Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại gần 50 ngân hàng đến ngày 10/2 cho thấy, cuộc đua lãi suất huy động vẫn giữ nhiệt. Trong đó, có 15 ngân hàng tăng lãi suất tiết kiệm 6 tháng, có nơi tăng tới 2,1 điểm phần trăm, với sự tham gia rõ nét của khối ngân hàng ngoại, khiến top ngân hàng trả lãi suất cao xáo trộn.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40% Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ngân hàng ngoại nhập cuộc, một số nhà băng quay đầu giảm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng tính đến ngày 10/2 cho thấy, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng tại nhiều ngân hàng tiếp tục được điều chỉnh tăng so với đầu năm, trong đó, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trở nên rõ nét hơn. Tuy vậy, thị trường cũng ghi nhận một số nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất; đồng thời, xuất hiện xu hướng lãi suất các kỳ hạn ngắn (như 6 tháng), được niêm yết cao hơn đáng kể so với các kỳ hạn dài (12 tháng hoặc 24 tháng).

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, có 9 ngân hàng tăng lãi suất, mức tăng cao nhất là 1,5 điểm phần trăm. Theo đó, UOB đang niêm yết ở mức 4,75%/năm, chạm trần quy định, sau khi tăng mạnh 1,5 điểm phần trăm, mức điều chỉnh cao nhất thị trường. SaigonbankHong Leong Bank cũng đưa lãi suất lên 4,75%/năm, lần lượt tăng 0,65 điểm phần trăm và 0,55 điểm phần trăm.

Trong khi đó, VietNgaBank và Indovinabank cùng niêm yết 4,5%/năm, tương ứng tăng 1,2 điểm phần trăm và 0,3 điểm phần trăm. LPBank nâng thêm 0,2 điểm phần trăm lên 4,2%/năm, MB tăng 0,2 điểm phần trăm lên 3,7%/năm, còn ABBank đạt 3,6%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm.

Trong nhóm "big 4", Agribank, dù đã 2 lần điều chỉnh lãi suất từ cuối năm 2025 đến nay, vẫn duy trì mức thấp hơn, ở 2,6%/năm.

Khảo sát lãi suất tại gần 50 ngân hàng đến ngày 10/2 cho thấy cuộc đua lãi suất huy động vẫn diễn ra sôi động. Có 9 ngân hàng tăng lãi suất kỳ hạn 1 tháng, đưa lãi suất nhiều nhà băng lên kịch trần; trong khi 15 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng. Mức tăng có nơi lên tới 2,1 điểm phần trăm, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài rõ nét hơn. Dù vậy, thị trường cũng ghi nhận một số ngân hàng giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn.

Cuộc đua lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn đang được người gửi tiền ưa thích - tiếp tục xu hướng tăng so với đầu năm, với 15 nhà băng tăng lãi suất, mức tăng mạnh lên tới 2,1%/năm.

Theo đó, dẫn đầu thị trường là Hong Leong Bank, niêm yết lãi suất 7,2%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm so với đầu năm, hiện là mức cao nhất ở kỳ hạn này. Đáng chú ý, UOB đưa lãi suất 6 tháng lên 6,2%/năm, tăng mạnh 2,1 điểm phần trăm, mức tăng cao nhất trong nhóm khảo sát.

BacABank cũng ghi nhận mức cao, đạt 6,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. MBV nâng lãi suất thêm 1 điểm phần trăm lên 6,5%/năm, trong khi CIMB niêm yết 6,3%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm. ABBank điều chỉnh tăng 0,9 điểm phần trăm lên 6,1%/năm, còn Saigonbank đạt 6%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm...

Khác với những tháng cuối năm 2025, có 6 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn so với đầu năm, trái ngược với mặt bằng tăng chung của thị trường.

Đơn cử, tại Sacombank, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,45 điểm phần trăm xuống 4,3%/năm, kỳ hạn 3 tháng giảm 0,25 điểm phần trăm xuống 4,5%/năm; trong khi các kỳ hạn 6 - 24 tháng vẫn duy trì xu hướng tăng 0,4 điểm phần trăm, lên 5,3 - 5,4%/năm. Techcombank đồng loạt giảm 0,2 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn, với lãi suất 1 tháng còn 3,65%/năm và 12 - 24 tháng ở mức 5,15%/năm.

