Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng lan tỏa mạnh mẽ khi tổng dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết đạt 13,6 triệu tỷ đồng cuối quý III/2025, tăng 15% so với cuối năm 2024. Khối quốc doanh vẫn là trụ cột hệ thống, trong khi các ngân hàng tư nhân bứt phá mạnh, có nhà băng tăng đến 30%, góp phần đẩy tín dụng toàn nền kinh tế tiến sát mục tiêu 18 - 20% cho cả năm.
aa

Ngân hàng quốc doanh giữ trụ, khối tư nhân tăng tốc

Tính đến ngày 31/10, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều công bố báo cáo tài chính quý III/2025, hé lộ bức tranh rõ nét về hoạt động kinh doanh trong 9 tháng của năm 2025. Theo đó, tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng đạt 13,6 triệu tỷ đồng, tăng 15% so với cuối năm 2024, phản ánh nhu cầu tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ toàn hệ thống trong môi trường lãi suất ổn định.

Thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, 3 ngân hàng quốc doanh giữ vững top đầu, song tăng trưởng ở mức vừa phải do quy mô dư nợ lớn và chiến lược kinh doanh kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn. Theo đó, BIDV tiếp tục đứng đầu với dư nợ hơn 2,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng hơn 180.000 tỷ đồng. VietinBank theo sát với gần 1,99 triệu tỷ đồng, tăng 15,6%, cao nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh. Trong khi đó, Vietcombank đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 12,5%.

Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Đồ hoạ: Ánh Tuyết

MB dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân, với dư nợ cho vay khách hàng đạt 931.500 tỷ đồng, tăng gần 20%, tiếp tục củng cố vị trí thứ 4. VPBank giữ hạng 5 với dư nợ gần 900.000 tỷ đồng.

Về tốc độ tăng trưởng, nhiều ngân hàng tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn nền kinh tế, trong đó, điểm nhấn bứt phá ở một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ.

Đơn cử, NCB dẫn đầu bảng với mức tăng tới 33,4%, vượt xa mặt bằng chung và hoàn thành 103% kế hoạch ngân hàng đề ra, nhờ quy mô tín dụng nhỏ và chiến lược mở rộng tích cực.

Trong nhóm ngân hàng quy mô lớn, VPBank gây chú ý khi tăng tới 29,4%, mức cao nhất trong nhóm top 5, nhờ cộng hưởng từ cả ngân hàng mẹ và các công ty thành viên. Các ngân hàng năng động khác như: Techcombank (tăng 21,4%), MB (19,9%), TP Bank (18,3%) hay NamABank (18,1%)... cũng ghi nhận tốc độ tăng hai chữ số, phản ánh sức bật tín dụng mạnh mẽ.

Nhóm ngân hàng tầm trung ghi nhận tăng trưởng khá đồng đều trong khoảng 14 - 17%, gồm SHB (16,9%), MSB (16,1%), ACB (15,2%); VIB (15%)...

Tuy nhiên, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ lại tăng trưởng chậm hơn mặt bằng chung, trong đó, Saigonbank là trường hợp hiếm hoi sụt giảm dư nợ 6,1% xuống còn hơn 20.000 tỷ đồng dư nợ cho vay.

Mục tiêu tăng trưởng 18 - 20% trong tầm tay

Toàn hệ thống ngân hàng đang đẩy mạnh cho vay, đưa tín dụng tăng trưởng đúng hướng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng GDP trên 8% trong năm 2025.

Theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch của Techcombank, danh mục tín dụng tổng thể của Techcombank đang có sự chuyển dịch tích cực. Trong đó, tín dụng khách hàng cá nhân tăng 20% so với đầu năm, cao hơn mức 16% của khách hàng doanh nghiệp, phản ánh xu hướng dịch chuyển mạnh sang phân khúc bán lẻ. Tính đến cuối quý III, tổng dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân đạt khoảng 342.000 tỷ đồng, trong đó cho vay mua nhà vẫn là phân khúc chủ lực, tăng trưởng 14%.

Lợi thế nghiêng về nhiều ngân hàng

"Nhóm ngân hàng tư nhân được kỳ vọng sẽ dẫn dắt đà tăng trưởng tín dụng cả hệ thống,, với mức tăng bình quân trên 20%/năm trong ba năm tới, đặc biệt những ngân hàng hỗ trợ chuyển giao ngân hàng "0 đồng" có thể đạt tăng trưởng 25 - 30%/năm. Khi định hướng điều hành bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng điều chỉnh theo hướng để các ngân hàng tăng trưởng dựa trên cơ chế thị trường, các ngân hàng có khả năng về vốn và hệ số an toàn vốn (CAR) cao sẽ có ưu thế".

