Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay khách hàng năm 2025 tăng 19,5%, tương ứng "bơm" ra nền kinh tế thêm 2,3 triệu tỷ đồng; trong đó, có ngân hàng ghi nhận mức tăng gần 40%. Bước sang năm 2026, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng vượt mục tiêu nhà điều hành giao từ đầu năm, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng tiếp tục rõ nét.
aa
Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Bơm thêm 2,3 triệu tỷ đồng, nhiều nhà băng bứt tốc

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 19,5% năm 2025, tương ứng tăng thêm khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, nâng tổng dư nợ lên hơn 14,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, có 6/27 ngân hàng tăng trưởng vượt mức bình quân, nhiều ngân hàng tăng thấp hơn rõ rệt, có ngân hàng chỉ tăng 0,6%, phản ánh sự khác biệt lớn về chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro và năng lực cạnh tranh.

Trong đó, nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng vượt trội. Dẫn đầu là MB khi dư nợ cho vay tăng tới 39,6%. NCBVPBank cũng ghi nhận mức tăng rất cao, lần lượt 37% và 36,2%, phản ánh xu hướng đẩy mạnh tín dụng. Bên cạnh đó, HDBank đạt mức tăng 23,5%, TPBank tăng 22,2% và Techcombank tăng 21,5%; ACB 18,3%...

Ở chiều ngược lại, 03 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay rất chậm gồm: Eximbank, VietABank và Saigonbank. Trong đó, Saigonbank gần như đi ngang với mức tăng vỏn vẹn 0,6%, dư nợ khách hàng thấp nhất hệ thống, chỉ gần 22 nghìn tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Thông tin từ MB cho thấy, năm 2025 là dấu mốc quan trọng khi dư nợ tín dụng lần đầu vượt 1 triệu tỷ đồng. Kết quả này đến từ đà tăng trưởng tín dụng khoảng 37%, qua đó kéo tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh 43% trong năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục duy trì định hướng bán lẻ, chiếm khoảng 45% tổng dư nợ; đồng thời, vẫn đa dạng hóa phân khúc khách hàng.

Chia sẻ gần đây tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư mới tổ chức, ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB khẳng định, MB có những bước đi rất mạnh nhưng cũng rất chắc chắn.

Theo Kinh tế trưởng MB, sau hơn 32 năm, ngân hàng mới đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng dư nợ, nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng khoảng 35%/năm trong 3 năm tới, theo công thức lãi kép, quy mô dư nợ có thể đạt 2,4 triệu tỷ đồng.

"Điều này giúp chúng tôi vững vàng trong top 5. Điều muốn nhấn mạnh là tăng trưởng mạnh cả trong ngắn hạn, vững vàng trong dài hạn và MB có khả năng bứt phá để bám sát các ngân hàng top đầu đang khá cao hơn và bỏ xa những ngân hàng ở phía sau" - ông Đức nhấn mạnh.

Techcombank cũng ghi dấu ấn rõ nét với tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng gần 18,4% so với đầu năm 2025, lên 824 nghìn tỷ đồng. Chiến lược tập trung vào tài sản lợi suất cao đưa tín dụng cá nhân của Techcombank đạt 372 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8%. Cho vay tín chấp tăng bùng nổ gấp 3,5 lần; đồng thời, duy trì vị thế vững chắc ở các phân khúc lõi khác như: cho vay mua nhà (tăng 24,7%) và cho vay ký quỹ (tăng 69,3%)...

Với ACB, dư nợ tín dụng ngân hàng đạt 689 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6%. Trong đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực chủ đạo, tăng 25,5%, tập trung vào các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế như: thương mại, chế biến chế tạo. ACB cũng đẩy mạnh mở rộng nhóm doanh nghiệp có hệ sinh thái lớn và nắm bắt tốt "làn sóng" FDI...

VPBank và MB cùng kỳ vọng room tín dụng vượt trội

Gợi mở về định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB cho biết, với xu hướng gia tăng tín dụng bán lẻ và tiêu dùng cá nhân, mảng bán lẻ tiếp tục được xác định là mảng kinh doanh cốt lõi, với tỷ trọng dự kiến tăng thêm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm.

"Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng quy mô hoạt động, với hai chỉ số quan trọng là tín dụng và huy động vốn xoay quanh khoảng 35%. MB đạt được chỉ số này so với thị trường, với lý do tham gia cơ cấu ngân hàng 0 đồng và được phép tăng trưởng quy mô cao. Lợi nhuận dự kiến sẽ tăng khoảng 15% và phấn đấu 20%; tỷ lệ nợ xấu (NPL) của tập đoàn 1,5%, còn ngân hàng sẽ kiểm soát ở mức 1%".

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB.

Bên cạnh đó, MB cũng ưu tiên là cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án và lĩnh vực sản xuất mà ngân hàng có hiểu biết sâu sắc, gắn với lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, xuất khẩu cũng là một mảng được MB đặc biệt quan tâm.

VPBank cũng là ngân hàng đặc biệt khi kỳ vọng có room tăng trưởng tín dụng khá thuận lợi, nhờ tham gia tái cơ cấu GPBank, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Đây được nhìn nhận là cơ hội kinh doanh đáng kể, giúp VPBank chủ động cơ cấu lại danh mục tín dụng; kiểm soát và giảm tỷ trọng cho vay bất động sản, như năm 2025 đã hạ xuống 23,6%.

"Đồng thời, triển khai sâu rộng hơn các chiến lược kinh doanh đa dạng của ngân hàng để tăng trưởng hơn vào các lĩnh vực sinh lời tốt hơn, đặc biệt phân khúc như: bán lẻ hay doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank bày tỏ.

Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng
Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%. Ảnh tư liệu.

Cũng theo thống kê của phóng viên về số liệu tuyệt đối cho vay khách hàng, BIDV tiếp tục giữ vị thế ngân hàng có dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất hệ thống. Đến cuối năm 2025, dư nợ cho vay BIDV đạt khoảng 2,37 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2024. Quy mô vượt trội này phản ánh vai trò chủ lực của BIDV trong tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng, doanh nghiệp lớn, lĩnh vực kinh tế trọng điểm...

Thông tin từ BIDV cho thấy, năm 2026, dư nợ tín dụng điều hành của ngân hàng theo giới hạn tín dụng Ngân hàng Nhà nước giao, dự kiến tăng trưởng 15 - 16%; đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước…

Xếp thứ hai là VietinBank với dư nợ cho vay khách hàng gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% so với năm trước. Vietcombank đứng thứ ba, với 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 15,5%.

Như vậy, ba ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong nhóm ngân hàng niêm yết, với tổng dư nợ cho vay vượt 6 triệu tỷ đồng, chiếm gần 43% quy mô nhóm khảo sát./.

Dự báo ngân hàng tư nhân dẫn dắt, room tín dụng dần nới

Trong báo cáo ngành ngân hàng 2026 với tiêu đề "Vững nhịp tăng trưởng", Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể đạt khoảng 16 - 18%, cao hơn mức mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng sẽ phân hóa theo nhóm ngân hàng.

Trong đó, VCBS dự báo nhóm ngân hàng tư nhân năng động dẫn dắt tăng trưởng trên 20%; các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ tiếp tục được hưởng cơ chế ưu tiên tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành. Trong kịch bản Ngân hàng Nhà nước bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước bãi bỏ cơ chế room tín dụng bắt đầu từ năm sau, các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) cao như: VPBank, Techcombank, HDBank có thể ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng cao hơn so với mặt bằng chung.

Còn theo nhận định của chuyên gia Vinacapital, triển vọng tăng trưởng tín dụng khoảng 18% trong năm 2026. "Các ngân hàng thương mại nhà nước hiện chiếm khoảng một nửa tổng dư nợ tín dụng và nhiều khả năng sẽ hạn chế việc tăng mạnh lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP" - Vinacapital nhận định.

Chuyên gia Vinacapital cũng kỳ vọng mức trần tín dụng năm 2026 (15%) có thể được nới lỏng trong nửa sau của năm để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP mà Chính phủ đề ra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

(TBTCO) - Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng và tỷ giá chịu áp lực, kéo theo tác động tới mặt bằng giá trong nước. Nguy cơ "nhập khẩu lạm phát" gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ.
VPBank ra mắt giải pháp NEO Accept kết hợp thẻ ghi nợ CommCredit - Bộ công cụ đắc lực cho hộ kinh doanh

VPBank ra mắt giải pháp NEO Accept kết hợp thẻ ghi nợ CommCredit - Bộ công cụ đắc lực cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 23/3/2026, VPBank giới thiệu giải pháp nhận thanh toán trực tiếp trên điện thoại dành cho hộ kinh doanh NEO Accept. Sự ra mắt của NEO Accept đánh dấu bước hoàn thiện giải pháp dành cho hộ kinh doanh của VPBank, khi được triển khai đồng bộ cùng thẻ ghi nợ kinh doanh VPBank CommCredit Visa đã ra mắt trước đó, tạo nên mô hình thu chi khép kín và minh bạch.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Khi thị trường không chờ doanh nghiệp kịp thích ứng

Khi thị trường không chờ doanh nghiệp kịp thích ứng

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường nhiều biến động, điều quan trọng không còn nằm ở việc dự báo chính xác từng thay đổi, mà ở mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp trước những kịch bản bất định.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 ▲640K 17,020 ▲640K
Kim TT/AVPL 16,730 ▲640K 17,030 ▲640K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 ▲690K 17,020 ▲650K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▲770K 16,000 ▲780K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▲770K 15,950 ▲780K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 ▲470K 16,800 ▲480K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 ▲470K 16,750 ▲480K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 ▲470K 16,730 ▲480K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 ▲4000K 170,000 ▲4000K
Hà Nội - PNJ 167,000 ▲4000K 170,000 ▲4000K
Đà Nẵng - PNJ 167,000 ▲4000K 170,000 ▲4000K
Miền Tây - PNJ 167,000 ▲4000K 170,000 ▲4000K
Tây Nguyên - PNJ 167,000 ▲4000K 170,000 ▲4000K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 ▲4000K 170,000 ▲4000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 ▲520K 17,020 ▲520K
Miếng SJC Nghệ An 16,720 ▲520K 17,020 ▲520K
Miếng SJC Thái Bình 16,720 ▲520K 17,020 ▲520K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 ▲620K 17,020 ▲620K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 ▲620K 17,020 ▲620K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 ▲620K 17,020 ▲620K
NL 99.90 15,470 ▲400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▲400K
Trang sức 99.9 16,210 ▲620K 16,910 ▲620K
Trang sức 99.99 16,220 ▲620K 16,920 ▲620K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 ▲1509K 17,022 ▲420K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 ▲1509K 17,023 ▲420K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 ▼1461K 170 ▼1488K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 ▼1461K 1,701 ▲42K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 ▼1443K 1,685 ▲42K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 ▲4159K 166,832 ▲4159K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 ▲3151K 126,538 ▲3151K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 ▲2856K 114,741 ▲2856K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 ▲2562K 102,945 ▲2562K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 ▲2449K 98,395 ▲2449K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 ▲55545K 70,422 ▲63555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 ▲1509K 1,702 ▲1536K
Cập nhật: 24/03/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/03/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80