Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng

Ánh Tuyết
Theo đánh giá của VPBankS, nhu cầu tín dụng dự kiến tiếp tục duy trì ở mức cao, tăng trưởng 18 - 20% năm 2026 bất chấp môi trường lãi suất tăng. Do tín dụng bất động sản nhạy cảm với lãi suất, mức điều chỉnh lãi vay được kỳ vọng vừa phải khoảng 0,25 - 0,5 điểm phần trăm, giúp nhóm ngân hàng có dư nợ bất động sản lớn và bộ đệm vốn mạnh có thêm lợi thế.
aa
Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng "Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản

Nhạy cảm với lãi suất, lãi vay kỳ vọng không gây xáo trộn thị trường

Thống kê cho thấy, tỷ trọng của tín dụng bất động sản trên tổng dư nợ toàn hệ thống đã tăng kể từ đầu năm 2025, đạt 23,7% trong quý III/2025, cao hơn mức 21 - 22% ghi nhận trong giai đoạn 2022-2024, cho thấy đóng góp đáng kể của ngành vào tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Tính đến cuối quý III/2025, dư nợ tín dụng bất động sản (bao gồm cả khoản vay doanh nghiệp bất động sản và cho vay mua nhà cá nhân) đạt gần 4,2 triệu tỷ đồng, tăng 20% kể từ đầu năm; trong đó, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tăng mạnh 31,3% so với đầu năm. Qua đó, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế 13,4% trong 9 tháng 2025.

"Trong bối cảnh đó, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ tăng tốc lên mức 18 - 20% so với cùng kỳ, với động lực chính đến từ việc tập trung sang mảng cho vay doanh nghiệp trung và dài hạn, cùng với nhu cầu tín dụng liên quan đến thị trường bất động sản tăng, bao gồm cả cho vay bất động sản thương mại và cho vay mua nhà" - nhóm phân tích VPBankS đánh giá.

Nhìn về triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, Công ty Cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) đánh giá ngành đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, với sự phân hoá ngày càng rõ nét.

Theo VPBankS, hướng đến năm 2026, ngành ngân hàng được kỳ vọng bước vào chu kỳ mở rộng mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi mục tiêu tăng trưởng GDP thực đầy tham vọng trên 10%. Cùng với đó, chính sách tiền tệ tiếp tục theo hướng nới lỏng và ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng, cùng với nhu cầu tín dụng cao hơn từ cả khối doanh nghiệp và hộ gia đình.

Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng
Dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tăng mạnh 31,3% so với đầu năm. Nguồn: VPBankS.

Các ngân hàng thương mại sẽ chịu áp lực tăng lãi suất cho vay trong năm 2026, nhiều khả năng sẽ điều chỉnh tăng trước hết lãi suất ưu đãi áp dụng trong giai đoạn vay ban đầu (3, 6 hoặc 12 tháng đầu), trong khi lãi suất thả nổi đối với các khoản vay mua nhà có khả năng chỉ tăng ở mức vừa phải, khoảng 0,25 - 0,5 điểm phần trăm.

"Bất chấp môi trường lãi suất tăng, nhu cầu tín dụng vẫn duy trì ở mức cao và có thể đạt 18 - 20% trong năm 2026" - VPBankS nhận định.

Chỉ rõ nguyên nhân cho nhận định trên, nhóm phân tích cho rằng, thứ nhất, lãi suất tăng phản ánh nhu cầu vốn gia tăng khi hoạt động kinh tế khởi sắc hơn. Thứ hai, ngay cả sau khi điều chỉnh, mặt bằng lãi suất vẫn thấp hơn so với giai đoạn cuối năm 2022 và đầu năm 2023.

Với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng của Chính phủ ở mức 10,5% trong năm 2026, so với 8,5% năm 2025, việc lãi suất tăng nhiều khả năng phản ánh nhu cầu vốn mạnh hơn của nền kinh tế, thay vì phát đi tín hiệu về một lập trường chính sách tiền tệ mang tính thắt chặt.

Do đó, tác động tiêu cực từ việc lãi suất tăng đối với tăng trưởng tín dụng nói chung và tín dụng bất động sản nói riêng được kỳ vọng ở mức hạn chế, khi biên độ tăng tương đối khiêm tốn và mặt bằng lãi suất vẫn ở mức tương đối dễ chịu.

