Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát tại gần 50 ngân hàng đến ngày 10/2 cho thấy, cuộc đua lãi suất huy động vẫn giữ nhiệt. Trong đó, có 15 ngân hàng tăng lãi suất tiết kiệm 6 tháng, có nơi tăng tới 2,1 điểm phần trăm, với sự tham gia rõ nét của khối ngân hàng ngoại, khiến top ngân hàng trả lãi suất cao xáo trộn.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40% Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ngân hàng ngoại nhập cuộc, một số nhà băng quay đầu giảm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng tính đến ngày 10/2 cho thấy, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng tại nhiều ngân hàng tiếp tục được điều chỉnh tăng so với đầu năm, trong đó, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trở nên rõ nét hơn. Tuy vậy, thị trường cũng ghi nhận một số nhà băng điều chỉnh giảm lãi suất; đồng thời, xuất hiện xu hướng lãi suất các kỳ hạn ngắn (như 6 tháng), được niêm yết cao hơn đáng kể so với các kỳ hạn dài (12 tháng hoặc 24 tháng).

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, có 9 ngân hàng tăng lãi suất, mức tăng cao nhất là 1,5 điểm phần trăm. Theo đó, UOB đang niêm yết ở mức 4,75%/năm, chạm trần quy định, sau khi tăng mạnh 1,5 điểm phần trăm, mức điều chỉnh cao nhất thị trường. SaigonbankHong Leong Bank cũng đưa lãi suất lên 4,75%/năm, lần lượt tăng 0,65 điểm phần trăm và 0,55 điểm phần trăm.

Trong khi đó, VietNgaBank và Indovinabank cùng niêm yết 4,5%/năm, tương ứng tăng 1,2 điểm phần trăm và 0,3 điểm phần trăm. LPBank nâng thêm 0,2 điểm phần trăm lên 4,2%/năm, MB tăng 0,2 điểm phần trăm lên 3,7%/năm, còn ABBank đạt 3,6%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm.

Trong nhóm "big 4", Agribank, dù đã 2 lần điều chỉnh lãi suất từ cuối năm 2025 đến nay, vẫn duy trì mức thấp hơn, ở 2,6%/năm.

Khảo sát lãi suất tại gần 50 ngân hàng đến ngày 10/2 cho thấy cuộc đua lãi suất huy động vẫn diễn ra sôi động. Có 9 ngân hàng tăng lãi suất kỳ hạn 1 tháng, đưa lãi suất nhiều nhà băng lên kịch trần; trong khi 15 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng. Mức tăng có nơi lên tới 2,1 điểm phần trăm, sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài rõ nét hơn. Dù vậy, thị trường cũng ghi nhận một số ngân hàng giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn.

Cuộc đua lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn đang được người gửi tiền ưa thích - tiếp tục xu hướng tăng so với đầu năm, với 15 nhà băng tăng lãi suất, mức tăng mạnh lên tới 2,1%/năm.

Theo đó, dẫn đầu thị trường là Hong Leong Bank, niêm yết lãi suất 7,2%/năm, tăng 1,8 điểm phần trăm so với đầu năm, hiện là mức cao nhất ở kỳ hạn này. Đáng chú ý, UOB đưa lãi suất 6 tháng lên 6,2%/năm, tăng mạnh 2,1 điểm phần trăm, mức tăng cao nhất trong nhóm khảo sát.

BacABank cũng ghi nhận mức cao, đạt 6,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. MBV nâng lãi suất thêm 1 điểm phần trăm lên 6,5%/năm, trong khi CIMB niêm yết 6,3%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm. ABBank điều chỉnh tăng 0,9 điểm phần trăm lên 6,1%/năm, còn Saigonbank đạt 6%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm...

Khác với những tháng cuối năm 2025, có 6 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn so với đầu năm, trái ngược với mặt bằng tăng chung của thị trường.

Đơn cử, tại Sacombank, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,45 điểm phần trăm xuống 4,3%/năm, kỳ hạn 3 tháng giảm 0,25 điểm phần trăm xuống 4,5%/năm; trong khi các kỳ hạn 6 - 24 tháng vẫn duy trì xu hướng tăng 0,4 điểm phần trăm, lên 5,3 - 5,4%/năm. Techcombank đồng loạt giảm 0,2 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn, với lãi suất 1 tháng còn 3,65%/năm và 12 - 24 tháng ở mức 5,15%/năm.

TPBank giảm 0,25 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 - 3 tháng, xuống 4,5%/năm, trong khi giữ nguyên lãi suất dài hơn. WooriBank điều chỉnh giảm mạnh nhất ở kỳ hạn ngắn, khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,7 điểm phần trăm xuống 2,5%/năm; kỳ hạn 3 tháng giảm 0,8 điểm phần trăm xuống 2,9%/năm; các kỳ hạn dài cũng giảm 0,3 - 0,4 điểm phần trăm.

