Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nối tiếp đà tăng nóng cuối năm, lãi suất huy động đầu năm 2026 tiếp tục “nhấn ga” khi đồng loạt tăng ở nhiều kỳ hạn, với mức điều chỉnh trên 1 điểm phần trăm chỉ chưa đầy 1 tháng. Khi tăng trưởng huy động hụt hơi so với tín dụng kéo dài, áp lực thanh khoản chưa nguôi, cùng ước lệch pha kỳ hạn hệ thống tới 5 triệu tỷ đồng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao.
aa

Lãi suất tiết kiệm "nhấn ga" đầu năm

Nối tiếp sức nóng từ cuối năm trước, thị trường tiền gửi đầu năm tiếp tục sôi động khi trên các diễn đàn, nhân viên của hàng loạt ngân hàng như: Vikki Bank, ABBank, NCB, VPBank, OCB… liên tục chào mời lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng gần 8%/năm, thậm chí vượt 8,5%/năm. Để "săn" tiền gửi, các nhà băng còn triển khai chương trình tặng lịch, quà tết, cơ hội trúng vàng SJC. Ở chiều ngược lại, người gửi tiền cũng tất bật hỏi han tìm nơi "chọn mặt gửi vàng" cho những khoản tiết kiệm từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng.

Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm
Nguồn: Blooberg. MBS Research

Khảo sát hơn 50 ngân hàng niêm yết lãi suất tiền gửi các kỳ hạn ngày 20/1 cho thấy, xu hướng tăng lãi suất huy động ngay từ đầu năm vẫn khá rõ nét. Với kỳ hạn 6 tháng, nhóm kỳ hạn được người gửi tiền ưa thích, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được duy trì, khi ghi nhận 9 ngân hàng tăng những tuần đầu năm 2026, tiếp đà tăng của gần 40/50 ngân hàng trong quý IV/2025.

Tiếp tục "nhấn ga" lãi suất đầu năm, ABBank gây chú ý khi tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu năm 2026, cao nhất nhóm khảo sát, đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 6,3%/năm. MBV nâng lãi suất 6 tháng lên 6,5%/năm, tăng 1 điểm phần trăm so với đầu năm, cho thấy chiến lược đẩy mạnh huy động vốn.

Sacombank ghi nhận lãi suất 6 tháng 5,4%/năm, tăng 0,5 điểm phần trăm so với đầu năm 2026; so với tháng 10/2025, mức tăng lên tới 1,2 điểm phần trăm.

Đáng chú ý, Agribank trong nhóm “big 4”, tiếp tục tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng thêm 0,2 điểm phần trăm so với đầu năm, lên 4%/năm, nối tiếp đà tăng 0,3 điểm phần trăm vào cuối tháng 12/2025. Như vậy, sau gần một năm gần như “bất động”, lãi suất huy động của Agribank tăng tổng cộng 0,5 điểm phần trăm, thu hút sự quan tâm lớn của thị trường.

Ở kỳ hạn dài 12 tháng, xu hướng tăng lãi suất huy động tiếp tục được khẳng định. Đơn cử, MBV niêm yết lãi suất ở mức 7,2%/năm, một trong số ít ngân hàng niêm yết trên ngưỡng 7%. Nếu cộng thêm các chương trình ưu đãi, lãi suất thực tế được chào mời có thể lên tới 8,5%/năm. Chưa đầy 1 tháng, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của MBV đã tăng mạnh 1,3 điểm phần trăm.

Trong khi đó, ABBank niêm yết lãi suất kỳ hạn 12 tháng ở 6,3%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm so với đầu năm 2026.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá, trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng từ 5,7% vào cuối tháng 12/2025 tiếp tục nhích lên 5,8% vào giữa tháng 1/2026. Trong số 18 ngân hàng được theo dõi, có tới 14 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn trong tháng 12.

Xu hướng tăng này tiếp tục được duy trì trong nửa đầu tháng 1/2026, khi có thêm 5 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,1 - 0,6 điểm phần trăm. Theo đó, trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng top đầu đến giữa tháng 1/2026 tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025, lên mức 5,69%.

"Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng cao hơn trong năm 2026" - nhóm phân tích MBS nhận định.

Lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, nhưng áp lực huy động chưa nguôi

Theo đánh giá của MBS, đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19% so với cuối năm 2024, gây áp lực đáng kể lên thanh khoản.

Trong bối cảnh đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tháng 12/2025 liên tục neo quanh ngưỡng 7 - 7,5%. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước đã kích hoạt công cụ can thiệp mới là FX Swap, đồng thời duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO).

