Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nối tiếp đà tăng nóng cuối năm, lãi suất huy động đầu năm 2026 tiếp tục “nhấn ga” khi đồng loạt tăng ở nhiều kỳ hạn, với mức điều chỉnh trên 1 điểm phần trăm chỉ chưa đầy 1 tháng. Khi tăng trưởng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài, áp lực thanh khoản chưa nguôi, cùng ước lệch pha kỳ hạn hệ thống tới 5 triệu tỷ đồng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao.
aa

Lãi suất tiết kiệm "nhấn ga" đầu năm

Nối tiếp sức nóng từ cuối năm trước, thị trường tiền gửi đầu năm tiếp tục sôi động khi trên các diễn đàn, nhân viên của hàng loạt ngân hàng như: Vikki Bank, ABBank, NCB, VPBank, OCB… liên tục chào mời lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng gần 8%/năm, thậm chí vượt 8,5%/năm. Để "săn" tiền gửi, các nhà băng còn triển khai chương trình tặng lịch, quà tết, cơ hội trúng vàng SJC. Ở chiều ngược lại, người gửi tiền cũng tất bật hỏi han tìm nơi "chọn mặt gửi vàng" cho những khoản tiết kiệm từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng.

Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm
Nguồn: Blooberg. MBS Research

Khảo sát hơn 50 ngân hàng niêm yết lãi suất tiền gửi các kỳ hạn ngày 20/1 cho thấy, xu hướng tăng lãi suất huy động ngay từ đầu năm vẫn khá rõ nét. Với kỳ hạn 6 tháng, nhóm kỳ hạn được người gửi tiền ưa thích, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được duy trì, khi ghi nhận 9 ngân hàng tăng những tuần đầu năm 2026, tiếp đà tăng của gần 40/50 ngân hàng trong quý IV/2025.

Tiếp tục "nhấn ga" lãi suất đầu năm, ABBank gây chú ý khi tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu năm 2026, cao nhất nhóm khảo sát, đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,3%/năm. MBV nâng lãi suất 6 tháng lên 6,5%/năm, tăng 1 điểm phần trăm so với đầu năm, cho thấy chiến lược đẩy mạnh huy động vốn.

Sacombank ghi nhận lãi suất 6 tháng 5,4%/năm, tăng 0,5 điểm phần trăm so với đầu năm 2026; so với tháng 10/2025, mức tăng lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Đáng chú ý, Agribank trong nhóm “big 4”, tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng thêm 0,2 điểm phần trăm so với đầu năm, lên 4%/năm, nối tiếp đà tăng 0,3 điểm phần trăm vào cuối tháng 12/2025. Như vậy, sau gần một năm gần như “bất động”, lãi suất huy động của Agribank tăng tổng cộng 0,5 điểm phần trăm, thu hút sự quan tâm lớn của thị trường.

Ở kỳ hạn dài 12 tháng, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được khẳng định. Đơn cử, MBV niêm yết lãi suất ở mức 7,2%/năm, một trong số ít ngân hàng niêm yết trên ngưỡng 7%. Nếu cộng thêm các chương trình ưu đãi, lãi suất thực tế được chào mời có thể lên tới 8,5%/năm. Chưa đầy 1 tháng, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của MBV đã tăng mạnh 1,3 điểm phần trăm.

Trong khi đó, ABBank niêm yết lãi suất kỳ hạn 12 tháng ở 6,3%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm so với đầu năm 2026.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng từ 5,7% vào cuối tháng 12/2025 tiếp tục nhích lên 5,8% vào giữa tháng 1/2026. Trong số 18 ngân hàng được theo dõi, có tới 14 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 12.

Xu hướng tăng này tiếp tục được duy trì trong nửa đầu tháng 1/2026, khi có thêm 5 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,1 - 0,6 điểm phần trăm. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng top đầu đến giữa tháng 1/2026 tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025, lên mức 5,69%.

"Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng cao hơn trong năm 2026" - nhóm phân tích MBS nhận định.

Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, nhưng áp lực huy động chưa nguôi

Theo đánh giá của MBS, đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19% so với cuối năm 2024, gây áp lực đáng kể lên thanh khoản.

Trong bối cảnh đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tháng 12/2025 liên tục neo quanh ngưỡng 7 - 7,5%. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước đã kích hoạt công cụ can thiệp mới là FX Swap, đồng thời duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO).

Theo MBS, nhờ các biện pháp can thiệp, sang giữa tháng 1/2026, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt, dao động quanh mức 4% dù Ngân hàng Nhà nước liên tiếp duy trì hút ròng thanh khoản trong nửa đầu tháng với tổng giá trị lên tới hơn 94 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động 4,5 - 7,4%, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn neo ở mức cao, khoảng 7,4%.

Chia sẻ gần đây, TS. Phạm Xuân Hòe - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thậm chí, tại một số ngân hàng quy mô nhỏ, lãi suất kỳ hạn 6 tháng khi gửi trực tuyến được điều chỉnh lên tới 8,3%/năm, phản ánh rõ áp lực huy động vốn.

