Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nối tiếp đà tăng nóng cuối năm, lãi suất huy động đầu năm 2026 tiếp tục “nhấn ga” khi đồng loạt tăng ở nhiều kỳ hạn, với mức điều chỉnh trên 1 điểm phần trăm chỉ chưa đầy 1 tháng. Khi tăng trưởng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài, áp lực thanh khoản chưa nguôi, cùng ước lệch pha kỳ hạn hệ thống tới 5 triệu tỷ đồng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao.
aa

Lãi suất tiết kiệm "nhấn ga" đầu năm

Nối tiếp sức nóng từ cuối năm trước, thị trường tiền gửi đầu năm tiếp tục sôi động khi trên các diễn đàn, nhân viên của hàng loạt ngân hàng như: Vikki Bank, ABBank, NCB, VPBank, OCB… liên tục chào mời lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng gần 8%/năm, thậm chí vượt 8,5%/năm. Để "săn" tiền gửi, các nhà băng còn triển khai chương trình tặng lịch, quà tết, cơ hội trúng vàng SJC. Ở chiều ngược lại, người gửi tiền cũng tất bật hỏi han tìm nơi "chọn mặt gửi vàng" cho những khoản tiết kiệm từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng.

Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm
Nguồn: Blooberg. MBS Research

Khảo sát hơn 50 ngân hàng niêm yết lãi suất tiền gửi các kỳ hạn ngày 20/1 cho thấy, xu hướng tăng lãi suất huy động ngay từ đầu năm vẫn khá rõ nét. Với kỳ hạn 6 tháng, nhóm kỳ hạn được người gửi tiền ưa thích, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được duy trì, khi ghi nhận 9 ngân hàng tăng những tuần đầu năm 2026, tiếp đà tăng của gần 40/50 ngân hàng trong quý IV/2025.

Tiếp tục "nhấn ga" lãi suất đầu năm, ABBank gây chú ý khi tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu năm 2026, cao nhất nhóm khảo sát, đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,3%/năm. MBV nâng lãi suất 6 tháng lên 6,5%/năm, tăng 1 điểm phần trăm so với đầu năm, cho thấy chiến lược đẩy mạnh huy động vốn.

Sacombank ghi nhận lãi suất 6 tháng 5,4%/năm, tăng 0,5 điểm phần trăm so với đầu năm 2026; so với tháng 10/2025, mức tăng lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Đáng chú ý, Agribank trong nhóm “big 4”, tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng thêm 0,2 điểm phần trăm so với đầu năm, lên 4%/năm, nối tiếp đà tăng 0,3 điểm phần trăm vào cuối tháng 12/2025. Như vậy, sau gần một năm gần như “bất động”, lãi suất huy động của Agribank tăng tổng cộng 0,5 điểm phần trăm, thu hút sự quan tâm lớn của thị trường.

Ở kỳ hạn dài 12 tháng, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được khẳng định. Đơn cử, MBV niêm yết lãi suất ở mức 7,2%/năm, một trong số ít ngân hàng niêm yết trên ngưỡng 7%. Nếu cộng thêm các chương trình ưu đãi, lãi suất thực tế được chào mời có thể lên tới 8,5%/năm. Chưa đầy 1 tháng, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của MBV đã tăng mạnh 1,3 điểm phần trăm.

Trong khi đó, ABBank niêm yết lãi suất kỳ hạn 12 tháng ở 6,3%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm so với đầu năm 2026.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng từ 5,7% vào cuối tháng 12/2025 tiếp tục nhích lên 5,8% vào giữa tháng 1/2026. Trong số 18 ngân hàng được theo dõi, có tới 14 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 12.

Xu hướng tăng này tiếp tục được duy trì trong nửa đầu tháng 1/2026, khi có thêm 5 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,1 - 0,6 điểm phần trăm. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng top đầu đến giữa tháng 1/2026 tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025, lên mức 5,69%.

"Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng cao hơn trong năm 2026" - nhóm phân tích MBS nhận định.

Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, nhưng áp lực huy động chưa nguôi

Theo đánh giá của MBS, đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19% so với cuối năm 2024, gây áp lực đáng kể lên thanh khoản.

