Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nối tiếp đà tăng nóng cuối năm, lãi suất huy động đầu năm 2026 tiếp tục “nhấn ga” khi đồng loạt tăng ở nhiều kỳ hạn, với mức điều chỉnh trên 1 điểm phần trăm chỉ chưa đầy 1 tháng. Khi tăng trưởng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài, áp lực thanh khoản chưa nguôi, cùng ước lệch pha kỳ hạn hệ thống tới 5 triệu tỷ đồng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao.
aa

Lãi suất tiết kiệm "nhấn ga" đầu năm

Nối tiếp sức nóng từ cuối năm trước, thị trường tiền gửi đầu năm tiếp tục sôi động khi trên các diễn đàn, nhân viên của hàng loạt ngân hàng như: Vikki Bank, ABBank, NCB, VPBank, OCB… liên tục chào mời lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng gần 8%/năm, thậm chí vượt 8,5%/năm. Để "săn" tiền gửi, các nhà băng còn triển khai chương trình tặng lịch, quà tết, cơ hội trúng vàng SJC. Ở chiều ngược lại, người gửi tiền cũng tất bật hỏi han tìm nơi "chọn mặt gửi vàng" cho những khoản tiết kiệm từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng.

Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm
Nguồn: Blooberg. MBS Research

Khảo sát hơn 50 ngân hàng niêm yết lãi suất tiền gửi các kỳ hạn ngày 20/1 cho thấy, xu hướng tăng lãi suất huy động ngay từ đầu năm vẫn khá rõ nét. Với kỳ hạn 6 tháng, nhóm kỳ hạn được người gửi tiền ưa thích, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được duy trì, khi ghi nhận 9 ngân hàng tăng những tuần đầu năm 2026, tiếp đà tăng của gần 40/50 ngân hàng trong quý IV/2025.

Tiếp tục "nhấn ga" lãi suất đầu năm, ABBank gây chú ý khi tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu năm 2026, cao nhất nhóm khảo sát, đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,3%/năm. MBV nâng lãi suất 6 tháng lên 6,5%/năm, tăng 1 điểm phần trăm so với đầu năm, cho thấy chiến lược đẩy mạnh huy động vốn.

Sacombank ghi nhận lãi suất 6 tháng 5,4%/năm, tăng 0,5 điểm phần trăm so với đầu năm 2026; so với tháng 10/2025, mức tăng lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Đáng chú ý, Agribank trong nhóm “big 4”, tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng thêm 0,2 điểm phần trăm so với đầu năm, lên 4%/năm, nối tiếp đà tăng 0,3 điểm phần trăm vào cuối tháng 12/2025. Như vậy, sau gần một năm gần như “bất động”, lãi suất huy động của Agribank tăng tổng cộng 0,5 điểm phần trăm, thu hút sự quan tâm lớn của thị trường.

Ở kỳ hạn dài 12 tháng, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được khẳng định. Đơn cử, MBV niêm yết lãi suất ở mức 7,2%/năm, một trong số ít ngân hàng niêm yết trên ngưỡng 7%. Nếu cộng thêm các chương trình ưu đãi, lãi suất thực tế được chào mời có thể lên tới 8,5%/năm. Chưa đầy 1 tháng, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của MBV đã tăng mạnh 1,3 điểm phần trăm.

Trong khi đó, ABBank niêm yết lãi suất kỳ hạn 12 tháng ở 6,3%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm so với đầu năm 2026.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng từ 5,7% vào cuối tháng 12/2025 tiếp tục nhích lên 5,8% vào giữa tháng 1/2026. Trong số 18 ngân hàng được theo dõi, có tới 14 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 12.

Xu hướng tăng này tiếp tục được duy trì trong nửa đầu tháng 1/2026, khi có thêm 5 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,1 - 0,6 điểm phần trăm. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng top đầu đến giữa tháng 1/2026 tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025, lên mức 5,69%.

"Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng cao hơn trong năm 2026" - nhóm phân tích MBS nhận định.

Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, nhưng áp lực huy động chưa nguôi

Theo đánh giá của MBS, đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19% so với cuối năm 2024, gây áp lực đáng kể lên thanh khoản.

