Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng

Theo đánh giá của VPBankS, nhu cầu tín dụng dự kiến tiếp tục duy trì ở mức cao, tăng trưởng 18 - 20% năm 2026 bất chấp môi trường lãi suất tăng. Do tín dụng bất động sản nhạy cảm với lãi suất, mức điều chỉnh lãi vay được kỳ vọng vừa phải khoảng 0,25 - 0,5 điểm phần trăm, giúp nhóm ngân hàng có dư nợ bất động sản lớn và bộ đệm vốn mạnh có thêm lợi thế.
aa
Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng "Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản

Nhạy cảm với lãi suất, lãi vay kỳ vọng không gây xáo trộn thị trường

Thống kê cho thấy, tỷ trọng của tín dụng bất động sản trên tổng dư nợ toàn hệ thống đã tăng kể từ đầu năm 2025, đạt 23,7% trong quý III/2025, cao hơn mức 21 - 22% ghi nhận trong giai đoạn 2022-2024, cho thấy đóng góp đáng kể của ngành vào tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Tính đến cuối quý III/2025, dư nợ tín dụng bất động sản (bao gồm cả khoản vay doanh nghiệp bất động sản và cho vay mua nhà cá nhân) đạt gần 4,2 triệu tỷ đồng, tăng 20% kể từ đầu năm; trong đó, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tăng mạnh 31,3% so với đầu năm. Qua đó, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế 13,4% trong 9 tháng 2025.

"Trong bối cảnh đó, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ tăng tốc lên mức 18 - 20% so với cùng kỳ, với động lực chính đến từ việc tập trung sang mảng cho vay doanh nghiệp trung và dài hạn, cùng với nhu cầu tín dụng liên quan đến thị trường bất động sản tăng, bao gồm cả cho vay bất động sản thương mại và cho vay mua nhà" - nhóm phân tích VPBankS đánh giá.

Nhìn về triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, Công ty Cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) đánh giá ngành đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, với sự phân hoá ngày càng rõ nét.

Theo VPBankS, hướng đến năm 2026, ngành ngân hàng được kỳ vọng bước vào chu kỳ mở rộng mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi mục tiêu tăng trưởng GDP thực đầy tham vọng trên 10%. Cùng với đó, chính sách tiền tệ tiếp tục theo hướng nới lỏng và ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng, cùng với nhu cầu tín dụng cao hơn từ cả khối doanh nghiệp và hộ gia đình.

Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng
Dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tăng mạnh 31,3% so với đầu năm. Nguồn: VPBankS.

Các ngân hàng thương mại sẽ chịu áp lực tăng lãi suất cho vay trong năm 2026, nhiều khả năng sẽ điều chỉnh tăng trước hết lãi suất ưu đãi áp dụng trong giai đoạn vay ban đầu (3, 6 hoặc 12 tháng đầu), trong khi lãi suất thả nổi đối với các khoản vay mua nhà có khả năng chỉ tăng ở mức vừa phải, khoảng 0,25 - 0,5 điểm phần trăm.

"Bất chấp môi trường lãi suất tăng, nhu cầu tín dụng vẫn duy trì ở mức cao và có thể đạt 18 - 20% trong năm 2026" - VPBankS nhận định.

Chỉ rõ nguyên nhân cho nhận định trên, nhóm phân tích cho rằng, thứ nhất, lãi suất tăng phản ánh nhu cầu vốn gia tăng khi hoạt động kinh tế khởi sắc hơn. Thứ hai, ngay cả sau khi điều chỉnh, mặt bằng lãi suất vẫn thấp hơn so với giai đoạn cuối năm 2022 và đầu năm 2023.

Với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng của Chính phủ ở mức 10,5% trong năm 2026, so với 8,5% năm 2025, việc lãi suất tăng nhiều khả năng phản ánh nhu cầu vốn mạnh hơn của nền kinh tế, thay vì phát đi tín hiệu về một lập trường chính sách tiền tệ mang tính thắt chặt.

Do đó, tác động tiêu cực từ việc lãi suất tăng đối với tăng trưởng tín dụng nói chung và tín dụng bất động sản nói riêng được kỳ vọng ở mức hạn chế, khi biên độ tăng tương đối khiêm tốn và mặt bằng lãi suất vẫn ở mức tương đối dễ chịu.

