Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/2: Lãi suất liên ngân hàng “hạ sốt”, tỷ giá tự do rớt gần 1.000 đồng

(TBTCO) - Tuần qua từ ngày 9 - 13/2, thị trường tiền tệ cho thấy đà “hạ sốt” rõ rệt trong những ngày cận Tết. Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 2.882,57 tỷ đồng qua OMO sau tuần hỗ trợ kỷ lục, góp phần kéo thanh khoản hệ thống ổn định trở lại. Lãi suất qua đêm giảm mạnh từ 9,92% xuống 3,76%, doanh số giao dịch thu hẹp đáng kể; tỷ giá trung tâm hạ 16 đồng, giảm tuần thứ 4 liên tiếp, trong khi USD tự do lao dốc 1.070 đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất Tiền gửi khách hàng lên 12,8 triệu tỷ đồng, lãi suất kích hoạt dòng tiền quý cuối năm Doanh nghiệp Việt giữa biến số tỷ giá

Lãi suất liên ngân hàng "hạ hỏa" gần 6% sau “cơn sốt” thanh khoản

Tuần qua từ ngày 9/2 đến ngày 13/2, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận hoạt động điều tiết thanh khoản linh hoạt, với các phiên bơm - hút đan xen, nhưng trạng thái chung vẫn là bơm ròng nhẹ. Trong 5 phiên giao dịch, có 2 phiên hút ròng rơi vào ngày 10/2 và 12/2.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/2:

Tính chung cả tuần, tổng khối lượng trúng thầu qua OMO đạt 69.680,93 tỷ đồng, chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày, một phần nhỏ ở kỳ hạn 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, 66.798,36 tỷ đồng đáo hạn, đưa dư nợ OMO lưu hành lên 482.896,33 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 2.882,57 tỷ đồng, sau khi bơm ròng kỷ lục gần 160.000 tỷ đồng tuần qua, cho thấy thanh khoản hệ thống ổn định nhưng vẫn được điều tiết chủ động theo nhịp thị trường.

"Thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu áp lực từ nhu cầu vốn mùa vụ cuối tháng và dịp Tết Nguyên đán đến gần. Chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng sẽ sớm hạ nhiệt trở lại vào cuối tháng 2/2026 khi mùa cao điểm đi qua và Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục can thiệp trong ngắn hạn bằng việc sử dụng nghiệp hoán đổi ngoại tệ trong bối cảnh khối lượng OMO lưu hành trên 480 nghìn tỷ đồng và không còn nhiều dư địa" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trong tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt ở hầu hết các kỳ hạn, cho thấy thanh khoản hệ thống đã cải thiện đáng kể sau giai đoạn căng thẳng vào cuối tháng 1/2026.

Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm mạnh từ 9,92% ngày 6/2 xuống còn 3,76% vào 12/2, tương đương mức giảm 6,16 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn cũng ghi nhận xu hướng đi xuống, nhưng vẫn duy trì ở mức tương đối cao: lãi suất 1 tuần còn 9,1%, giảm 0,57 điểm phần trăm, với doanh số khá khiêm tốn chỉ 4 tỷ đồng; kỳ hạn 2 tuần xuống 5,77%, giảm 3,54 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng còn 6,88%, giảm 1,86 điểm phần trăm; kỳ hạn 3 tháng giảm 1,2 điểm phần trăm xuống 7,38%.

Đồng thời, quy mô giao dịch cũng thu hẹp rõ rệt: giá trị qua đêm ngày 12/2 chỉ còn 724.495 tỷ đồng, giảm mạnh so với mức đỉnh 1,17 triệu tỷ đồng ngày 30/1, cho thấy nhu cầu vay mượn ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể.

Theo ghi nhận của nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), lãi suất liên ngân hàng đã bật lên trên mức 17% vào đầu tháng 2/2026 do yếu tố mùa vụ, cao nhất trong hơn một thập kỷ.

Trong bối cảnh này, nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Yunta Việt Nam chỉ rõ, Ngân hàng Nhà nước cũng kích hoạt lại công cụ hoán đổi ngoại tệ với hạn mức 1 tỷ USD, kỳ hạn 21 ngày, hỗ trợ điều tiết thanh khoản trên thị trường.

USD suy yếu, tỷ giá tự do lao dốc hơn 1.000 đồng

Ngày 13/2, phiên giao dịch cuối cùng trước khi nghỉ Tết Nguyên đán, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm USD/VND ở mức 25.049 VND/USD, giảm nhẹ 1 đồng so với phiên liền trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 23.796 - 26.301 VND/USD. Tại Cục Quản lý ngoại hối, tỷ giá tham khảo được niêm yết ở mức 24.847 - 26.251 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm tương ứng 1 đồng hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD được giao dịch quanh 26.200 - 26.250 VND/USD (mua vào - bán ra), không đổi so với phiên trước.

Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/2:

Tính chung tuần qua từ ngày 9 - 13/2, tỷ giá trung tâm giảm 16 đồng, nối tiếp tuần giảm thứ 4 liên tiếp tổng cộng 82 đồng. Điểm đáng chú ý nhất nằm ở thị trường tự do. Sau khi tăng mạnh 820 đồng trong tuần trước, tuần này tỷ giá tự do quay đầu giảm mạnh 1.070 đồng, xuống quanh 26.000 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm tuần qua từ ngày 9 - 13/2 giảm 16 đồng xuống 25.049 VND/USD, đánh dấu tuần giảm thứ 4 liên tiếp với tổng mức điều chỉnh 82 đồng. Trên thị trường tự do, USD giao dịch quanh 26.200 - 26.250 VND/USD, giảm mạnh 1.070 đồng so với tuần trước, cho thấy áp lực đầu cơ hạ nhiệt rõ rệt trong bối cảnh đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, tuần qua phục hồi nhẹ lấy lại mốc 97 điểm, cho thấy USD vẫn đang trong trạng thái dao động hẹp.

Đà giảm của đồng USD diễn ra trong bối cảnh bất ổn địa chính trị khi vào ngày 17/1, Tổng thống Trump đe dọa tăng thuế đối với 8 quốc gia châu Âu kể từ đầu tháng 2. Dù lời đe dọa này đã được rút lại sau khi đạt được thỏa thuận liên quan tới đảo Greenland, đồng USD vẫn tiếp tục chịu sức ép sau động thái “rate check” gần đây của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chi nhánh New York làm dấy lên lo ngại rằng Mỹ và Nhật Bản có thể phối hợp để can thiệp vào thị trường tiền tệ, nhằm ngăn đà giảm giá của đồng Yên.

"Rate check" là một cách thăm dò khi Fed hỏi các nhà môi giới và ngân hàng về mức tỷ giá mà họ có thể thực hiện nếu Fed quyết định mua hoặc bán ngoại tệ. Ngoài ra, đà mất giá của USD càng tăng tốc sau phát biểu của Tổng thống Trump khi khẳng định giá trị của đồng bạc xanh là “rất tốt”. Theo đó, phát biểu này được giới giao dịch coi là tín hiệu cho thấy Nhà Trắng chấp nhận sự suy yếu của USD. Những yếu tố trên đã thúc đẩy các hoạt động bán tháo USD mạnh hơn

Bên cạnh đó, CNY đang lên mức cao nhất trong khoảng 2,5 năm so với USD. Theo ông Matt Maley - Chiến lược gia thị trường trưởng tại công ty tư vấn tài chính Miller Tabak, động lực chính không chỉ đến từ nội tại Trung Quốc, mà còn từ sự suy yếu của đồng USD. Gần đây, cơ quan quản lý Trung Quốc được cho là đã yêu cầu các ngân hàng giảm nắm giữ tài sản định giá bằng USD như: trái phiếu kho bạc Mỹ, cổ phiếu Mỹ hay Bitcoin, làm dấy lên kỳ vọng về dòng vốn hồi hương, qua đó hỗ trợ CNY.

Song song, lợi suất dài hạn tăng mạnh tại Mỹ, Nhật Bản và châu Âu, cùng lo ngại về thâm hụt ngân sách tại nhiều nền kinh tế lớn, đang khiến nhà đầu tư thận trọng hơn với tài sản bằng USD./.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán MBS, yếu tố hỗ trợ cho tỷ giá chủ yếu nhờ xu hướng suy yếu của USD, được dự báo sẽ tiếp tục do chịu tác động của sự phân hóa chính sách tiền tệ giữa các nước.

Chỉ số DXY được dự báo sẽ giảm xuống ngưỡng 95 từ giữa năm 2026, trong khi phần lớn các đồng tiền chủ chốt như: Yên Nhật, Bảng Anh và EUR đều được kỳ vọng tăng giá. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm cả Việt Nam, cũng sẽ được hưởng lợi khi chênh lệch lãi giữa Mỹ và các nước này thu hẹp.

Ở chiều ngược lại, nhóm phân tích MBS cho rằng, vẫn còn các áp lực lên tỷ giá trong năm 2026. Theo đó, Việt Nam ghi nhận mức thặng dư thương mại hơn 20 tỷ USD năm 2025, song phần lớn đến từ FDI; nhập khẩu tăng mạnh, chủ yếu từ Mỹ; dự báo giá vàng vượt 5.000 USD/ounce gây áp lực tỷ giá.

"Cân bằng giữa các yếu tố trên, chúng tôi cho rằng tỷ giá sẽ ổn định hơn trong năm 2026 với mức tăng 2,5 - 3%" - MBS dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17980 18556
CAD 17829 18103 18719
CHF 30675 31051 31692
CNY 0 3827 3923
EUR 28946 29165 30243
GBP 33554 33942 34875
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14989
SGD 19781 20062 20629
THB 693 756 810
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30