Trong bối cảnh đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tháng 12/2025 liên tục neo quanh ngưỡng 7 - 7,5%. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước đã kích hoạt công cụ can thiệp mới là FX Swap, đồng thời duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO).

Theo MBS, nhờ các biện pháp can thiệp, sang giữa tháng 1/2026, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt, dao động quanh mức 4% dù Ngân hàng Nhà nước liên tiếp duy trì hút ròng thanh khoản trong nửa đầu tháng với tổng giá trị lên tới hơn 94 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động 4,5 - 7,4%, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn neo ở mức cao, khoảng 7,4%.

Chia sẻ gần đây, TS. Phạm Xuân Hòe - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thậm chí, tại một số ngân hàng quy mô nhỏ, lãi suất kỳ hạn 6 tháng khi gửi trực tuyến được điều chỉnh lên tới 8,3%/năm, phản ánh rõ áp lực huy động vốn.

Xoay xở bù đắp thanh khoản, chi phí vốn tăng cao hơn

"Để bù đắp thanh khoản, các ngân hàng sử dụng tổng hợp nhiều kênh. Ngắn hạn là vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và tiếp cận các nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Trung hạn là đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao hơn, hoặc tăng huy động kỳ hạn dài từ khách hàng tổ chức và dân cư. Một số ngân hàng còn cơ cấu lại danh mục tài sản, giảm tốc độ giải ngân mới hoặc bán bớt tài sản có tính thanh khoản cao để cân đối dòng tiền. Những biện pháp này giúp hệ thống “chống đỡ” trong ngắn hạn, nhưng chi phí vốn tăng là khó tránh".

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân.

Lý giải đà tăng dồn dập của lãi suất huy động, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh hơn tốc độ huy động vốn, kéo tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản trở thành hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên mặt bằng lãi suất.

Theo ông Huân, lãi suất liên ngân hàng phản ứng nhanh nhất, khiến nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng lên để bù đắp chênh lệch kỳ hạn và thiếu hụt vốn khả dụng, đẩy lãi suất qua đêm và kỳ hạn ngắn biến động mạnh hơn, có những thời điểm bật lên rõ rệt so với giai đoạn thanh khoản dư thừa.

"Đây là tín hiệu sớm cho thấy hệ thống bước vào trạng thái “căng tương đối”, dù chưa rơi vào thiếu hụt mang tính hệ thống nhờ vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước" - ông Huân đánh giá.

Theo vị chuyên gia này, trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành thời gian tới không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ nguồn vốn cho hệ thống, mà quan trọng hơn là kiểm soát nhịp độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và sức hấp thụ thực của nền kinh tế. Đồng thời, từng bước củng cố nền vốn trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc.

Lệch pha kỳ hạn tới 5 triệu tỷ đồng gây áp lực thanh khoản

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trong khi tỷ trọng huy động trung dài hạn chỉ khoảng 20% tùy từng ngân hàng. Ở chiều ngược lại, tỷ trọng cho vay trung dài hạn khoảng 45 - 48%. Trước đây, tỷ lệ này từng tăng rất cao, đạt khoảng 53% vào năm 2012, sau đó giảm dần.

"Khi mất cân đối về kỳ hạn, "căn bệnh" thanh khoản sẽ luôn thường trực với hệ thống ngân hàng" - ông Hòe nêu rõ.

Xét về quy mô tuyệt đối, độ lệch pha kỳ hạn của hệ thống ước khoảng 5 triệu tỷ đồng. Theo tính toán của TS. Phạm Xuân Hòe, nguồn vốn kỳ hạn trên 1 năm chiếm khoảng 20% (hơn 3,2 triệu tỷ đồng), trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 47%, tương đương khoảng 8,3 triệu tỷ đồng. Sự chênh lệch lớn này cho thấy rủi ro về kỳ hạn và rủi ro lãi suất của hệ thống ngân hàng luôn chịu sức ép rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc lãi suất có xu hướng nhích lên là điều tất yếu, xuất phát từ yêu cầu cân đối lại cấu trúc kỳ hạn nguồn vốn và hạn chế rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Vị chuyên gia này đánh giá, cuộc đua lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp diễn vào đầu năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80