Theo MBS, nhờ các biện pháp can thiệp, sang giữa tháng 1/2026, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt, dao động quanh mức 4% dù Ngân hàng Nhà nước liên tiếp duy trì hút ròng thanh khoản trong nửa đầu tháng với tổng giá trị lên tới hơn 94 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động 4,5 - 7,4%, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn neo ở mức cao, khoảng 7,4%.

Chia sẻ gần đây, TS. Phạm Xuân Hòe - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thậm chí, tại một số ngân hàng quy mô nhỏ, lãi suất kỳ hạn 6 tháng khi gửi trực tuyến được điều chỉnh lên tới 8,3%/năm, phản ánh rõ áp lực huy động vốn.

Xoay xở bù đắp thanh khoản, chi phí vốn tăng cao hơn

"Để bù đắp thanh khoản, các ngân hàng sử dụng tổng hợp nhiều kênh. Ngắn hạn là vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và tiếp cận các nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Trung hạn là đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao hơn, hoặc tăng huy động kỳ hạn dài từ khách hàng tổ chức và dân cư. Một số ngân hàng còn cơ cấu lại danh mục tài sản, giảm tốc độ giải ngân mới hoặc bán bớt tài sản có tính thanh khoản cao để cân đối dòng tiền. Những biện pháp này giúp hệ thống “chống đỡ” trong ngắn hạn, nhưng chi phí vốn tăng là khó tránh".

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân.

Lý giải đà tăng dồn dập của lãi suất huy động, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, khi tăng trưởng tín dụng diễn ra nhanh hơn tốc độ huy động vốn, kéo tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản trở thành hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên mặt bằng lãi suất.

Theo ông Huân, lãi suất liên ngân hàng phản ứng nhanh nhất, khiến nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng lên để bù đắp chênh lệch kỳ hạn và thiếu hụt vốn khả dụng, đẩy lãi suất qua đêm và kỳ hạn ngắn biến động mạnh hơn, có những thời điểm bật lên rõ rệt so với giai đoạn thanh khoản dư thừa.

"Đây là tín hiệu sớm cho thấy hệ thống bước vào trạng thái “căng tương đối”, dù chưa rơi vào thiếu hụt mang tính hệ thống nhờ vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước" - ông Huân đánh giá.

Theo vị chuyên gia này, trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành thời gian tới không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ nguồn vốn cho hệ thống, mà quan trọng hơn là kiểm soát nhịp độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và sức hấp thụ thực của nền kinh tế. Đồng thời, từng bước củng cố nền vốn trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng nhằm hạn chế nguy cơ tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc.

Lệch pha kỳ hạn tới 5 triệu tỷ đồng gây áp lực thanh khoản

Theo TS. Phạm Xuân Hòe, hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, trong khi tỷ trọng huy động trung dài hạn chỉ khoảng 20% tùy từng ngân hàng. Ở chiều ngược lại, tỷ trọng cho vay trung dài hạn khoảng 45 - 48%. Trước đây, tỷ lệ này từng tăng rất cao, đạt khoảng 53% vào năm 2012, sau đó giảm dần.

"Khi mất cân đối về kỳ hạn, "căn bệnh" thanh khoản sẽ luôn thường trực với hệ thống ngân hàng" - ông Hòe nêu rõ.

Xét về quy mô tuyệt đối, độ lệch pha kỳ hạn của hệ thống ước khoảng 5 triệu tỷ đồng. Theo tính toán của TS. Phạm Xuân Hòe, nguồn vốn kỳ hạn trên 1 năm chiếm khoảng 20% (hơn 3,2 triệu tỷ đồng), trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 47%, tương đương khoảng 8,3 triệu tỷ đồng. Sự chênh lệch lớn này cho thấy rủi ro về kỳ hạn và rủi ro lãi suất của hệ thống ngân hàng luôn chịu sức ép rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc lãi suất có xu hướng nhích lên là điều tất yếu, xuất phát từ yêu cầu cân đối lại cấu trúc kỳ hạn nguồn vốn và hạn chế rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Vị chuyên gia này đánh giá, cuộc đua lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp diễn vào đầu năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17786 18365
CAD 17653 17927 18547
CHF 30483 30859 31501
CNY 0 3823 3919
EUR 28399 28615 29698
GBP 33443 33831 34763
HKD 0 3166 3369
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14200 14784
SGD 19671 19953 20522
THB 687 750 803
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25660 26040
AUD 17703 17803 18725
CAD 17837 17937 18953
CHF 30707 30737 32322
CNY 3800.7 3825.7 3960.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28579 28609 30331
GBP 33715 33765 35536
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14321 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19823 19953 20675
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30