Xoay xở bù đắp thanh khoản, chi phí vốn tăng cao hơn

"Để bù đắp thanh khoản, các ngân hàng sử dụng tổng hợp nhiều kênh. Ngắn hạn là vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và tiếp cận các nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Trung hạn là đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao hơn, hoặc tăng huy động kỳ hạn dài từ khách hàng tổ chức và dân cư. Một số ngân hàng còn cơ cấu lại danh mục tài sản, giảm tốc độ giải ngân mới hoặc bán bớt tài sản có tính thanh khoản cao để cân đối dòng tiền. Những biện pháp này giúp hệ thống “chống đỡ” trong ngắn hạn, nhưng chi phí vốn tăng là khó tránh".

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân.

Lý giải đà tăng dồn dập của lãi suất huy động, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh hơn tốc độ huy động vốn, kéo tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản trở thành hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên mặt bằng lãi suất.

Theo ông Huân, lãi suất liên ngân hàng phản ứng nhanh nhất, khiến nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng lên để bù đắp chênh lệch kỳ hạn và thiếu hụt vốn khả dụng, đẩy lãi suất qua đêm và kỳ hạn ngắn biến động mạnh hơn, có những thời điểm bật lên rõ rệt so với giai đoạn thanh khoản dư thừa.

"Đây là tín hiệu sớm cho thấy hệ thống bước vào trạng thái “căng tương đối”, dù chưa rơi vào thiếu hụt mang tính hệ thống nhờ vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước" - ông Huân đánh giá.

Theo vị chuyên gia này, trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành thời gian tới không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ nguồn vốn cho hệ thống, mà quan trọng hơn là kiểm soát nhịp độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và sức hấp thụ thực của nền kinh tế. Đồng thời, từng bước củng cố nền vốn trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc.

Lệch pha kỳ hạn tới 5 triệu tỷ đồng gây áp lực thanh khoản

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trong khi tỷ trọng huy động trung dài hạn chỉ khoảng 20% tùy từng ngân hàng. Ở chiều ngược lại, tỷ trọng cho vay trung dài hạn khoảng 45 - 48%. Trước đây, tỷ lệ này từng tăng rất cao, đạt khoảng 53% vào năm 2012, sau đó giảm dần.

"Khi mất cân đối về kỳ hạn, "căn bệnh" thanh khoản sẽ luôn thường trực với hệ thống ngân hàng" - ông Hòe nêu rõ.

Xét về quy mô tuyệt đối, độ lệch pha kỳ hạn của hệ thống ước khoảng 5 triệu tỷ đồng. Theo tính toán của TS. Phạm Xuân Hòe, nguồn vốn kỳ hạn trên 1 năm chiếm khoảng 20% (hơn 3,2 triệu tỷ đồng), trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 47%, tương đương khoảng 8,3 triệu tỷ đồng. Sự chênh lệch lớn này cho thấy rủi ro về kỳ hạn và rủi ro lãi suất của hệ thống ngân hàng luôn chịu sức ép rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc lãi suất có xu hướng nhích lên là điều tất yếu, xuất phát từ yêu cầu cân đối lại cấu trúc kỳ hạn nguồn vốn và hạn chế rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Vị chuyên gia này đánh giá, cuộc đua lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp diễn vào đầu năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
“VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” - chương trình nhiều điểm chạm trải nghiệm

“VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” - chương trình nhiều điểm chạm trải nghiệm

(TBTCO) - Một buổi mua sắm cuối tuần tại trung tâm thương mại vốn không phải thời điểm người ta nghĩ đến chuyện tìm hiểu sản phẩm ngân hàng. Tuy vậy, đây lại là lúc những nhu cầu tài chính quen thuộc nhất đang diễn ra: thanh toán một món đồ, lên kế hoạch cho khoản chi sắp tới, tìm cách sử dụng hiệu quả tiền trong tài khoản hay đơn giản là cân nhắc một phương thức thanh toán thuận tiện hơn.
Viettel chi gần 1.200 tỷ đồng mua cổ phiếu MBB, vốn điều lệ MB sắp vượt mốc 100.000 tỷ đồng

Viettel chi gần 1.200 tỷ đồng mua cổ phiếu MBB, vốn điều lệ MB sắp vượt mốc 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Viettel đăng ký chi hơn 1.184 tỷ đồng mua thêm hơn 118,4 triệu cổ phiếu MBB, với giá 10.000 đồng/cổ phiếu trong đợt chào bán cho cổ đông hiện hữu tỷ lệ 10:1, qua đó, dự kiến nâng sở hữu lên hơn 1,3 tỷ cổ phiếu. Nếu đợt chào bán hoàn tất, MB có thể huy động tổng cộng 8.055 tỷ đồng, đồng thời nâng vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18211 18487 19066
CAD 18382 18658 19275
CHF 31979 32361 33018
CNY 0 3840 3950
EUR 29905 30128 31209
GBP 34871 35265 36203
HKD 0 3210 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15899
SGD 20070 20352 20923
THB 716 779 833
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25980 25980 26350
AUD 18394 18494 19417
CAD 18556 18656 19670
CHF 32228 32258 33836
CNY 3831.5 3856.5 3991.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30073 30103 31826
GBP 35169 35219 36980
HKD 0 3330 0
JPY 160.87 161.37 171.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15415 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20212 20342 21073
THB 0 745.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 16:30
Ngân hàng