Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay khách hàng năm 2025 tăng 19,5%, tương ứng "bơm" ra nền kinh tế thêm 2,3 triệu tỷ đồng; trong đó, có ngân hàng ghi nhận mức tăng gần 40%. Bước sang năm 2026, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng vượt mục tiêu nhà điều hành giao từ đầu năm, song xu hướng phân hóa nhiều khả năng tiếp tục rõ nét.
aa
Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Bơm thêm 2,3 triệu tỷ đồng, nhiều nhà băng bứt tốc

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 19,5% năm 2025, tương ứng tăng thêm khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, nâng tổng dư nợ lên hơn 14,1 triệu tỷ đồng. Trong đó, có 6/27 ngân hàng tăng trưởng vượt mức bình quân, nhiều ngân hàng tăng thấp hơn rõ rệt, có ngân hàng chỉ tăng 0,6%, phản ánh sự khác biệt lớn về chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro và năng lực cạnh tranh.

Trong đó, nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng vượt trội. Dẫn đầu là MB khi dư nợ cho vay tăng tới 39,6%. NCBVPBank cũng ghi nhận mức tăng rất cao, lần lượt 37% và 36,2%, phản ánh xu hướng đẩy mạnh tín dụng. Bên cạnh đó, HDBank đạt mức tăng 23,5%, TPBank tăng 22,2% và Techcombank tăng 21,5%; ACB 18,3%...

Ở chiều ngược lại, 03 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay rất chậm gồm: Eximbank, VietABank và Saigonbank. Trong đó, Saigonbank gần như đi ngang với mức tăng vỏn vẹn 0,6%, dư nợ khách hàng thấp nhất hệ thống, chỉ gần 22 nghìn tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Thông tin từ MB cho thấy, năm 2025 là dấu mốc quan trọng khi dư nợ tín dụng lần đầu vượt 1 triệu tỷ đồng. Kết quả này đến từ đà tăng trưởng tín dụng khoảng 37%, qua đó kéo tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh 43% trong năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục duy trì định hướng bán lẻ, chiếm khoảng 45% tổng dư nợ; đồng thời, vẫn đa dạng hóa phân khúc khách hàng.

Chia sẻ gần đây tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư mới tổ chức, ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB khẳng định, MB có những bước đi rất mạnh nhưng cũng rất chắc chắn.

Theo Kinh tế trưởng MB, sau hơn 32 năm, ngân hàng mới đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng dư nợ, nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng khoảng 35%/năm trong 3 năm tới, theo công thức lãi kép, quy mô dư nợ có thể đạt 2,4 triệu tỷ đồng.

"Điều này giúp chúng tôi vững vàng trong top 5. Điều muốn nhấn mạnh là tăng trưởng mạnh cả trong ngắn hạn, vững vàng trong dài hạn và MB có khả năng bứt phá để bám sát các ngân hàng top đầu đang khá cao hơn và bỏ xa những ngân hàng ở phía sau" - ông Đức nhấn mạnh.

Techcombank cũng ghi dấu ấn rõ nét với tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng gần 18,4% so với đầu năm 2025, lên 824 nghìn tỷ đồng. Chiến lược tập trung vào tài sản lợi suất cao đưa tín dụng cá nhân của Techcombank đạt 372 nghìn tỷ đồng, tăng 30,8%. Cho vay tín chấp tăng bùng nổ gấp 3,5 lần; đồng thời, duy trì vị thế vững chắc ở các phân khúc lõi khác như: cho vay mua nhà (tăng 24,7%) và cho vay ký quỹ (tăng 69,3%)...

Với ACB, dư nợ tín dụng ngân hàng đạt 689 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6%. Trong đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực chủ đạo, tăng 25,5%, tập trung vào các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế như: thương mại, chế biến chế tạo. ACB cũng đẩy mạnh mở rộng nhóm doanh nghiệp có hệ sinh thái lớn và nắm bắt tốt "làn sóng" FDI...

VPBank và MB cùng kỳ vọng room tín dụng vượt trội

Gợi mở về định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB cho biết, với xu hướng gia tăng tín dụng bán lẻ và tiêu dùng cá nhân, mảng bán lẻ tiếp tục được xác định là mảng kinh doanh cốt lõi, với tỷ trọng dự kiến tăng thêm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm.

"Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng quy mô hoạt động, với hai chỉ số quan trọng là tín dụng và huy động vốn xoay quanh khoảng 35%. MB đạt được chỉ số này so với thị trường, với lý do tham gia cơ cấu ngân hàng 0 đồng và được phép tăng trưởng quy mô cao. Lợi nhuận dự kiến sẽ tăng khoảng 15% và phấn đấu 20%; tỷ lệ nợ xấu (NPL) của tập đoàn 1,5%, còn ngân hàng sẽ kiểm soát ở mức 1%".

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng MB.

