Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng lan tỏa mạnh mẽ khi tổng dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết đạt 13,6 triệu tỷ đồng cuối quý III/2025, tăng 15% so với cuối năm 2024. Khối quốc doanh vẫn là trụ cột hệ thống, trong khi các ngân hàng tư nhân bứt phá mạnh, có nhà băng tăng đến 30%, góp phần đẩy tín dụng toàn nền kinh tế tiến sát mục tiêu 18 - 20% cho cả năm.
aa

Ngân hàng quốc doanh giữ trụ, khối tư nhân tăng tốc

Tính đến ngày 31/10, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều công bố báo cáo tài chính quý III/2025, hé lộ bức tranh rõ nét về hoạt động kinh doanh trong 9 tháng của năm 2025. Theo đó, tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng đạt 13,6 triệu tỷ đồng, tăng 15% so với cuối năm 2024, phản ánh nhu cầu tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ toàn hệ thống trong môi trường lãi suất ổn định.

Thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, 3 ngân hàng quốc doanh giữ vững top đầu, song tăng trưởng ở mức vừa phải do quy mô dư nợ lớn và chiến lược kinh doanh kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn. Theo đó, BIDV tiếp tục đứng đầu với dư nợ hơn 2,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng hơn 180.000 tỷ đồng. VietinBank theo sát với gần 1,99 triệu tỷ đồng, tăng 15,6%, cao nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh. Trong khi đó, Vietcombank đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 12,5%.

Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Đồ hoạ: Ánh Tuyết

MB dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân, với dư nợ cho vay khách hàng đạt 931.500 tỷ đồng, tăng gần 20%, tiếp tục củng cố vị trí thứ 4. VPBank giữ hạng 5 với dư nợ gần 900.000 tỷ đồng.

Về tốc độ tăng trưởng, nhiều ngân hàng tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn nền kinh tế, trong đó, điểm nhấn bứt phá ở một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ.

Đơn cử, NCB dẫn đầu bảng với mức tăng tới 33,4%, vượt xa mặt bằng chung và hoàn thành 103% kế hoạch ngân hàng đề ra, nhờ quy mô tín dụng nhỏ và chiến lược mở rộng tích cực.

Trong nhóm ngân hàng quy mô lớn, VPBank gây chú ý khi tăng tới 29,4%, mức cao nhất trong nhóm top 5, nhờ cộng hưởng từ cả ngân hàng mẹ và các công ty thành viên. Các ngân hàng năng động khác như: Techcombank (tăng 21,4%), MB (19,9%), TP Bank (18,3%) hay NamABank (18,1%)... cũng ghi nhận tốc độ tăng hai chữ số, phản ánh sức bật tín dụng mạnh mẽ.

Nhóm ngân hàng tầm trung ghi nhận tăng trưởng khá đồng đều trong khoảng 14 - 17%, gồm SHB (16,9%), MSB (16,1%), ACB (15,2%); VIB (15%)...

Tuy nhiên, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ lại tăng trưởng chậm hơn mặt bằng chung, trong đó, Saigonbank là trường hợp hiếm hoi sụt giảm dư nợ 6,1% xuống còn hơn 20.000 tỷ đồng dư nợ cho vay.

Mục tiêu tăng trưởng 18 - 20% trong tầm tay

Toàn hệ thống ngân hàng đang đẩy mạnh cho vay, đưa tín dụng tăng trưởng đúng hướng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng GDP trên 8% trong năm 2025.

Theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch của Techcombank, danh mục tín dụng tổng thể của Techcombank đang có sự chuyển dịch tích cực. Trong đó, tín dụng khách hàng cá nhân tăng 20% so với đầu năm, cao hơn mức 16% của khách hàng doanh nghiệp, phản ánh xu hướng dịch chuyển mạnh sang phân khúc bán lẻ. Tính đến cuối quý III, tổng dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân đạt khoảng 342.000 tỷ đồng, trong đó cho vay mua nhà vẫn là phân khúc chủ lực, tăng trưởng 14%.

Lợi thế nghiêng về nhiều ngân hàng

"Nhóm ngân hàng tư nhân được kỳ vọng sẽ dẫn dắt đà tăng trưởng tín dụng cả hệ thống,, với mức tăng bình quân trên 20%/năm trong ba năm tới, đặc biệt những ngân hàng hỗ trợ chuyển giao ngân hàng "0 đồng" có thể đạt tăng trưởng 25 - 30%/năm. Khi định hướng điều hành bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng điều chỉnh theo hướng để các ngân hàng tăng trưởng dựa trên cơ chế thị trường, các ngân hàng có khả năng về vốn và hệ số an toàn vốn (CAR) cao sẽ có ưu thế".

