Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay khách hàng năm 2025 tăng 19,5%, tương ứng "bơm" ra nền kinh tế thêm 2,3 triệu tỷ đồng; trong đó, có ngân hàng ghi nhận mức tăng gần 40%. Bước sang năm 2026, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng vượt mục tiêu nhà điều hành giao từ đầu năm, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng tiếp tục rõ nét.
aa
Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Bơm thêm 2,3 triệu tỷ đồng, nhiều nhà băng bứt tốc

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 19,5% năm 2025, tương ứng tăng thêm khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, nâng tổng dư nợ lên hơn 14,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, có 6/27 ngân hàng tăng trưởng vượt mức bình quân, nhiều ngân hàng tăng thấp hơn rõ rệt, có ngân hàng chỉ tăng 0,6%, phản ánh sự khác biệt lớn về chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro và năng lực cạnh tranh.

Trong đó, nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng vượt trội. Dẫn đầu là MB khi dư nợ cho vay tăng tới 39,6%. NCBVPBank cũng ghi nhận mức tăng rất cao, lần lượt 37% và 36,2%, phản ánh xu hướng đẩy mạnh tín dụng. Bên cạnh đó, HDBank đạt mức tăng 23,5%, TPBank tăng 22,2% và Techcombank tăng 21,5%; ACB 18,3%...

Ở chiều ngược lại, 03 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay rất chậm gồm: Eximbank, VietABank và Saigonbank. Trong đó, Saigonbank gần như đi ngang với mức tăng vỏn vẹn 0,6%, dư nợ khách hàng thấp nhất hệ thống, chỉ gần 22 nghìn tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Thông tin từ MB cho thấy, năm 2025 là dấu mốc quan trọng khi dư nợ tín dụng lần đầu vượt 1 triệu tỷ đồng. Kết quả này đến từ đà tăng trưởng tín dụng khoảng 37%, qua đó kéo tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh 43% trong năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục duy trì định hướng bán lẻ, chiếm khoảng 45% tổng dư nợ; đồng thời, vẫn đa dạng hóa phân khúc khách hàng.

Chia sẻ gần đây tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư mới tổ chức, ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB khẳng định, MB có những bước đi rất mạnh nhưng cũng rất chắc chắn.

Theo Kinh tế trưởng MB, sau hơn 32 năm, ngân hàng mới đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng dư nợ, nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng khoảng 35%/năm trong 3 năm tới, theo công thức lãi kép, quy mô dư nợ có thể đạt 2,4 triệu tỷ đồng.

"Điều này giúp chúng tôi vững vàng trong top 5. Điều muốn nhấn mạnh là tăng trưởng mạnh cả trong ngắn hạn, vững vàng trong dài hạn và MB có khả năng bứt phá để bám sát các ngân hàng top đầu đang khá cao hơn và bỏ xa những ngân hàng ở phía sau" - ông Đức nhấn mạnh.

Techcombank cũng ghi dấu ấn rõ nét với tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng gần 18,4% so với đầu năm 2025, lên 824 nghìn tỷ đồng. Chiến lược tập trung vào tài sản lợi suất cao đưa tín dụng cá nhân của Techcombank đạt 372 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8%. Cho vay tín chấp tăng bùng nổ gấp 3,5 lần; đồng thời, duy trì vị thế vững chắc ở các phân khúc lõi khác như: cho vay mua nhà (tăng 24,7%) và cho vay ký quỹ (tăng 69,3%)...

Với ACB, dư nợ tín dụng ngân hàng đạt 689 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6%. Trong đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực chủ đạo, tăng 25,5%, tập trung vào các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế như: thương mại, chế biến chế tạo. ACB cũng đẩy mạnh mở rộng nhóm doanh nghiệp có hệ sinh thái lớn và nắm bắt tốt "làn sóng" FDI...

VPBank và MB cùng kỳ vọng room tín dụng vượt trội

Gợi mở về định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB cho biết, với xu hướng gia tăng tín dụng bán lẻ và tiêu dùng cá nhân, mảng bán lẻ tiếp tục được xác định là mảng kinh doanh cốt lõi, với tỷ trọng dự kiến tăng thêm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm.

"Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng quy mô hoạt động, với hai chỉ số quan trọng là tín dụng và huy động vốn xoay quanh khoảng 35%. MB đạt được chỉ số này so với thị trường, với lý do tham gia cơ cấu ngân hàng 0 đồng và được phép tăng trưởng quy mô cao. Lợi nhuận dự kiến sẽ tăng khoảng 15% và phấn đấu 20%; tỷ lệ nợ xấu (NPL) của tập đoàn 1,5%, còn ngân hàng sẽ kiểm soát ở mức 1%".

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB.

Bên cạnh đó, MB cũng ưu tiên là cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án và lĩnh vực sản xuất mà ngân hàng có hiểu biết sâu sắc, gắn với lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, xuất khẩu cũng là một mảng được MB đặc biệt quan tâm.

VPBank cũng là ngân hàng đặc biệt khi kỳ vọng có room tăng trưởng tín dụng khá thuận lợi, nhờ tham gia tái cơ cấu GPBank, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Đây được nhìn nhận là cơ hội kinh doanh đáng kể, giúp VPBank chủ động cơ cấu lại danh mục tín dụng; kiểm soát và giảm tỷ trọng cho vay bất động sản, như năm 2025 đã hạ xuống 23,6%.

"Đồng thời, triển khai sâu rộng hơn các chiến lược kinh doanh đa dạng của ngân hàng để tăng trưởng hơn vào các lĩnh vực sinh lời tốt hơn, đặc biệt phân khúc như: bán lẻ hay doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank bày tỏ.

Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng
Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%. Ảnh tư liệu.

Cũng theo thống kê của phóng viên về số liệu tuyệt đối cho vay khách hàng, BIDV tiếp tục giữ vị thế ngân hàng có dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất hệ thống. Đến cuối năm 2025, dư nợ cho vay BIDV đạt khoảng 2,37 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2024. Quy mô vượt trội này phản ánh vai trò chủ lực của BIDV trong tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng, doanh nghiệp lớn, lĩnh vực kinh tế trọng điểm...

Thông tin từ BIDV cho thấy, năm 2026, dư nợ tín dụng điều hành của ngân hàng theo giới hạn tín dụng Ngân hàng Nhà nước giao, dự kiến tăng trưởng 15 - 16%; đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước…

Xếp thứ hai là VietinBank với dư nợ cho vay khách hàng gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% so với năm trước. Vietcombank đứng thứ ba, với 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 15,5%.

Như vậy, ba ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong nhóm ngân hàng niêm yết, với tổng dư nợ cho vay vượt 6 triệu tỷ đồng, chiếm gần 43% quy mô nhóm khảo sát./.

Dự báo ngân hàng tư nhân dẫn dắt, room tín dụng dần nới

Trong báo cáo ngành ngân hàng 2026 với tiêu đề "Vững nhịp tăng trưởng", Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể đạt khoảng 16 - 18%, cao hơn mức mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng sẽ phân hóa theo nhóm ngân hàng.

Trong đó, VCBS dự báo nhóm ngân hàng tư nhân năng động dẫn dắt tăng trưởng trên 20%; các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ tiếp tục được hưởng cơ chế ưu tiên tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành. Trong kịch bản Ngân hàng Nhà nước bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước bãi bỏ cơ chế room tín dụng bắt đầu từ năm sau, các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) cao như: VPBank, Techcombank, HDBank có thể ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng cao hơn so với mặt bằng chung.

Còn theo nhận định của chuyên gia Vinacapital, triển vọng tăng trưởng tín dụng khoảng 18% trong năm 2026. "Các ngân hàng thương mại nhà nước hiện chiếm khoảng một nửa tổng dư nợ tín dụng và nhiều khả năng sẽ hạn chế việc tăng mạnh lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP" - Vinacapital nhận định.

Chuyên gia Vinacapital cũng kỳ vọng mức trần tín dụng năm 2026 (15%) có thể được nới lỏng trong nửa sau của năm để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP mà Chính phủ đề ra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80