Cũng theo VPBankS, dựa trên diễn biến lịch sử các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chưa có tiền lệ cho thấy các đợt điều chỉnh chỉ ở mức 50 điểm cơ bản. Lần điều chỉnh gần nhất đối với trần lãi suất huy động ghi nhận mức tăng 200 điểm cơ bản chỉ trong vòng 1 tháng.

Dù vậy, tăng trưởng tín dụng năm 2023, giai đoạn chịu tác động mạnh nhất từ đợt tăng lãi suất này, chỉ giảm khoảng 40 điểm cơ bản so với cùng kỳ.

"Tuy nhiên, tín dụng bất động sản trong năm 2023 đã chịu ảnh hưởng rõ rệt từ mặt bằng lãi suất cao hơn, khi chỉ tăng 12% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức 23,9% của năm trước đó" - VPBankS nhấn mạnh.

Gỡ vướng pháp lý, tăng trưởng tín dụng vượt trội ở nhiều nhà băng

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số, VPBankS nhận định, các nhà hoạch định chính sách nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh kích thích tài khóa và hạn chế tối đa các điều chỉnh lớn theo hướng thắt chặt chính sách tiền tệ. Đồng thời, cơ quan quản lý được kỳ vọng ban hành thêm nhiều chính sách hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt là các chính sách nhằm thúc đẩy sự phục hồi của thị trường bất động sản.

Những nỗ lực của các cơ quan chính quyền trong việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý dự án và cải thiện trong quy trình cấp phép đã giúp đẩy nhanh đáng kể tiến độ phê duyệt các dự án mới.

Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng
Kỳ vọng thoát áp lực lãi suất, tín dụng bất động sản năm 2026 sẽ giữ nhịp tăng. Ảnh minh hoạ.

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, trong 9 tháng 2025, tổng cộng 161 dự án mới, tương đương hơn 64.000 căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ theo ước tính đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, tăng mạnh so với 61 dự án (khoảng 31.600 căn) cùng kỳ. Điều này cho thấy tiềm năng tăng trưởng nguồn cung nhà ở tích cực trong giai đoạn 2026 - 2027.

Cũng theo dự báo của Công ty CBRE, Hà Nội được dự báo sẽ duy trì nguồn cung mới ở mức trên 30.000 căn hộ chung cư mỗi năm trong giai đoạn 2025 - 2027 và đón thêm khoảng 7.000 căn nhà liền thổ mỗi năm. Khu vực nội thành dự kiến đón thêm nhiều dự án mới trong năm 2026, thị trường căn hộ Hà Nội khả năng sẽ chứng kiến việc giá tăng chậm lại.

Ngược lại, các khu vực phía Tây và Bắc Hà Nội như: Mê Linh và Đông Anh đang ghi nhận nhu cầu tích cực hơn, được hỗ trợ bởi hạ tầng kết nối ngày càng cải thiện và việc triển khai các dự án cầu đường mới, bao gồm cầu Tứ Liên và cầu Trần Hưng Đạo, giúp kết nối các khu vực này với trung tâm thành phố.

Còn tại TP. Hồ Chí Minh, nguồn cung mới được dự báo sẽ tăng tốc, chủ yếu đến từ các khu vực như Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, với nguồn cung nhà ở vừa túi tiền, với mức giá chỉ bằng khoảng 50% TP. Hồ Chí Minh.

Tỷ lệ hấp thụ tại các khu vực mới sáp nhập và vùng lân cận TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng sẽ cải thiện, được hỗ trợ bởi hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện và mặt bằng giá nhà dễ tiếp cận hơn.

"Với triển vọng này, chúng tôi cho rằng các ngân hàng có mức độ tiếp xúc cao với tín dụng bất động sản, đồng thời sở hữu bộ đệm vốn mạnh, sẽ ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng vượt trội so với toàn ngành. Các ngân hàng tiêu biểu bao gồm VPBank, VIB, Techcombank và HDBank" - VPBankS đánh giá.

Riêng đối với MB, động lực tăng trưởng được kỳ vọng chủ yếu đến từ việc mở rộng dư nợ cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp, thay vì dựa vào tín dụng bất động sản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30