Bà Phạm Liên Hà - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Thuỷ, Techcombank không theo đuổi tăng trưởng tín dụng ồ ạt, mà kiên định chiến lược tăng trưởng có kỷ luật và bền vững, dựa trên chỉ tiêu “ngôi sao chỉ đường” là tỷ lệ tài sản sinh lời trên tài sản có rủi ro. Theo đó, ngân hàng sẽ ưu tiên phân bổ vốn vào các lĩnh vực mang lại hiệu quả sinh lời tối ưu, song vẫn đảm bảo an toàn và chất lượng danh mục tín dụng.

Với VPBank, hưởng ứng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ngân hàng đẩy mạnh chiến lược cho vay theo vùng, theo ngành, lĩnh vực ưu tiên. Nhờ đó, tín dụng phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 29,1%. Tại phân khúc khách hàng cá nhân, sản phẩm cho vay mua nhà đi lên 27,7% nhờ việc triển khai nhiều gói vay ưu đãi, hỗ trợ giấc mơ an cư của người dân. Ban lãnh đạo ngân hàng VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 đạt 35%, phù hợp định hướng của Ngân hàng Nhà nước, song vẫn đảm bảo quản trị rủi ro và hiệu quả sinh lời.

Theo nhận định của bà Phạm Liên Hà - Giám đốc cấp cao nghiên cứu ngành Dịch vụ tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), hiện Việt Nam đang duy trì định hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, với lãi suất ở vùng thấp, trong đó, lãi suất tiết kiệm gần như đi ngang trong hai năm qua và thấp nhất trong nhiều năm, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn hệ thống tăng trên 13%, mức cao nhất trong hàng chục năm qua.

So với mục tiêu ban đầu 16% cả năm, trong một số phát biểu gần đây, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước để ngỏ khả năng nâng mục tiêu tín dụng lên 18 - 20%.

"Tăng trưởng tín dụng ở mức cao được đánh giá sẽ tiếp tục duy trì trong những năm tới, góp phần hỗ trợ nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, trong năm nay và đặc biệt về cuối năm, lãi suất có thể nhích nhẹ lên do chịu tác động từ rủi ro tỷ giá và áp lực thanh khoản" - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và chiến lược thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), chủ trương hiện nay là duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 18 - 20% trong vài năm tới nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Bà Trang cho rằng, với mặt bằng lãi suất hiện nay, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng sẽ đi ngang. Đồng thời, áp lực trích lập dự phòng nợ xấu chưa đáng kể, nhờ chất lượng tài sản được kiểm soát tốt. Nhờ đó, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng được dự báo sẽ cao hơn tốc độ tăng tín dụng 19,6%, phản ánh hiệu quả hoạt động cải thiện và dư địa tăng trưởng tích cực trong giai đoạn tới.

Tín dụng dự kiến tăng tốc cuối năm, lãi suất chịu áp lực

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng tăng 13,37% so với cuối năm 2024, cho thấy nhu cầu vốn mạnh mẽ trong nền kinh tế. Bất chấp đà tăng mạnh của tín dụng, mặt bằng lãi suất vẫn được duy trì ở mức thấp nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở để cân bằng cung cầu vốn trên thị trường, qua đó, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao của Chính phủ từ 8,3 - 8,5%.

Với triển vọng tín dụng tiếp tục tăng tốc, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng cả năm đạt 18 - 20%. Tuy nhiên, dự báo dư địa giảm lãi suất huy động sẽ hạn chế, thay vào đó có xu hướng tăng nhẹ trở lại bởi nhiều nguyên nhất. Tín dụng nhiều khả năng bứt tốc vào cuối năm khi Ngân hàng Nhà nước nới chỉ tiêu, buộc các ngân hàng, đặc biệt nhóm ngân hàng cổ phần đẩy mạnh huy động vốn, làm gia tăng rủi ro thiếu hụt thanh khoản cục bộ.

Cùng với đó, áp lực tỷ giá USD/VND vẫn hiện hữu. Thị trường bất động sản và tài sản tài chính tăng nóng làm gia tăng nhu cầu tín dụng rủi ro, tạo động lực gián tiếp điều chỉnh lãi suất huy động lên mức hợp lý để kiểm soát dòng vốn.

Do đó, VCBS dự báo lãi suất huy động có thể nhích tăng nhẹ trở lại tại một số ngân hàng cuối năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và kiểm soát rủi ro hệ thống, song vẫn được duy trì ở mặt bằng thấp theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80