trang sức 99.99 14,340 15,040
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 05/07/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/07/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80