Bên cạnh đó, MB cũng ưu tiên là cho vay doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án và lĩnh vực sản xuất mà ngân hàng có hiểu biết sâu sắc, gắn với lợi thế cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, xuất khẩu cũng là một mảng được MB đặc biệt quan tâm.

VPBank cũng là ngân hàng đặc biệt khi kỳ vọng có room tăng trưởng tín dụng khá thuận lợi, nhờ tham gia tái cơ cấu GPBank, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Đây được nhìn nhận là cơ hội kinh doanh đáng kể, giúp VPBank chủ động cơ cấu lại danh mục tín dụng; kiểm soát và giảm tỷ trọng cho vay bất động sản, như năm 2025 đã hạ xuống 23,6%.

"Đồng thời, triển khai sâu rộng hơn các chiến lược kinh doanh đa dạng của ngân hàng để tăng trưởng hơn vào các lĩnh vực sinh lời tốt hơn, đặc biệt phân khúc như: bán lẻ hay doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank bày tỏ.

Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng
Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%. Ảnh tư liệu.

Cũng theo thống kê của phóng viên về số liệu tuyệt đối cho vay khách hàng, BIDV tiếp tục giữ vị thế ngân hàng có dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất hệ thống. Đến cuối năm 2025, dư nợ cho vay BIDV đạt khoảng 2,37 triệu tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2024. Quy mô vượt trội này phản ánh vai trò chủ lực của BIDV trong tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng, doanh nghiệp lớn, lĩnh vực kinh tế trọng điểm...

Thông tin từ BIDV cho thấy, năm 2026, dư nợ tín dụng điều hành của ngân hàng theo giới hạn tín dụng Ngân hàng Nhà nước giao, dự kiến tăng trưởng 15 - 16%; đảm bảo tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước…

Xếp thứ hai là VietinBank với dư nợ cho vay khách hàng gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% so với năm trước. Vietcombank đứng thứ ba, với 1,67 triệu tỷ đồng, tăng 15,5%.

Như vậy, ba ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong nhóm ngân hàng niêm yết, với tổng dư nợ cho vay vượt 6 triệu tỷ đồng, chiếm gần 43% quy mô nhóm khảo sát./.

Dự báo ngân hàng tư nhân dẫn dắt, room tín dụng dần nới

Trong báo cáo ngành ngân hàng 2026 với tiêu đề "Vững nhịp tăng trưởng", Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể đạt khoảng 16 - 18%, cao hơn mức mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng sẽ phân hóa theo nhóm ngân hàng.

Trong đó, VCBS dự báo nhóm ngân hàng tư nhân năng động dẫn dắt tăng trưởng trên 20%; các ngân hàng lớn nhận chuyển giao bắt buộc sẽ tiếp tục được hưởng cơ chế ưu tiên tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành. Trong kịch bản Ngân hàng Nhà nước bắt đầu quá trình chuyển đổi từng bước bãi bỏ cơ chế room tín dụng bắt đầu từ năm sau, các ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) cao như: VPBank, Techcombank, HDBank có thể ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng cao hơn so với mặt bằng chung.

Còn theo nhận định của chuyên gia Vinacapital, triển vọng tăng trưởng tín dụng khoảng 18% trong năm 2026. "Các ngân hàng thương mại nhà nước hiện chiếm khoảng một nửa tổng dư nợ tín dụng và nhiều khả năng sẽ hạn chế việc tăng mạnh lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP" - Vinacapital nhận định.

Chuyên gia Vinacapital cũng kỳ vọng mức trần tín dụng năm 2026 (15%) có thể được nới lỏng trong nửa sau của năm để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP mà Chính phủ đề ra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

(TBTCO) - Ngân hàng MB chốt ngày 10/7 là ngày đăng ký cuối cùng nhận cổ tức tiền mặt 10%, với tổng giá trị chi trả khoảng 8.055 tỷ đồng. Song song, ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn lớn, hướng tới vốn điều lệ hơn 102.687 tỷ đồng và bứt tốc nhiều chỉ tiêu năm nay.
Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

(TBTCO) - Diễn ra từ ngày 1/7 đến 30/9/2026 với hơn 5.000 ưu đãi, chương trình “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm” được Bảo hiểm Bảo Việt triển khai như một phần trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa chủ động bảo vệ tài chính - gia đình.
Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Việc mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng sẽ giảm gánh nặng chi phí, tạo thuận lợi hơn cho người bệnh trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17968 18243 18862
CHF 31824 32205 32861
CNY 0 3829 3922
EUR 29342 29563 30646
GBP 34042 34432 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15218
SGD 19748 20029 20601
THB 704 767 820
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26466
AUD 17762 17862 18787
CAD 18138 18238 19249
CHF 32039 32069 33655
CNY 3809.9 3834.9 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29497 29527 31250
GBP 34325 34375 36144
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14712 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20750
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80