Bà Phạm Liên Hà - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Thuỷ, Techcombank không theo đuổi tăng trưởng tín dụng ồ ạt, mà kiên định chiến lược tăng trưởng có kỷ luật và bền vững, dựa trên chỉ tiêu “ngôi sao chỉ đường” là tỷ lệ tài sản sinh lời trên tài sản có rủi ro. Theo đó, ngân hàng sẽ ưu tiên phân bổ vốn vào các lĩnh vực mang lại hiệu quả sinh lời tối ưu, song vẫn đảm bảo an toàn và chất lượng danh mục tín dụng.

Với VPBank, hưởng ứng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ngân hàng đẩy mạnh chiến lược cho vay theo vùng, theo ngành, lĩnh vực ưu tiên. Nhờ đó, tín dụng phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 29,1%. Tại phân khúc khách hàng cá nhân, sản phẩm cho vay mua nhà đi lên 27,7% nhờ việc triển khai nhiều gói vay ưu đãi, hỗ trợ giấc mơ an cư của người dân. Ban lãnh đạo ngân hàng VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 đạt 35%, phù hợp định hướng của Ngân hàng Nhà nước, song vẫn đảm bảo quản trị rủi ro và hiệu quả sinh lời.

Theo nhận định của bà Phạm Liên Hà - Giám đốc cấp cao nghiên cứu ngành Dịch vụ tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), hiện Việt Nam đang duy trì định hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, với lãi suất ở vùng thấp, trong đó, lãi suất tiết kiệm gần như đi ngang trong hai năm qua và thấp nhất trong nhiều năm, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn hệ thống tăng trên 13%, mức cao nhất trong hàng chục năm qua.

So với mục tiêu ban đầu 16% cả năm, trong một số phát biểu gần đây, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước để ngỏ khả năng nâng mục tiêu tín dụng lên 18 - 20%.

"Tăng trưởng tín dụng ở mức cao được đánh giá sẽ tiếp tục duy trì trong những năm tới, góp phần hỗ trợ nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, trong năm nay và đặc biệt về cuối năm, lãi suất có thể nhích nhẹ lên do chịu tác động từ rủi ro tỷ giá và áp lực thanh khoản" - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và chiến lược thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), chủ trương hiện nay là duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 18 - 20% trong vài năm tới nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Bà Trang cho rằng, với mặt bằng lãi suất hiện nay, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng sẽ đi ngang. Đồng thời, áp lực trích lập dự phòng nợ xấu chưa đáng kể, nhờ chất lượng tài sản được kiểm soát tốt. Nhờ đó, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng được dự báo sẽ cao hơn tốc độ tăng tín dụng 19,6%, phản ánh hiệu quả hoạt động cải thiện và dư địa tăng trưởng tích cực trong giai đoạn tới.

Tín dụng dự kiến tăng tốc cuối năm, lãi suất chịu áp lực

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng tăng 13,37% so với cuối năm 2024, cho thấy nhu cầu vốn mạnh mẽ trong nền kinh tế. Bất chấp đà tăng mạnh của tín dụng, mặt bằng lãi suất vẫn được duy trì ở mức thấp nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở để cân bằng cung cầu vốn trên thị trường, qua đó, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao của Chính phủ từ 8,3 - 8,5%.

Với triển vọng tín dụng tiếp tục tăng tốc, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng cả năm đạt 18 - 20%. Tuy nhiên, dự báo dư địa giảm lãi suất huy động sẽ hạn chế, thay vào đó có xu hướng tăng nhẹ trở lại bởi nhiều nguyên nhất. Tín dụng nhiều khả năng bứt tốc vào cuối năm khi Ngân hàng Nhà nước nới chỉ tiêu, buộc các ngân hàng, đặc biệt nhóm ngân hàng cổ phần đẩy mạnh huy động vốn, làm gia tăng rủi ro thiếu hụt thanh khoản cục bộ.

Cùng với đó, áp lực tỷ giá USD/VND vẫn hiện hữu. Thị trường bất động sản và tài sản tài chính tăng nóng làm gia tăng nhu cầu tín dụng rủi ro, tạo động lực gián tiếp điều chỉnh lãi suất huy động lên mức hợp lý để kiểm soát dòng vốn.

Do đó, VCBS dự báo lãi suất huy động có thể nhích tăng nhẹ trở lại tại một số ngân hàng cuối năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và kiểm soát rủi ro hệ thống, song vẫn được duy trì ở mặt bằng thấp theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80