Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng toàn hệ thống tính đến ngày 24/12/2025 đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tương ứng quy mô vốn tín dụng "bơm" thêm ra nền kinh tế khoảng 2,8 triệu tỷ đồng. Bước sang năm 2026, các ngân hàng lớn tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong điều tiết dòng vốn tín dụng.
aa

Trụ cột điều tiết dòng vốn tín dụng

Chia sẻ bên lề họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, ông Lê Hoàng Tùng - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết, năm 2025, Vietcombank dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tương ứng quy mô dư nợ tăng thêm gần 215.000 tỷ đồng, với trọng tâm phân bổ vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Lãnh đạo Vietcombank cho biết, tổng dư nợ tín dụng các chương trình ưu đãi, hỗ trợ lãi suất của ngân hàng lên hơn 800.000 tỷ đồng, chiếm gần 50% tổng dư nợ. Tổng quy mô hỗ trợ lãi suất năm 2025 của Vietcombank ước đạt 7.000 tỷ đồng.

Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng
Cơ cấu tín dụng hiện cơ bản phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp. Ảnh: Đức Thanh

Ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cũng cho biết, ngân hàng triển khai nhiều chương trình tín dụng nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Đến nay, quy mô tín dụng của VietinBank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2024, tốc độ tăng trưởng duy trì ổn định qua các tháng.

Về quy mô nguồn vốn, VietinBank ghi nhận xấp xỉ 2 triệu tỷ đồng, tăng 13%. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn được điều tiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn thanh khoản.

Hoạt động kinh doanh của VietinBank được duy trì theo hướng an toàn, hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế riêng lẻ của ngân hàng trong năm 2025 dự kiến đạt và vượt kế hoạch do Đại hội đồng cổ đông và Ngân hàng Nhà nước giao.

Tăng trưởng thực chất, đi cùng kiểm soát chất lượng

"Vietcombank sẽ hướng dòng tín dụng tăng trưởng một cách thực chất, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và hỗ trợ các mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, Vietcombank đặt mục tiêu kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững cho ngân hàng nói riêng và cả hệ thống nói chung".

Ông Lê Hoàng Tùng - Phó Tổng Giám đốc Vietcombank

Ngân hàng Chính sách xã hội cũng tích cực triển khai các chương trình ưu đãi lãi suất cho khách hàng vay vốn, đặc biệt là những khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Ông Vương Văn Minh - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội cho biết, tổng số tiền giảm lãi suất 2% lên tới 1.466 tỷ đồng, với khoảng 4 triệu khách hàng được hưởng chính sách.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội cũng trình điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 từ 10% lên 12%, tương ứng quy mô tăng thêm 5.100 tỷ đồng. Nguồn vốn này được kịp thời bổ sung cho các đối tượng vay vốn là người nghèo và đối tượng chính sách, nhằm hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp, khôi phục sản xuất, qua đó, giúp người vay sớm ổn định cuộc sống.

Giữ nhịp tín dụng năm 2026, bám sát mục tiêu ổn định vĩ mô

Các ngân hàng trụ cột tiếp tục dẫn dắt dòng tín dụng theo hướng ưu tiên các lĩnh vực then chốt, động lực tăng trưởng của nền kinh tế và hỗ trợ hiệu quả khách hàng vay vốn, hòa chung nhịp chảy vốn của toàn hệ thống. Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tương ứng quy mô vốn tín dụng "bơm" thêm ra nền kinh tế khoảng 2,8 triệu tỷ đồng.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, cơ cấu tín dụng hiện cơ bản phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp. Tính đến cuối tháng 10/2025, ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 6,15% tổng dư nợ nền kinh tế; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,39%; ngành xây dựng chiếm 7,47%; ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống, chiếm 22,24%.

Bên cạnh đó, một số lĩnh vực có tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khá, đặc biệt là các lĩnh vực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cùng với xu hướng này, các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản được nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng. Một số chương trình khác như cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách... được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Phó Tổng Giám đốc Vietcombank Lê Hoàng Tùng cho biết, năm 2026, Vietcombank dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 13% và có thể cao hơn nếu điều kiện cho phép. Ngân hàng sẽ tiếp tục ưu tiên phân bổ vốn cho những lĩnh vực ưu tiên, đóng vai trò động lực của nền kinh tế, bám sát định hướng điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Cũng theo lãnh đạo Vietcombank, mặt bằng lãi suất trong năm 2026 được xác định trên cơ sở cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn của toàn hệ thống, cũng như của từng ngân hàng thương mại. Định hướng điều hành xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục là ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất.

Tương tự, VietinBank cho biết, trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Song song với đó, VietinBank sẽ nỗ lực đưa dòng vốn đến đúng đối tượng sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc, qua đó nâng cao mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Định hướng điều hành tín dụng năm 2026

Đề cập định hướng điều hành tín dụng năm 2026, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành phù hợp, cung ứng vốn cho nền kinh tế phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát; đồng thời đảm bảo chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu; hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, quản lý rủi ro đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tiếp tục chỉ đạo các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Cuộc họp gần đây của Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cũng phát đi một thông điệp chính sách rõ ràng, đó là không mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn. Nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng sẽ không bơm tiền mạnh để kích cầu bằng mọi giá, nền kinh tế sẽ không quay trở lại thời kỳ “tiền rẻ” đại trà, mà ưu tiên cao là giữ ổn định hệ thống.

Định hướng này được đặt ra trong bối cảnh khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn liên tục nới rộng. Tính đến ngày 24/12/2025, huy động vốn tăng khoảng 14,11% so với cuối năm 2024, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng (17,87%). Tỷ lệ dư nợ cho vay trên huy động thuần (LDR thuần) của toàn ngành ngân hàng tăng lên mức 111%, gây sức ép lên các chỉ tiêu về an toàn vốn hệ thống, đồng thời dẫn đến áp lực thanh khoản cao hơn, hệ quả là lãi suất đầu vào tăng và nhiều khả năng sẽ được duy trì xuyên suốt năm 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

(TBTCO) - Diễn ra từ ngày 1/7 đến 30/9/2026 với hơn 5.000 ưu đãi, chương trình “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm” được Bảo hiểm Bảo Việt triển khai như một phần trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa chủ động bảo vệ tài chính - gia đình.
Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

Mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Việc mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế đối với khám ngoại trú trái tuyến từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng sẽ giảm gánh nặng chi phí, tạo thuận lợi hơn cho người bệnh trong tiếp cận dịch vụ y tế.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17968 18243 18862
CHF 31824 32205 32861
CNY 0 3829 3922
EUR 29342 29563 30646
GBP 34042 34432 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15218
SGD 19748 20029 20601
THB 704 767 820
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26466
AUD 17762 17862 18787
CAD 18138 18238 19249
CHF 32039 32069 33655
CNY 3809.9 3834.9 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29497 29527 31250
GBP 34325 34375 36144
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14712 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20750
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80