Cũng theo VPBankS, dựa trên diễn biến lịch sử các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chưa có tiền lệ cho thấy các đợt điều chỉnh chỉ ở mức 50 điểm cơ bản. Lần điều chỉnh gần nhất đối với trần lãi suất huy động ghi nhận mức tăng 200 điểm cơ bản chỉ trong vòng 1 tháng.

Dù vậy, tăng trưởng tín dụng năm 2023, giai đoạn chịu tác động mạnh nhất từ đợt tăng lãi suất này, chỉ giảm khoảng 40 điểm cơ bản so với cùng kỳ.

"Tuy nhiên, tín dụng bất động sản trong năm 2023 đã chịu ảnh hưởng rõ rệt từ mặt bằng lãi suất cao hơn, khi chỉ tăng 12% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức 23,9% của năm trước đó" - VPBankS nhấn mạnh.

Gỡ vướng pháp lý, tăng trưởng tín dụng vượt trội ở nhiều nhà băng

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số, VPBankS nhận định, các nhà hoạch định chính sách nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh kích thích tài khóa và hạn chế tối đa các điều chỉnh lớn theo hướng thắt chặt chính sách tiền tệ. Đồng thời, cơ quan quản lý được kỳ vọng ban hành thêm nhiều chính sách hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt là các chính sách nhằm thúc đẩy sự phục hồi của thị trường bất động sản.

Những nỗ lực của các cơ quan chính quyền trong việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý dự án và cải thiện trong quy trình cấp phép đã giúp đẩy nhanh đáng kể tiến độ phê duyệt các dự án mới.

Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng
Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng. Ảnh minh hoạ.

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, trong 9 tháng 2025, tổng cộng 161 dự án mới, tương đương hơn 64.000 căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ theo ước tính đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, tăng mạnh so với 61 dự án (khoảng 31.600 căn) cùng kỳ. Điều này cho thấy tiềm năng tăng trưởng nguồn cung nhà ở tích cực trong giai đoạn 2026 - 2027.

Cũng theo dự báo của Công ty CBRE, Hà Nội được dự báo sẽ duy trì nguồn cung mới ở mức trên 30.000 căn hộ chung cư mỗi năm trong giai đoạn 2025 - 2027 và đón thêm khoảng 7.000 căn nhà liền thổ mỗi năm. Khu vực nội thành dự kiến đón thêm nhiều dự án mới trong năm 2026, thị trường căn hộ Hà Nội khả năng sẽ chứng kiến việc giá tăng chậm lại.

Ngược lại, các khu vực phía Tây và Bắc Hà Nội như: Mê Linh và Đông Anh đang ghi nhận nhu cầu tích cực hơn, được hỗ trợ bởi hạ tầng kết nối ngày càng cải thiện và việc triển khai các dự án cầu đường mới, bao gồm cầu Tứ Liên và cầu Trần Hưng Đạo, giúp kết nối các khu vực này với trung tâm thành phố.

Còn tại TP. Hồ Chí Minh, nguồn cung mới được dự báo sẽ tăng tốc, chủ yếu đến từ các khu vực như Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, với nguồn cung nhà ở vừa túi tiền, với mức giá chỉ bằng khoảng 50% TP. Hồ Chí Minh.

Tỷ lệ hấp thụ tại các khu vực mới sáp nhập và vùng lân cận TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng sẽ cải thiện, được hỗ trợ bởi hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện và mặt bằng giá nhà dễ tiếp cận hơn.

"Với triển vọng này, chúng tôi cho rằng các ngân hàng có mức độ tiếp xúc cao với tín dụng bất động sản, đồng thời sở hữu bộ đệm vốn mạnh, sẽ ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng vượt trội so với toàn ngành. Các ngân hàng tiêu biểu bao gồm VPBank, VIB, Techcombank và HDBank" - VPBankS đánh giá.

Riêng đối với MB, động lực tăng trưởng được kỳ vọng chủ yếu đến từ việc mở rộng dư nợ cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp, thay vì dựa vào tín dụng bất động sản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,190
USD20 25,667 25,817 26,190
USD1 25,647 25,817 26,190
AUD 17,823 17,923 19,031
EUR 28,572 28,672 30,331
CAD 17,810 17,910 19,216
SGD 20,026 20,176 21,332
JPY 161.25 162.75 168.28
GBP 33,817 33,967 35,280
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30