PGBank chỉ giảm ở kỳ hạn 24 tháng, giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 6,8%/năm, trong khi giữ nguyên các kỳ hạn còn lại.

Sức căng thanh khoản cận Tết, áp lực chi phí lãi dồn về sau

Bức tranh lãi suất huy động đầu tháng 2/2026 cũng cho thấy, nhiều ngân hàng sẵn sàng trả lãi cao để hút vốn, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn 6 - 12 tháng.

lãi suất huy động cao nhất tháng 2/2026
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2026. Ảnh tư liệu.

Ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, mặt bằng lãi suất cao nhất tập trung quanh mức kịch trần 4,75%/năm, với danh sách khá dày, gồm nhiều ngân hàng như: UOB, Hong Leong Bank, PGBank, CIMB, OCB, VCBNeo, BVBank, Saigonbank, PVcomBank…

Sang kỳ hạn 6 tháng, cuộc đua phân tầng rõ hơn. Hong Leong Bank dẫn đầu thị trường với 7,2%/năm; PGBank theo sát ở 7,1%/năm. Nhóm bám đuổi nổi bật là BacABank (6,8%/năm), kế đến là MBV (Oceanbank, 6,5%/năm), VikkiBank (6,4%/năm), CIMB (6,3%/năm).

Ở kỳ hạn 12 tháng, mức cao nhất tiếp tục thuộc về Hong Leong Bank với 7,4%/năm. Top 2 trong nhóm khảo sát là PGBank và MBV, đều ở mức 7,2%/năm. BacABank theo sau với 6,85%/năm.

Đáng chú ý, sang 24 tháng, lãi suất tại Hong Leong Bank, PGBank, VikkiBank hay VCBNeo thậm chí còn thấp hơn đáng kể kỳ hạn ngắn (6 - 12 tháng).

Do đó, top những ngân hàng trả lãi cao cũng có sự xáo trộn nhất định. MBV trả lãi cao nhất 7,2%/năm; trong khi các ngân hàng khác như BVBank trả lãi suất 6,95%/năm và BacABank/OCB 6,9%/năm, PGBank 6,8%/năm.

Theo đánh giá của ông Lê Hoài Ân - chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, trước áp lực đáp ứng nhu cầu cho vay trong khi vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về thanh khoản, việc điều chỉnh lãi suất huy động để củng cố nguồn vốn đầu vào đang dần trở thành xu hướng phổ biến trong hệ thống ngân hàng.

"Tác động của mặt bằng lãi suất huy động lên chi phí lãi của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ được thể hiện rõ hơn trong giai đoạn quý I - II/2026" - ông Lê Hoài Ân nhận định.

Nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cũng cho rằng, thanh khoản hệ thống có phần thiếu hụt trong giai đoạn cuối tháng và dịp Tết cận kề. Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn tăng đồng loạt trước khi hạ nhiệt trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tăng bơm ròng qua kênh thị trường mở.

"Áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu do nhu cầu rút tiền mặt trước dịp Tết Nguyên đán cận kề" - Công ty Chứng khoán Yuanta dự báo.

Thông thường, khoảng 2 tuần cận Tết Nguyên đán là giai đoạn nhu cầu tiền mặt trong nền kinh tế tăng vọt. Người dân rút tiền phục vụ chi tiêu, mua sắm cuối năm; doanh nghiệp đẩy mạnh rút vốn để thanh toán lương, thưởng, công nợ và các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Việc dòng tiền lớn rời khỏi hệ thống ngân hàng trong thời gian ngắn khiến áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt.

Trong bối cảnh đó, bên cạnh giải pháp tăng lãi suất huy động trên diện rộng, các chương trình ưu đãi, khuyến mãi được các ngân hàng sử dụng như một “đòn bẩy” nhằm giữ chân dòng tiền hiện hữu hoặc nhanh chóng thu hút nguồn vốn quay trở lại hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18573 18850 19423
CAD 18686 18964 19581
CHF 33036 33422 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30226 30500 31525
GBP 34814 35207 36139
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15333 15918
SGD 20152 20435 20961
THB 730 794 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26382
AUD 18770 18870 19795
CAD 18871 18971 19988
CHF 33291 33321 34904
CNY 3822.7 3847.7 3983.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30406 30436 32161
GBP 35117 35167 36920
HKD 0 3355 0
JPY 163.37 163.87 174.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15436 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20308 20438 21171
THB 0 758.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,382
USD20 26,175 26,225 26,382
USD1 23,870 26,225 26,382
AUD 18,797 18,897 20,014
EUR 30,566 30,566 31,986
CAD 18,822 18,922 20,234
SGD 20,398 20,548 21,485
JPY 163.87 165.37 169.97
GBP 35,029 35,379 36,270
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 796 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80