Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay khách hàng năm 2025 tăng 19,5%, tương ứng "bơm" ra nền kinh tế thêm 2,3 triệu tỷ đồng; trong đó, có ngân hàng ghi nhận mức tăng gần 40%. Bước sang năm 2026, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng vượt mục tiêu nhà điều hành giao từ đầu năm, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng tiếp tục rõ nét.
aa
Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Bơm thêm 2,3 triệu tỷ đồng, nhiều nhà băng bứt tốc

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 19,5% năm 2025, tương ứng tăng thêm khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, nâng tổng dư nợ lên hơn 14,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, có 6/27 ngân hàng tăng trưởng vượt mức bình quân, nhiều ngân hàng tăng thấp hơn rõ rệt, có ngân hàng chỉ tăng 0,6%, phản ánh sự khác biệt lớn về chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro và năng lực cạnh tranh.

Trong đó, nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng vượt trội. Dẫn đầu là MB khi dư nợ cho vay tăng tới 39,6%. NCBVPBank cũng ghi nhận mức tăng rất cao, lần lượt 37% và 36,2%, phản ánh xu hướng đẩy mạnh tín dụng. Bên cạnh đó, HDBank đạt mức tăng 23,5%, TPBank tăng 22,2% và Techcombank tăng 21,5%; ACB 18,3%...

Ở chiều ngược lại, 03 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay rất chậm gồm: Eximbank, VietABank và Saigonbank. Trong đó, Saigonbank gần như đi ngang với mức tăng vỏn vẹn 0,6%, dư nợ khách hàng thấp nhất hệ thống, chỉ gần 22 nghìn tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Thông tin từ MB cho thấy, năm 2025 là dấu mốc quan trọng khi dư nợ tín dụng lần đầu vượt 1 triệu tỷ đồng. Kết quả này đến từ đà tăng trưởng tín dụng khoảng 37%, qua đó kéo tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh 43% trong năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục duy trì định hướng bán lẻ, chiếm khoảng 45% tổng dư nợ; đồng thời, vẫn đa dạng hóa phân khúc khách hàng.

Chia sẻ gần đây tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư mới tổ chức, ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB khẳng định, MB có những bước đi rất mạnh nhưng cũng rất chắc chắn.

Theo Kinh tế trưởng MB, sau hơn 32 năm, ngân hàng mới đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng dư nợ, nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng khoảng 35%/năm trong 3 năm tới, theo công thức lãi kép, quy mô dư nợ có thể đạt 2,4 triệu tỷ đồng.

"Điều này giúp chúng tôi vững vàng trong top 5. Điều muốn nhấn mạnh là tăng trưởng mạnh cả trong ngắn hạn, vững vàng trong dài hạn và MB có khả năng bứt phá để bám sát các ngân hàng top đầu đang khá cao hơn và bỏ xa những ngân hàng ở phía sau" - ông Đức nhấn mạnh.

Techcombank cũng ghi dấu ấn rõ nét với tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng gần 18,4% so với đầu năm 2025, lên 824 nghìn tỷ đồng. Chiến lược tập trung vào tài sản lợi suất cao đưa tín dụng cá nhân của Techcombank đạt 372 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8%. Cho vay tín chấp tăng bùng nổ gấp 3,5 lần; đồng thời, duy trì vị thế vững chắc ở các phân khúc lõi khác như: cho vay mua nhà (tăng 24,7%) và cho vay ký quỹ (tăng 69,3%)...

Với ACB, dư nợ tín dụng ngân hàng đạt 689 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6%. Trong đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực chủ đạo, tăng 25,5%, tập trung vào các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế như: thương mại, chế biến chế tạo. ACB cũng đẩy mạnh mở rộng nhóm doanh nghiệp có hệ sinh thái lớn và nắm bắt tốt "làn sóng" FDI...

VPBank và MB cùng kỳ vọng room tín dụng vượt trội

Gợi mở về định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB cho biết, với xu hướng gia tăng tín dụng bán lẻ và tiêu dùng cá nhân, mảng bán lẻ tiếp tục được xác định là mảng kinh doanh cốt lõi, với tỷ trọng dự kiến tăng thêm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm.

"Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng quy mô hoạt động, với hai chỉ số quan trọng là tín dụng và huy động vốn xoay quanh khoảng 35%. MB đạt được chỉ số này so với thị trường, với lý do tham gia cơ cấu ngân hàng 0 đồng và được phép tăng trưởng quy mô cao. Lợi nhuận dự kiến sẽ tăng khoảng 15% và phấn đấu 20%; tỷ lệ nợ xấu (NPL) của tập đoàn 1,5%, còn ngân hàng sẽ kiểm soát ở mức 1%".

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB.

Bên cạnh đó, MB cũng ưu tiên là cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án và lĩnh vực sản xuất mà ngân hàng có hiểu biết sâu sắc, gắn với lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, xuất khẩu cũng là một mảng được MB đặc biệt quan tâm.

VPBank cũng là ngân hàng đặc biệt khi kỳ vọng có room tăng trưởng tín dụng khá thuận lợi, nhờ tham gia tái cơ cấu GPBank, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Đây được nhìn nhận là cơ hội kinh doanh đáng kể, giúp VPBank chủ động cơ cấu lại danh mục tín dụng; kiểm soát và giảm tỷ trọng cho vay bất động sản, như năm 2025 đã hạ xuống 23,6%.

"Đồng thời, triển khai sâu rộng hơn các chiến lược kinh doanh đa dạng của ngân hàng để tăng trưởng hơn vào các lĩnh vực sinh lời tốt hơn, đặc biệt phân khúc như: bán lẻ hay doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank bày tỏ.

Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng
Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%. Ảnh tư liệu.

Cũng theo thống kê của phóng viên về số liệu tuyệt đối cho vay khách hàng, BIDV tiếp tục giữ vị thế ngân hàng có dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất hệ thống. Đến cuối năm 2025, dư nợ cho vay BIDV đạt khoảng 2,37 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2024. Quy mô vượt trội này phản ánh vai trò chủ lực của BIDV trong tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng, doanh nghiệp lớn, lĩnh vực kinh tế trọng điểm...

Thông tin từ BIDV cho thấy, năm 2026, dư nợ tín dụng điều hành của ngân hàng theo giới hạn tín dụng Ngân hàng Nhà nước giao, dự kiến tăng trưởng 15 - 16%; đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước…

Xếp thứ hai là VietinBank với dư nợ cho vay khách hàng gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% so với năm trước. Vietcombank đứng thứ ba, với 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 15,5%.

Như vậy, ba ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong nhóm ngân hàng niêm yết, với tổng dư nợ cho vay vượt 6 triệu tỷ đồng, chiếm gần 43% quy mô nhóm khảo sát./.

Dự báo ngân hàng tư nhân dẫn dắt, room tín dụng dần nới

Trong báo cáo ngành ngân hàng 2026 với tiêu đề "Vững nhịp tăng trưởng", Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể đạt khoảng 16 - 18%, cao hơn mức mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng sẽ phân hóa theo nhóm ngân hàng.

Trong đó, VCBS dự báo nhóm ngân hàng tư nhân năng động dẫn dắt tăng trưởng trên 20%; các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ tiếp tục được hưởng cơ chế ưu tiên tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành. Trong kịch bản Ngân hàng Nhà nước bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước bãi bỏ cơ chế room tín dụng bắt đầu từ năm sau, các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) cao như: VPBank, Techcombank, HDBank có thể ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng cao hơn so với mặt bằng chung.

Còn theo nhận định của chuyên gia Vinacapital, triển vọng tăng trưởng tín dụng khoảng 18% trong năm 2026. "Các ngân hàng thương mại nhà nước hiện chiếm khoảng một nửa tổng dư nợ tín dụng và nhiều khả năng sẽ hạn chế việc tăng mạnh lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP" - Vinacapital nhận định.

Chuyên gia Vinacapital cũng kỳ vọng mức trần tín dụng năm 2026 (15%) có thể được nới lỏng trong nửa sau của năm để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP mà Chính phủ đề ra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80