Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại gần 50 ngân hàng đến ngày 10/2 cho thấy, cuộc đua lãi suất huy động vẫn giữ nhiệt. Trong đó, có 15 ngân hàng tăng lãi suất tiết kiệm 6 tháng, có nơi tăng tới 2,1 điểm phần trăm, với sự tham gia rõ nét của khối ngân hàng ngoại, khiến top ngân hàng trả lãi suất cao xáo trộn.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40% Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ngân hàng ngoại nhập cuộc, một số nhà băng quay đầu giảm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng tính đến ngày 10/2 cho thấy, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng tại nhiều ngân hàng tiếp tục được điều chỉnh tăng so với đầu năm, trong đó, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trở nên rõ nét hơn. Tuy vậy, thị trường cũng ghi nhận một số nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất; đồng thời, xuất hiện xu hướng lãi suất các kỳ hạn ngắn (như 6 tháng), được niêm yết cao hơn đáng kể so với các kỳ hạn dài (12 tháng hoặc 24 tháng).

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, có 9 ngân hàng tăng lãi suất, mức tăng cao nhất là 1,5 điểm phần trăm. Theo đó, UOB đang niêm yết ở mức 4,75%/năm, chạm trần quy định, sau khi tăng mạnh 1,5 điểm phần trăm, mức điều chỉnh cao nhất thị trường. SaigonbankHong Leong Bank cũng đưa lãi suất lên 4,75%/năm, lần lượt tăng 0,65 điểm phần trăm và 0,55 điểm phần trăm.

Trong khi đó, VietNgaBank và Indovinabank cùng niêm yết 4,5%/năm, tương ứng tăng 1,2 điểm phần trăm và 0,3 điểm phần trăm. LPBank nâng thêm 0,2 điểm phần trăm lên 4,2%/năm, MB tăng 0,2 điểm phần trăm lên 3,7%/năm, còn ABBank đạt 3,6%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm.

Trong nhóm "big 4", Agribank, dù đã 2 lần điều chỉnh lãi suất từ cuối năm 2025 đến nay, vẫn duy trì mức thấp hơn, ở 2,6%/năm.

Khảo sát lãi suất tại gần 50 ngân hàng đến ngày 10/2 cho thấy cuộc đua lãi suất huy động vẫn diễn ra sôi động. Có 9 ngân hàng tăng lãi suất kỳ hạn 1 tháng, đưa lãi suất nhiều nhà băng lên kịch trần; trong khi 15 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng. Mức tăng có nơi lên tới 2,1 điểm phần trăm, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài rõ nét hơn. Dù vậy, thị trường cũng ghi nhận một số ngân hàng giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn.

Cuộc đua lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn đang được người gửi tiền ưa thích - tiếp tục xu hướng tăng so với đầu năm, với 15 nhà băng tăng lãi suất, mức tăng mạnh lên tới 2,1%/năm.

Theo đó, dẫn đầu thị trường là Hong Leong Bank, niêm yết lãi suất 7,2%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm so với đầu năm, hiện là mức cao nhất ở kỳ hạn này. Đáng chú ý, UOB đưa lãi suất 6 tháng lên 6,2%/năm, tăng mạnh 2,1 điểm phần trăm, mức tăng cao nhất trong nhóm khảo sát.

BacABank cũng ghi nhận mức cao, đạt 6,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. MBV nâng lãi suất thêm 1 điểm phần trăm lên 6,5%/năm, trong khi CIMB niêm yết 6,3%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm. ABBank điều chỉnh tăng 0,9 điểm phần trăm lên 6,1%/năm, còn Saigonbank đạt 6%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm...

Khác với những tháng cuối năm 2025, có 6 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn so với đầu năm, trái ngược với mặt bằng tăng chung của thị trường.

Đơn cử, tại Sacombank, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,45 điểm phần trăm xuống 4,3%/năm, kỳ hạn 3 tháng giảm 0,25 điểm phần trăm xuống 4,5%/năm; trong khi các kỳ hạn 6 - 24 tháng vẫn duy trì xu hướng tăng 0,4 điểm phần trăm, lên 5,3 - 5,4%/năm. Techcombank đồng loạt giảm 0,2 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn, với lãi suất 1 tháng còn 3,65%/năm và 12 - 24 tháng ở mức 5,15%/năm.

TPBank giảm 0,25 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 - 3 tháng, xuống 4,5%/năm, trong khi giữ nguyên lãi suất dài hơn. WooriBank điều chỉnh giảm mạnh nhất ở kỳ hạn ngắn, khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,7 điểm phần trăm xuống 2,5%/năm; kỳ hạn 3 tháng giảm 0,8 điểm phần trăm xuống 2,9%/năm; các kỳ hạn dài cũng giảm 0,3 - 0,4 điểm phần trăm.

PGBank chỉ giảm ở kỳ hạn 24 tháng, giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 6,8%/năm, trong khi giữ nguyên các kỳ hạn còn lại.

