Giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan bảo hiểm xã hội

Hà My
(TBTCO) - Theo Bộ Tài chính, nếu cơ quan bảo hiểm xã hội không có chức năng kiểm tra chuyên ngành, thì sẽ khó kiểm soát tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động.
aa

Làm rõ thẩm quyền kiểm tra của cơ quan Bảo hiểm xã hội

Nghị định số 03/2024/NĐ-CP quy định, Thanh tra Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và luật chuyên ngành khác.

Tuy nhiên, theo Luật Thanh tra (năm 2025) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, không có cơ quan thanh tra tại các bộ Tài chính, Nội vụ, Y tế. Thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trong các bộ, ngành được quy định tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP.

Để đảm bảo tính tương thích trong hệ thống pháp luật, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội không còn quy định về hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, mà giữ nguyên nội dung “kiểm tra” về bảo hiểm xã hội như tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (khoản 5, Điều 17).

Giao chức năng kiểm tra chuyên ngành cho cơ quan bảo hiểm xã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Ảnh: Đức Thanh

Góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (sửa đổi nhằm đảm bảo phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp), Bộ Tài chính kiến nghị làm rõ vị trí pháp lý của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Theo đó, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung quy định về “cơ quan bảo hiểm xã hội” theo hướng: “cơ quan bảo hiểm xã hội” là cơ quan nhà nước đặc thù thuộc Bộ Tài chính có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, cơ quan bảo hiểm xã hội có chức năng kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.

Bộ Tài chính cho biết, việc quy định bảo hiểm xã hội là cơ quan nhà nước có ý nghĩa rất lớn. Nếu bỏ nội dung này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp tục quy định về hoạt động kiểm tra chuyên ngành của cơ quan bảo hiểm xã hội tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP, vì khoản 5 Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 không thể hiện rõ đó là hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Trong khi kiểm tra chuyên ngành của cơ quan bảo hiểm xã hội là đòi hỏi từ thực tiễn tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Theo Bộ Tài chính, các cơ quan thanh tra, kiểm tra khác không cập nhật được dữ liệu, tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp và rất hạn chế số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra về nội dung này cả trong việc xây dựng kế hoạch và thực tế triển khai những năm qua.

Tỷ lệ chậm đóng bảo hiểm xã hội còn 2,55% số thu

Bộ Tài chính cho biết, Bộ đã chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai nhiều giải pháp để hạn chế vi phạm, bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Qua đó, tỷ lệ chậm đóng bảo hiểm xã hội đã giảm từ 3,05% tổng số tiền phải thu năm 2021, xuống còn 2,59% trong năm 2024 và dự kiến còn 2,55% trong năm 2025.

Thống kê cho thấy, tính đến tháng 11/2025, tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên cả nước là 15.882 tỷ đồng, chiếm 2,66% số phải thu. Trong đó, số tiền chậm đóng 1 - 3 tháng là 709 tỷ đồng; số tiền chậm đóng từ 3 tháng trở lên là 10.359 tỷ đồng; số tiền chậm đóng khó thu là 4.814 tỷ đồng.

Do đó, theo Bộ Tài chính, nếu không có quy định kiểm tra chuyên ngành đối với cơ quan bảo hiểm xã hội, sẽ khó kiểm soát tình hình chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động; không đạt các mục tiêu về độ bao phủ, về tỷ lệ người hết tuổi lao động được hưởng hưu trí…

Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Nội vụ bổ sung quy định tại Điều 16 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật để đảm bảo thống nhất và đồng bộ với các quy định pháp luật nêu trên.

Sẽ kiểm tra từ xa khi doanh nghiệp có dấu hiệu chậm đóng, trốn đóng

Về các giải pháp giải quyết tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội, Bộ Tài chính cho biết, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 30/11/2025, trong đó đã làm rõ các hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội và tăng cường chế tài xử lý các hành vi này nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động. Qua đó, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Bộ Tài chính đang hoàn thiện thông tư hướng dẫn quy trình kiểm tra bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Trong đó quy định kiểm tra từ xa khi phát hiện dấu hiệu chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội. Giải pháp này nhằm hạn chế tình trạng chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài.

Cùng với đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng cường đôn đốc doanh nghiệp đóng tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định. Hằng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thống kê, rà soát, gửi thông báo đến doanh nghiệp có số tiền chậm đóng. Đồng thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam còn phối hợp với cơ quan Thuế, Nội vụ, Công an và UBND các cấp để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.

Đối với doanh nghiệp cố tình trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ chuyển hồ sơ, kiến nghị khởi tố theo quy định pháp luật, tạo sự răn đe đối với các doanh nghiệp chưa có ý thức chấp hành tốt pháp luật về bảo hiểm xã hội. Các biện pháp này được kỳ vọng sẽ ngăn chặn hiệu quả tình trạng doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội kéo dài, bảo đảm an sinh xã hội.

Doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội phải nộp thêm số tiền phạt 0,03%/ngày

Đây là nội dung được quy định tại Nghị định số 274/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội. Theo đó, kể từ ngày 30/11/2025, các đơn vị, doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sẽ phải nộp thêm mức 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng.

Theo Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, số tiền chậm đóng là phần nghĩa vụ mà người sử dụng lao động còn phải nộp sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất. Số ngày chậm đóng được tính từ ngày sau thời hạn đăng ký hoặc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Số tiền trốn đóng được xác định khi người sử dụng lao động không đăng ký, không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc kê khai mức lương thấp hơn thực tế, sau 60 ngày kể từ khi hết thời hạn phải đóng mà vẫn không khắc phục.

Nghị định cũng nêu rõ, các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp hoặc sự kiện bất khả kháng được cơ quan có thẩm quyền công bố sẽ không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, phải có hồ sơ chứng minh nguyên nhân bất khả kháng gửi cơ quan bảo hiểm xã hội trước ngày 25 của tháng có văn bản đôn đốc.

Hà My

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80