Trong bối cảnh đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tháng 12/2025 liên tục neo quanh ngưỡng 7 - 7,5%. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước đã kích hoạt công cụ can thiệp mới là FX Swap, đồng thời duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO).

Theo MBS, nhờ các biện pháp can thiệp, sang giữa tháng 1/2026, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt, dao động quanh mức 4% dù Ngân hàng Nhà nước liên tiếp duy trì hút ròng thanh khoản trong nửa đầu tháng với tổng giá trị lên tới hơn 94 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động 4,5 - 7,4%, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn neo ở mức cao, khoảng 7,4%.

Chia sẻ gần đây, TS. Phạm Xuân Hòe - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thậm chí, tại một số ngân hàng quy mô nhỏ, lãi suất kỳ hạn 6 tháng khi gửi trực tuyến được điều chỉnh lên tới 8,3%/năm, phản ánh rõ áp lực huy động vốn.

Xoay xở bù đắp thanh khoản, chi phí vốn tăng cao hơn

"Để bù đắp thanh khoản, các ngân hàng sử dụng tổng hợp nhiều kênh. Ngắn hạn là vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và tiếp cận các nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Trung hạn là đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao hơn, hoặc tăng huy động kỳ hạn dài từ khách hàng tổ chức và dân cư. Một số ngân hàng còn cơ cấu lại danh mục tài sản, giảm tốc độ giải ngân mới hoặc bán bớt tài sản có tính thanh khoản cao để cân đối dòng tiền. Những biện pháp này giúp hệ thống “chống đỡ” trong ngắn hạn, nhưng chi phí vốn tăng là khó tránh".

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân.

Lý giải đà tăng dồn dập của lãi suất huy động, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh hơn tốc độ huy động vốn, kéo tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản trở thành hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên mặt bằng lãi suất.

Theo ông Huân, lãi suất liên ngân hàng phản ứng nhanh nhất, khiến nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng lên để bù đắp chênh lệch kỳ hạn và thiếu hụt vốn khả dụng, đẩy lãi suất qua đêm và kỳ hạn ngắn biến động mạnh hơn, có những thời điểm bật lên rõ rệt so với giai đoạn thanh khoản dư thừa.

"Đây là tín hiệu sớm cho thấy hệ thống bước vào trạng thái “căng tương đối”, dù chưa rơi vào thiếu hụt mang tính hệ thống nhờ vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước" - ông Huân đánh giá.

Theo vị chuyên gia này, trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành thời gian tới không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ nguồn vốn cho hệ thống, mà quan trọng hơn là kiểm soát nhịp độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và sức hấp thụ thực của nền kinh tế. Đồng thời, từng bước củng cố nền vốn trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc.

Lệch pha kỳ hạn tới 5 triệu tỷ đồng gây áp lực thanh khoản

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trong khi tỷ trọng huy động trung dài hạn chỉ khoảng 20% tùy từng ngân hàng. Ở chiều ngược lại, tỷ trọng cho vay trung dài hạn khoảng 45 - 48%. Trước đây, tỷ lệ này từng tăng rất cao, đạt khoảng 53% vào năm 2012, sau đó giảm dần.

"Khi mất cân đối về kỳ hạn, "căn bệnh" thanh khoản sẽ luôn thường trực với hệ thống ngân hàng" - ông Hòe nêu rõ.

Xét về quy mô tuyệt đối, độ lệch pha kỳ hạn của hệ thống ước khoảng 5 triệu tỷ đồng. Theo tính toán của TS. Phạm Xuân Hòe, nguồn vốn kỳ hạn trên 1 năm chiếm khoảng 20% (hơn 3,2 triệu tỷ đồng), trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 47%, tương đương khoảng 8,3 triệu tỷ đồng. Sự chênh lệch lớn này cho thấy rủi ro về kỳ hạn và rủi ro lãi suất của hệ thống ngân hàng luôn chịu sức ép rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc lãi suất có xu hướng nhích lên là điều tất yếu, xuất phát từ yêu cầu cân đối lại cấu trúc kỳ hạn nguồn vốn và hạn chế rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Vị chuyên gia này đánh giá, cuộc đua lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp diễn vào đầu năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80