Sức căng thanh khoản cận Tết, áp lực chi phí lãi dồn về sau

Bức tranh lãi suất huy động đầu tháng 2/2026 cũng cho thấy, nhiều ngân hàng sẵn sàng trả lãi cao để hút vốn, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn 6 - 12 tháng.

lãi suất huy động cao nhất tháng 2/2026
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026. Ảnh tư liệu.

Ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, mặt bằng lãi suất cao nhất tập trung quanh mức kịch trần 4,75%/năm, với danh sách khá dày, gồm nhiều ngân hàng như: UOB, Hong Leong Bank, PGBank, CIMB, OCB, VCBNeo, BVBank, Saigonbank, PVcomBank…

Sang kỳ hạn 6 tháng, cuộc đua phân tầng rõ hơn. Hong Leong Bank dẫn đầu thị trường với 7,2%/năm; PGBank theo sát ở 7,1%/năm. Nhóm bám đuổi nổi bật là BacABank (6,8%/năm), kế đến là MBV (Oceanbank, 6,5%/năm), VikkiBank (6,4%/năm), CIMB (6,3%/năm).

Ở kỳ hạn 12 tháng, mức cao nhất tiếp tục thuộc về Hong Leong Bank với 7,4%/năm. Top 2 trong nhóm khảo sát là PGBank và MBV, đều ở mức 7,2%/năm. BacABank theo sau với 6,85%/năm.

Đáng chú ý, sang 24 tháng, lãi suất tại Hong Leong Bank, PGBank, VikkiBank hay VCBNeo thậm chí còn thấp hơn đáng kể kỳ hạn ngắn (6 - 12 tháng).

Do đó, top những ngân hàng trả lãi cao cũng có sự xáo trộn nhất định. MBV trả lãi cao nhất 7,2%/năm; trong khi các ngân hàng khác như BVBank trả lãi suất 6,95%/năm và BacABank/OCB 6,9%/năm, PGBank 6,8%/năm.

Theo đánh giá của ông Lê Hoài Ân - chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, trước áp lực đáp ứng nhu cầu cho vay trong khi vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về thanh khoản, việc điều chỉnh lãi suất huy động để củng cố nguồn vốn đầu vào đang dần trở thành xu hướng phổ biến trong hệ thống ngân hàng.

"Tác động của mặt bằng lãi suất huy động lên chi phí lãi của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ được thể hiện rõ hơn trong giai đoạn quý I - II/2026" - ông Lê Hoài Ân nhận định.

Nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cũng cho rằng, thanh khoản hệ thống có phần thiếu hụt trong giai đoạn cuối tháng và dịp Tết cận kề. Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn tăng đồng loạt trước khi hạ nhiệt trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tăng bơm ròng qua kênh thị trường mở.

"Áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu do nhu cầu rút tiền mặt trước dịp Tết Nguyên đán cận kề" - Công ty Chứng khoán Yuanta dự báo.

Thông thường, khoảng 2 tuần cận Tết Nguyên đán là giai đoạn nhu cầu tiền mặt trong nền kinh tế tăng vọt. Người dân rút tiền phục vụ chi tiêu, mua sắm cuối năm; doanh nghiệp đẩy mạnh rút vốn để thanh toán lương, thưởng, công nợ và các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Việc dòng tiền lớn rời khỏi hệ thống ngân hàng trong thời gian ngắn khiến áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt.

Trong bối cảnh đó, bên cạnh giải pháp tăng lãi suất huy động trên diện rộng, các chương trình ưu đãi, khuyến mãi được các ngân hàng sử dụng như một “đòn bẩy” nhằm giữ chân dòng tiền hiện hữu hoặc nhanh chóng thu hút nguồn vốn quay trở lại hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,410 ▲290K 15,010 ▲290K
Trang sức 99.99 14,420 ▲290K 15,020 ▲290K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18216 18491 19065
CAD 18391 18668 19284
CHF 31998 32380 33020
CNY 0 3840 3950
EUR 29907 30130 31209
GBP 34880 35273 36206
HKD 0 3205 3408
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15899
SGD 20059 20342 20909
THB 716 780 833
USD (1,2) 25887 0 0
USD (5,10,20) 25927 0 0
USD (50,100) 25956 25970 26336
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,956 30,076 31,275
GBP 35,029 35,170 36,209
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,092 32,221 33,163
JPY 160.46 161.10 169.08
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,227 20,308 20,907
THB 781 784 821
CAD 18,596 18,671 19,268
NZD 15,367 15,917
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25930 25930 26330
AUD 18388 18488 19411
CAD 18582 18682 19697
CHF 32257 32287 33869
CNY 3828.5 3853.5 3988.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30082 30112 31837
GBP 35164 35214 36975
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15419 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20215 20345 21066
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,930 25,980 26,310
USD20 25,880 25,980 26,830
USD1 25,830 25,980 26,880
AUD 18,406 18,506 19,646
EUR 29,830 29,930 31,633
CAD 18,517 18,617 19,948
SGD 20,261 20,411 21,693
JPY 161.25 162.75 168.54
GBP 35,011 35,161 36,530
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 15:00
Ngân hàng