Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%

(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay khách hàng năm 2025 tăng 19,5%, tương ứng "bơm" ra nền kinh tế thêm 2,3 triệu tỷ đồng; trong đó, có ngân hàng ghi nhận mức tăng gần 40%. Bước sang năm 2026, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng vượt mục tiêu nhà điều hành giao từ đầu năm, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng tiếp tục rõ nét.
aa
Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Bơm thêm 2,3 triệu tỷ đồng, nhiều nhà băng bứt tốc

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 19,5% năm 2025, tương ứng tăng thêm khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, nâng tổng dư nợ lên hơn 14,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, có 6/27 ngân hàng tăng trưởng vượt mức bình quân, nhiều ngân hàng tăng thấp hơn rõ rệt, có ngân hàng chỉ tăng 0,6%, phản ánh sự khác biệt lớn về chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro và năng lực cạnh tranh.

Trong đó, nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng vượt trội. Dẫn đầu là MB khi dư nợ cho vay tăng tới 39,6%. NCB và VPBank cũng ghi nhận mức tăng rất cao, lần lượt 37% và 36,2%, phản ánh xu hướng đẩy mạnh tín dụng. Bên cạnh đó, HDBank đạt mức tăng 23,5%, TPBank tăng 22,2% và Techcombank tăng 21,5%; ACB 18,3%...

Ở chiều ngược lại, 03 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay rất chậm gồm: Eximbank, VietABank và Saigonbank. Trong đó, Saigonbank gần như đi ngang với mức tăng vỏn vẹn 0,6%, dư nợ khách hàng thấp nhất hệ thống, chỉ gần 22 nghìn tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Thông tin từ MB cho thấy, năm 2025 là dấu mốc quan trọng khi dư nợ tín dụng lần đầu vượt 1 triệu tỷ đồng. Kết quả này đến từ đà tăng trưởng tín dụng khoảng 37%, qua đó kéo tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh 43% trong năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục duy trì định hướng bán lẻ, chiếm khoảng 45% tổng dư nợ; đồng thời, vẫn đa dạng hóa phân khúc khách hàng.

Chia sẻ gần đây tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư mới tổ chức, ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB khẳng định, MB có những bước đi rất mạnh nhưng cũng rất chắc chắn.

Theo Kinh tế trưởng MB, sau hơn 32 năm, ngân hàng mới đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng dư nợ, nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng khoảng 35%/năm trong 3 năm tới, theo công thức lãi kép, quy mô dư nợ có thể đạt 2,4 triệu tỷ đồng.

"Điều này giúp chúng tôi vững vàng trong top 5. Điều muốn nhấn mạnh là tăng trưởng mạnh cả trong ngắn hạn, vững vàng trong dài hạn và MB có khả năng bứt phá để bám sát các ngân hàng top đầu đang khá cao hơn và bỏ xa những ngân hàng ở phía sau" - ông Đức nhấn mạnh.

Techcombank cũng ghi dấu ấn rõ nét với tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng gần 18,4% so với đầu năm 2025, lên 824 nghìn tỷ đồng. Chiến lược tập trung vào tài sản lợi suất cao đưa tín dụng cá nhân của Techcombank đạt 372 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8%. Cho vay tín chấp tăng bùng nổ gấp 3,5 lần; đồng thời, duy trì vị thế vững chắc ở các phân khúc lõi khác như: cho vay mua nhà (tăng 24,7%) và cho vay ký quỹ (tăng 69,3%)...

Với ACB, dư nợ tín dụng ngân hàng đạt 689 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6%. Trong đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực chủ đạo, tăng 25,5%, tập trung vào các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế như: thương mại, chế biến chế tạo. ACB cũng đẩy mạnh mở rộng nhóm doanh nghiệp có hệ sinh thái lớn và nắm bắt tốt "làn sóng" FDI...

VPBank và MB cùng kỳ vọng room tín dụng vượt trội

Gợi mở về định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB cho biết, với xu hướng gia tăng tín dụng bán lẻ và tiêu dùng cá nhân, mảng bán lẻ tiếp tục được xác định là mảng kinh doanh cốt lõi, với tỷ trọng dự kiến tăng thêm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm.

"Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng quy mô hoạt động, với hai chỉ số quan trọng là tín dụng và huy động vốn xoay quanh khoảng 35%. MB đạt được chỉ số này so với thị trường, với lý do tham gia cơ cấu ngân hàng 0 đồng và được phép tăng trưởng quy mô cao. Lợi nhuận dự kiến sẽ tăng khoảng 15% và phấn đấu 20%; tỷ lệ nợ xấu (NPL) của tập đoàn 1,5%, còn ngân hàng sẽ kiểm soát ở mức 1%".

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB.

Bên cạnh đó, MB cũng ưu tiên là cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án và lĩnh vực sản xuất mà ngân hàng có hiểu biết sâu sắc, gắn với lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, xuất khẩu cũng là một mảng được MB đặc biệt quan tâm.

VPBank cũng là ngân hàng đặc biệt khi kỳ vọng có room tăng trưởng tín dụng khá thuận lợi, nhờ tham gia tái cơ cấu GPBank, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Đây được nhìn nhận là cơ hội kinh doanh đáng kể, giúp VPBank chủ động cơ cấu lại danh mục tín dụng; kiểm soát và giảm tỷ trọng cho vay bất động sản, như năm 2025 đã hạ xuống 23,6%.

"Đồng thời, triển khai sâu rộng hơn các chiến lược kinh doanh đa dạng của ngân hàng để tăng trưởng hơn vào các lĩnh vực sinh lời tốt hơn, đặc biệt phân khúc như: bán lẻ hay doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank bày tỏ.

Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng
Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%. Ảnh tư liệu.

Cũng theo thống kê của phóng viên về số liệu tuyệt đối cho vay khách hàng, BIDV tiếp tục giữ vị thế ngân hàng có dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất hệ thống. Đến cuối năm 2025, dư nợ cho vay BIDV đạt khoảng 2,37 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2024. Quy mô vượt trội này phản ánh vai trò chủ lực của BIDV trong tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng, doanh nghiệp lớn, lĩnh vực kinh tế trọng điểm...

Thông tin từ BIDV cho thấy, năm 2026, dư nợ tín dụng điều hành của ngân hàng theo giới hạn tín dụng Ngân hàng Nhà nước giao, dự kiến tăng trưởng 15 - 16%; đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước…

Xếp thứ hai là VietinBank với dư nợ cho vay khách hàng gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% so với năm trước. Vietcombank đứng thứ ba, với 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 15,5%.

Như vậy, ba ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong nhóm ngân hàng niêm yết, với tổng dư nợ cho vay vượt 6 triệu tỷ đồng, chiếm gần 43% quy mô nhóm khảo sát./.

Dự báo ngân hàng tư nhân dẫn dắt, room tín dụng dần nới

Trong báo cáo ngành ngân hàng 2026 với tiêu đề "Vững nhịp tăng trưởng", Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể đạt khoảng 16 - 18%, cao hơn mức mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng sẽ phân hóa theo nhóm ngân hàng.

Trong đó, VCBS dự báo nhóm ngân hàng tư nhân năng động dẫn dắt tăng trưởng trên 20%; các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ tiếp tục được hưởng cơ chế ưu tiên tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành. Trong kịch bản Ngân hàng Nhà nước bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước bãi bỏ cơ chế room tín dụng bắt đầu từ năm sau, các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) cao như: VPBank, Techcombank, HDBank có thể ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng cao hơn so với mặt bằng chung.

Còn theo nhận định của chuyên gia Vinacapital, triển vọng tăng trưởng tín dụng khoảng 18% trong năm 2026. "Các ngân hàng thương mại nhà nước hiện chiếm khoảng một nửa tổng dư nợ tín dụng và nhiều khả năng sẽ hạn chế việc tăng mạnh lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP" - Vinacapital nhận định.

Chuyên gia Vinacapital cũng kỳ vọng mức trần tín dụng năm 2026 (15%) có thể được nới lỏng trong nửa sau của năm để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP mà Chính phủ đề ra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25810 26170
AUD 17758 17858 18789
CAD 17855 17955 18969
CHF 30847 30877 32466
CNY 3816.1 3841.1 3976.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28755 28785 30508
GBP 33895 33945 35716
HKD 0 3315 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14356 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19941 20071 20802
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14550000
SBJ 12500000 12500000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,190
USD20 25,667 25,817 26,190
USD1 25,647 25,817 26,190
AUD 17,823 17,923 19,031
EUR 28,572 28,672 30,331
CAD 17,810 17,910 19,216
SGD 20,026 20,176 21,332
JPY 161.25 162.75 168.28
GBP 33,817 33,967 35,280
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30