TPBank giảm 0,25 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 - 3 tháng, xuống 4,5%/năm, trong khi giữ nguyên lãi suất dài hơn. WooriBank điều chỉnh giảm mạnh nhất ở kỳ hạn ngắn, khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,7 điểm phần trăm xuống 2,5%/năm; kỳ hạn 3 tháng giảm 0,8 điểm phần trăm xuống 2,9%/năm; các kỳ hạn dài cũng giảm 0,3 - 0,4 điểm phần trăm.

PGBank chỉ giảm ở kỳ hạn 24 tháng, giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 6,8%/năm, trong khi giữ nguyên các kỳ hạn còn lại.

Sức căng thanh khoản cận Tết, áp lực chi phí lãi dồn về sau

Bức tranh lãi suất huy động đầu tháng 2/2026 cũng cho thấy, nhiều ngân hàng sẵn sàng trả lãi cao để hút vốn, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn 6 - 12 tháng.

lãi suất huy động cao nhất tháng 2/2026
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026. Ảnh tư liệu.

Ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, mặt bằng lãi suất cao nhất tập trung quanh mức kịch trần 4,75%/năm, với danh sách khá dày, gồm nhiều ngân hàng như: UOB, Hong Leong Bank, PGBank, CIMB, OCB, VCBNeo, BVBank, Saigonbank, PVcomBank…

Sang kỳ hạn 6 tháng, cuộc đua phân tầng rõ hơn. Hong Leong Bank dẫn đầu thị trường với 7,2%/năm; PGBank theo sát ở 7,1%/năm. Nhóm bám đuổi nổi bật là BacABank (6,8%/năm), kế đến là MBV (Oceanbank, 6,5%/năm), VikkiBank (6,4%/năm), CIMB (6,3%/năm).

Ở kỳ hạn 12 tháng, mức cao nhất tiếp tục thuộc về Hong Leong Bank với 7,4%/năm. Top 2 trong nhóm khảo sát là PGBank và MBV, đều ở mức 7,2%/năm. BacABank theo sau với 6,85%/năm.

Đáng chú ý, sang 24 tháng, lãi suất tại Hong Leong Bank, PGBank, VikkiBank hay VCBNeo thậm chí còn thấp hơn đáng kể kỳ hạn ngắn (6 - 12 tháng).

Do đó, top những ngân hàng trả lãi cao cũng có sự xáo trộn nhất định. MBV trả lãi cao nhất 7,2%/năm; trong khi các ngân hàng khác như BVBank trả lãi suất 6,95%/năm và BacABank/OCB 6,9%/năm, PGBank 6,8%/năm.

Theo đánh giá của ông Lê Hoài Ân - chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, trước áp lực đáp ứng nhu cầu cho vay trong khi vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về thanh khoản, việc điều chỉnh lãi suất huy động để củng cố nguồn vốn đầu vào đang dần trở thành xu hướng phổ biến trong hệ thống ngân hàng.

"Tác động của mặt bằng lãi suất huy động lên chi phí lãi của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ được thể hiện rõ hơn trong giai đoạn quý I - II/2026" - ông Lê Hoài Ân nhận định.

Nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cũng cho rằng, thanh khoản hệ thống có phần thiếu hụt trong giai đoạn cuối tháng và dịp Tết cận kề. Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn tăng đồng loạt trước khi hạ nhiệt trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tăng bơm ròng qua kênh thị trường mở.

"Áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu do nhu cầu rút tiền mặt trước dịp Tết Nguyên đán cận kề" - Công ty Chứng khoán Yuanta dự báo.

Thông thường, khoảng 2 tuần cận Tết Nguyên đán là giai đoạn nhu cầu tiền mặt trong nền kinh tế tăng vọt. Người dân rút tiền phục vụ chi tiêu, mua sắm cuối năm; doanh nghiệp đẩy mạnh rút vốn để thanh toán lương, thưởng, công nợ và các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Việc dòng tiền lớn rời khỏi hệ thống ngân hàng trong thời gian ngắn khiến áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt.

Trong bối cảnh đó, bên cạnh giải pháp tăng lãi suất huy động trên diện rộng, các chương trình ưu đãi, khuyến mãi được các ngân hàng sử dụng như một “đòn bẩy” nhằm giữ chân dòng tiền hiện hữu hoặc nhanh chóng thu hút nguồn vốn quay trở lại hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30