Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng toàn hệ thống tính đến ngày 24/12/2025 đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tương ứng quy mô vốn tín dụng "bơm" thêm ra nền kinh tế khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. Bước sang năm 2026, các ngân hàng lớn tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong điều tiết dòng vốn tín dụng.
aa

Trụ cột điều tiết dòng vốn tín dụng

Chia sẻ bên lề họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, ông Lê Hoàng Tùng - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết, năm 2025, Vietcombank dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tương ứng quy mô dư nợ tăng thêm gần 215.000 tỷ đồng, với trọng tâm phân bổ vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Lãnh đạo Vietcombank cho biết, tổng dư nợ tín dụng các chương trình ưu đãi, hỗ trợ lãi suất của ngân hàng lên hơn 800.000 tỷ đồng, chiếm gần 50% tổng dư nợ. Tổng quy mô hỗ trợ lãi suất năm 2025 của Vietcombank ước đạt 7.000 tỷ đồng.

Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng
Cơ cấu tín dụng hiện cơ bản phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp. Ảnh: Đức Thanh

Ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cũng cho biết, ngân hàng triển khai nhiều chương trình tín dụng nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Đến nay, quy mô tín dụng của VietinBank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2024, tốc độ tăng trưởng duy trì ổn định qua các tháng.

Về quy mô nguồn vốn, VietinBank ghi nhận xấp xỉ 2 triệu tỷ đồng, tăng 13%. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn được điều tiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn thanh khoản.

Hoạt động kinh doanh của VietinBank được duy trì theo hướng an toàn, hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế riêng lẻ của ngân hàng trong năm 2025 dự kiến đạt và vượt kế hoạch do Đại hội đồng cổ đông và Ngân hàng Nhà nước giao.

Tăng trưởng thực chất, đi cùng kiểm soát chất lượng

"Vietcombank sẽ hướng dòng tín dụng tăng trưởng một cách thực chất, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và hỗ trợ các mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, Vietcombank đặt mục tiêu kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững cho ngân hàng nói riêng và cả hệ thống nói chung".

Ông Lê Hoàng Tùng - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank

Ngân hàng Chính sách xã hội cũng tích cực triển khai các chương trình ưu đãi lãi suất cho khách hàng vay vốn, đặc biệt là những khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Ông Vương Văn Minh - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội cho biết, tổng số tiền giảm lãi suất 2% lên tới 1.466 tỷ đồng, với khoảng 4 triệu khách hàng được hưởng chính sách.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội cũng trình điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 từ 10% lên 12%, tương ứng quy mô tăng thêm 5.100 tỷ đồng. Nguồn vốn này được kịp thời bổ sung cho các đối tượng vay vốn là người nghèo và đối tượng chính sách, nhằm hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp, khôi phục sản xuất, qua đó, giúp người vay sớm ổn định cuộc sống.

Giữ nhịp tín dụng năm 2026, bám sát mục tiêu ổn định vĩ mô

Các ngân hàng trụ cột tiếp tục dẫn dắt dòng tín dụng theo hướng ưu tiên các lĩnh vực then chốt, động lực tăng trưởng của nền kinh tế và hỗ trợ hiệu quả khách hàng vay vốn, hòa chung nhịp chảy vốn của toàn hệ thống. Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tương ứng quy mô vốn tín dụng "bơm" thêm ra nền kinh tế khoảng 2,8 triệu tỷ đồng.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, cơ cấu tín dụng hiện cơ bản phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp. Tính đến cuối tháng 10/2025, ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 6,15% tổng dư nợ nền kinh tế; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,39%; ngành xây dựng chiếm 7,47%; ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống, chiếm 22,24%.

Bên cạnh đó, một số lĩnh vực có tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khá, đặc biệt là các lĩnh vực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cùng với xu hướng này, các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản được nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng. Một số chương trình khác như cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách... được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Phó Tổng Giám đốc Vietcombank Lê Hoàng Tùng cho biết, năm 2026, Vietcombank dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 13% và có thể cao hơn nếu điều kiện cho phép. Ngân hàng sẽ tiếp tục ưu tiên phân bổ vốn cho những lĩnh vực ưu tiên, đóng vai trò động lực của nền kinh tế, bám sát định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo lãnh đạo Vietcombank, mặt bằng lãi suất trong năm 2026 được xác định trên cơ sở cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn của toàn hệ thống, cũng như của từng ngân hàng thương mại. Định hướng điều hành xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục là ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất.

Tương tự, VietinBank cho biết, trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Song song với đó, VietinBank sẽ nỗ lực đưa dòng vốn đến đúng đối tượng sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc, qua đó nâng cao mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Định hướng điều hành tín dụng năm 2026

Đề cập định hướng điều hành tín dụng năm 2026, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành phù hợp, cung ứng vốn cho nền kinh tế phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát; đồng thời đảm bảo chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu; hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, quản lý rủi ro đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tiếp tục chỉ đạo các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Cuộc họp gần đây của Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cũng phát đi một thông điệp chính sách rõ ràng, đó là không mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn. Nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng sẽ không bơm tiền mạnh để kích cầu bằng mọi giá, nền kinh tế sẽ không quay trở lại thời kỳ “tiền rẻ” đại trà, mà ưu tiên cao là giữ ổn định hệ thống.

Định hướng này được đặt ra trong bối cảnh khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn liên tục nới rộng. Tính đến ngày 24/12/2025, huy động vốn tăng khoảng 14,11% so với cuối năm 2024, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng (17,87%). Tỷ lệ dư nợ cho vay trên huy động thuần (LDR thuần) của toàn ngành ngân hàng tăng lên mức 111%, gây sức ép lên các chỉ tiêu về an toàn vốn hệ thống, đồng thời dẫn đến áp lực thanh khoản cao hơn, hệ quả là lãi suất đầu vào tăng và nhiều khả năng sẽ được duy trì xuyên suốt năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,190
USD20 25,667 25,817 26,190
USD1 25,647 25,817 26,190
AUD 17,823 17,923 19,031
EUR 28,572 28,672 30,331
CAD 17,810 17,910 19,216
SGD 20,026 20,176 21,332
JPY 161.25 162.75 168.28
GBP 33,817 33,967 35,280
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30