Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng lan tỏa mạnh mẽ khi tổng dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết đạt 13,6 triệu tỷ đồng cuối quý III/2025, tăng 15% so với cuối năm 2024. Khối quốc doanh vẫn là trụ cột hệ thống, trong khi các ngân hàng tư nhân bứt phá mạnh, có nhà băng tăng đến 30%, góp phần đẩy tín dụng toàn nền kinh tế tiến sát mục tiêu 18 - 20% cho cả năm.
aa

Ngân hàng quốc doanh giữ trụ, khối tư nhân tăng tốc

Tính đến ngày 31/10, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều công bố báo cáo tài chính quý III/2025, hé lộ bức tranh rõ nét về hoạt động kinh doanh trong 9 tháng của năm 2025. Theo đó, tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng đạt 13,6 triệu tỷ đồng, tăng 15% so với cuối năm 2024, phản ánh nhu cầu tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ toàn hệ thống trong môi trường lãi suất ổn định.

Thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, 3 ngân hàng quốc doanh giữ vững top đầu, song tăng trưởng ở mức vừa phải do quy mô dư nợ lớn và chiến lược kinh doanh kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn. Theo đó, BIDV tiếp tục đứng đầu với dư nợ hơn 2,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng hơn 180.000 tỷ đồng. VietinBank theo sát với gần 1,99 triệu tỷ đồng, tăng 15,6%, cao nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh. Trong khi đó, Vietcombank đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 12,5%.

Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Đồ hoạ: Ánh Tuyết

MB dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân, với dư nợ cho vay khách hàng đạt 931.500 tỷ đồng, tăng gần 20%, tiếp tục củng cố vị trí thứ 4. VPBank giữ hạng 5 với dư nợ gần 900.000 tỷ đồng.

Về tốc độ tăng trưởng, nhiều ngân hàng tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn nền kinh tế, trong đó, điểm nhấn bứt phá ở một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ.

Đơn cử, NCB dẫn đầu bảng với mức tăng tới 33,4%, vượt xa mặt bằng chung và hoàn thành 103% kế hoạch ngân hàng đề ra, nhờ quy mô tín dụng nhỏ và chiến lược mở rộng tích cực.

Trong nhóm ngân hàng quy mô lớn, VPBank gây chú ý khi tăng tới 29,4%, mức cao nhất trong nhóm top 5, nhờ cộng hưởng từ cả ngân hàng mẹ và các công ty thành viên. Các ngân hàng năng động khác như: Techcombank (tăng 21,4%), MB (19,9%), TP Bank (18,3%) hay NamABank (18,1%)... cũng ghi nhận tốc độ tăng hai chữ số, phản ánh sức bật tín dụng mạnh mẽ.

Nhóm ngân hàng tầm trung ghi nhận tăng trưởng khá đồng đều trong khoảng 14 - 17%, gồm SHB (16,9%), MSB (16,1%), ACB (15,2%); VIB (15%)...

Tuy nhiên, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ lại tăng trưởng chậm hơn mặt bằng chung, trong đó, Saigonbank là trường hợp hiếm hoi sụt giảm dư nợ 6,1% xuống còn hơn 20.000 tỷ đồng dư nợ cho vay.

Mục tiêu tăng trưởng 18 - 20% trong tầm tay

Toàn hệ thống ngân hàng đang đẩy mạnh cho vay, đưa tín dụng tăng trưởng đúng hướng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng GDP trên 8% trong năm 2025.

Theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch của Techcombank, danh mục tín dụng tổng thể của Techcombank đang có sự chuyển dịch tích cực. Trong đó, tín dụng khách hàng cá nhân tăng 20% so với đầu năm, cao hơn mức 16% của khách hàng doanh nghiệp, phản ánh xu hướng dịch chuyển mạnh sang phân khúc bán lẻ. Tính đến cuối quý III, tổng dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân đạt khoảng 342.000 tỷ đồng, trong đó cho vay mua nhà vẫn là phân khúc chủ lực, tăng trưởng 14%.

Lợi thế nghiêng về nhiều ngân hàng

"Nhóm ngân hàng tư nhân được kỳ vọng sẽ dẫn dắt đà tăng trưởng tín dụng cả hệ thống,, với mức tăng bình quân trên 20%/năm trong ba năm tới, đặc biệt những ngân hàng hỗ trợ chuyển giao ngân hàng "0 đồng" có thể đạt tăng trưởng 25 - 30%/năm. Khi định hướng điều hành bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng điều chỉnh theo hướng để các ngân hàng tăng trưởng dựa trên cơ chế thị trường, các ngân hàng có khả năng về vốn và hệ số an toàn vốn (CAR) cao sẽ có ưu thế".

