Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng toàn hệ thống tính đến ngày 24/12/2025 đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tương ứng quy mô vốn tín dụng "bơm" thêm ra nền kinh tế khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. Bước sang năm 2026, các ngân hàng lớn tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong điều tiết dòng vốn tín dụng.
aa

Trụ cột điều tiết dòng vốn tín dụng

Chia sẻ bên lề họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, ông Lê Hoàng Tùng - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết, năm 2025, Vietcombank dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tương ứng quy mô dư nợ tăng thêm gần 215.000 tỷ đồng, với trọng tâm phân bổ vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Lãnh đạo Vietcombank cho biết, tổng dư nợ tín dụng các chương trình ưu đãi, hỗ trợ lãi suất của ngân hàng lên hơn 800.000 tỷ đồng, chiếm gần 50% tổng dư nợ. Tổng quy mô hỗ trợ lãi suất năm 2025 của Vietcombank ước đạt 7.000 tỷ đồng.

Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng
Cơ cấu tín dụng hiện cơ bản phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp. Ảnh: Đức Thanh

Ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cũng cho biết, ngân hàng triển khai nhiều chương trình tín dụng nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Đến nay, quy mô tín dụng của VietinBank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2024, tốc độ tăng trưởng duy trì ổn định qua các tháng.

Về quy mô nguồn vốn, VietinBank ghi nhận xấp xỉ 2 triệu tỷ đồng, tăng 13%. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn được điều tiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn thanh khoản.

Hoạt động kinh doanh của VietinBank được duy trì theo hướng an toàn, hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế riêng lẻ của ngân hàng trong năm 2025 dự kiến đạt và vượt kế hoạch do Đại hội đồng cổ đông và Ngân hàng Nhà nước giao.

Tăng trưởng thực chất, đi cùng kiểm soát chất lượng

"Vietcombank sẽ hướng dòng tín dụng tăng trưởng một cách thực chất, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và hỗ trợ các mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, Vietcombank đặt mục tiêu kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững cho ngân hàng nói riêng và cả hệ thống nói chung".

Ông Lê Hoàng Tùng - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank

Ngân hàng Chính sách xã hội cũng tích cực triển khai các chương trình ưu đãi lãi suất cho khách hàng vay vốn, đặc biệt là những khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Ông Vương Văn Minh - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội cho biết, tổng số tiền giảm lãi suất 2% lên tới 1.466 tỷ đồng, với khoảng 4 triệu khách hàng được hưởng chính sách.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội cũng trình điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 từ 10% lên 12%, tương ứng quy mô tăng thêm 5.100 tỷ đồng. Nguồn vốn này được kịp thời bổ sung cho các đối tượng vay vốn là người nghèo và đối tượng chính sách, nhằm hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp, khôi phục sản xuất, qua đó, giúp người vay sớm ổn định cuộc sống.

Giữ nhịp tín dụng năm 2026, bám sát mục tiêu ổn định vĩ mô

Các ngân hàng trụ cột tiếp tục dẫn dắt dòng tín dụng theo hướng ưu tiên các lĩnh vực then chốt, động lực tăng trưởng của nền kinh tế và hỗ trợ hiệu quả khách hàng vay vốn, hòa chung nhịp chảy vốn của toàn hệ thống. Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tương ứng quy mô vốn tín dụng "bơm" thêm ra nền kinh tế khoảng 2,8 triệu tỷ đồng.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, cơ cấu tín dụng hiện cơ bản phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp. Tính đến cuối tháng 10/2025, ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 6,15% tổng dư nợ nền kinh tế; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,39%; ngành xây dựng chiếm 7,47%; ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống, chiếm 22,24%.

Bên cạnh đó, một số lĩnh vực có tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khá, đặc biệt là các lĩnh vực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cùng với xu hướng này, các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản được nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng. Một số chương trình khác như cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách... được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Phó Tổng Giám đốc Vietcombank Lê Hoàng Tùng cho biết, năm 2026, Vietcombank dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 13% và có thể cao hơn nếu điều kiện cho phép. Ngân hàng sẽ tiếp tục ưu tiên phân bổ vốn cho những lĩnh vực ưu tiên, đóng vai trò động lực của nền kinh tế, bám sát định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo lãnh đạo Vietcombank, mặt bằng lãi suất trong năm 2026 được xác định trên cơ sở cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn của toàn hệ thống, cũng như của từng ngân hàng thương mại. Định hướng điều hành xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục là ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất.

Tương tự, VietinBank cho biết, trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Song song với đó, VietinBank sẽ nỗ lực đưa dòng vốn đến đúng đối tượng sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc, qua đó nâng cao mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Định hướng điều hành tín dụng năm 2026

Đề cập định hướng điều hành tín dụng năm 2026, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành phù hợp, cung ứng vốn cho nền kinh tế phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát; đồng thời đảm bảo chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu; hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, quản lý rủi ro đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tiếp tục chỉ đạo các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Cuộc họp gần đây của Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cũng phát đi một thông điệp chính sách rõ ràng, đó là không mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn. Nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng sẽ không bơm tiền mạnh để kích cầu bằng mọi giá, nền kinh tế sẽ không quay trở lại thời kỳ “tiền rẻ” đại trà, mà ưu tiên cao là giữ ổn định hệ thống.

Định hướng này được đặt ra trong bối cảnh khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn liên tục nới rộng. Tính đến ngày 24/12/2025, huy động vốn tăng khoảng 14,11% so với cuối năm 2024, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng (17,87%). Tỷ lệ dư nợ cho vay trên huy động thuần (LDR thuần) của toàn ngành ngân hàng tăng lên mức 111%, gây sức ép lên các chỉ tiêu về an toàn vốn hệ thống, đồng thời dẫn đến áp lực thanh khoản cao hơn, hệ quả là lãi suất đầu vào tăng và nhiều khả năng sẽ được duy trì xuyên suốt năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80