Bà Phạm Liên Hà - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Thuỷ, Techcombank không theo đuổi tăng trưởng tín dụng ồ ạt, mà kiên định chiến lược tăng trưởng có kỷ luật và bền vững, dựa trên chỉ tiêu “ngôi sao chỉ đường” là tỷ lệ tài sản sinh lời trên tài sản có rủi ro. Theo đó, ngân hàng sẽ ưu tiên phân bổ vốn vào các lĩnh vực mang lại hiệu quả sinh lời tối ưu, song vẫn đảm bảo an toàn và chất lượng danh mục tín dụng.

Với VPBank, hưởng ứng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ngân hàng đẩy mạnh chiến lược cho vay theo vùng, theo ngành, lĩnh vực ưu tiên. Nhờ đó, tín dụng phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 29,1%. Tại phân khúc khách hàng cá nhân, sản phẩm cho vay mua nhà đi lên 27,7% nhờ việc triển khai nhiều gói vay ưu đãi, hỗ trợ giấc mơ an cư của người dân. Ban lãnh đạo ngân hàng VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 đạt 35%, phù hợp định hướng của Ngân hàng Nhà nước, song vẫn đảm bảo quản trị rủi ro và hiệu quả sinh lời.

Theo nhận định của bà Phạm Liên Hà - Giám đốc cấp cao nghiên cứu ngành Dịch vụ tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), hiện Việt Nam đang duy trì định hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, với lãi suất ở vùng thấp, trong đó, lãi suất tiết kiệm gần như đi ngang trong hai năm qua và thấp nhất trong nhiều năm, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn hệ thống tăng trên 13%, mức cao nhất trong hàng chục năm qua.

So với mục tiêu ban đầu 16% cả năm, trong một số phát biểu gần đây, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước để ngỏ khả năng nâng mục tiêu tín dụng lên 18 - 20%.

"Tăng trưởng tín dụng ở mức cao được đánh giá sẽ tiếp tục duy trì trong những năm tới, góp phần hỗ trợ nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, trong năm nay và đặc biệt về cuối năm, lãi suất có thể nhích nhẹ lên do chịu tác động từ rủi ro tỷ giá và áp lực thanh khoản" - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và chiến lược thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), chủ trương hiện nay là duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 18 - 20% trong vài năm tới nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Bà Trang cho rằng, với mặt bằng lãi suất hiện nay, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng sẽ đi ngang. Đồng thời, áp lực trích lập dự phòng nợ xấu chưa đáng kể, nhờ chất lượng tài sản được kiểm soát tốt. Nhờ đó, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng được dự báo sẽ cao hơn tốc độ tăng tín dụng 19,6%, phản ánh hiệu quả hoạt động cải thiện và dư địa tăng trưởng tích cực trong giai đoạn tới.

Tín dụng dự kiến tăng tốc cuối năm, lãi suất chịu áp lực

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng tăng 13,37% so với cuối năm 2024, cho thấy nhu cầu vốn mạnh mẽ trong nền kinh tế. Bất chấp đà tăng mạnh của tín dụng, mặt bằng lãi suất vẫn được duy trì ở mức thấp nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở để cân bằng cung cầu vốn trên thị trường, qua đó, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao của Chính phủ từ 8,3 - 8,5%.

Với triển vọng tín dụng tiếp tục tăng tốc, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng cả năm đạt 18 - 20%. Tuy nhiên, dự báo dư địa giảm lãi suất huy động sẽ hạn chế, thay vào đó có xu hướng tăng nhẹ trở lại bởi nhiều nguyên nhất. Tín dụng nhiều khả năng bứt tốc vào cuối năm khi Ngân hàng Nhà nước nới chỉ tiêu, buộc các ngân hàng, đặc biệt nhóm ngân hàng cổ phần đẩy mạnh huy động vốn, làm gia tăng rủi ro thiếu hụt thanh khoản cục bộ.

Cùng với đó, áp lực tỷ giá USD/VND vẫn hiện hữu. Thị trường bất động sản và tài sản tài chính tăng nóng làm gia tăng nhu cầu tín dụng rủi ro, tạo động lực gián tiếp điều chỉnh lãi suất huy động lên mức hợp lý để kiểm soát dòng vốn.

Do đó, VCBS dự báo lãi suất huy động có thể nhích tăng nhẹ trở lại tại một số ngân hàng cuối năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và kiểm soát rủi ro hệ thống, song vẫn được duy trì ở mặt bằng thấp theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Dù kinh doanh thua lỗ, hoạt động gần như "đóng băng", Công ty cổ phần Đầu tư hội nhập Toàn Cầu vẫn gắn với những khoản huy động hàng trăm tỷ đồng, từ lô trái phiếu 190 tỷ đồng đến các giao dịch bảo đảm có giá trị khoản vay hàng trăm tỷ đồng tại PVComBank Chi nhánh Đống Đa. Phía sau các nghĩa vụ hàng trăm tỷ đồng là tài sản bảo đảm chỉ vài nghìn cổ phần, gắn với mạng lưới doanh nghiệp đan xen.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80