Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng lan tỏa mạnh mẽ khi tổng dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết đạt 13,6 triệu tỷ đồng cuối quý III/2025, tăng 15% so với cuối năm 2024. Khối quốc doanh vẫn là trụ cột hệ thống, trong khi các ngân hàng tư nhân bứt phá mạnh, có nhà băng tăng đến 30%, góp phần đẩy tín dụng toàn nền kinh tế tiến sát mục tiêu 18 - 20% cho cả năm.
aa

Ngân hàng quốc doanh giữ trụ, khối tư nhân tăng tốc

Tính đến ngày 31/10, toàn bộ 27 ngân hàng niêm yết đều công bố báo cáo tài chính quý III/2025, hé lộ bức tranh rõ nét về hoạt động kinh doanh trong 9 tháng của năm 2025. Theo đó, tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng đạt 13,6 triệu tỷ đồng, tăng 15% so với cuối năm 2024, phản ánh nhu cầu tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ toàn hệ thống trong môi trường lãi suất ổn định.

Thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, 3 ngân hàng quốc doanh giữ vững top đầu, song tăng trưởng ở mức vừa phải do quy mô dư nợ lớn và chiến lược kinh doanh kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn. Theo đó, BIDV tiếp tục đứng đầu với dư nợ hơn 2,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng hơn 180.000 tỷ đồng. VietinBank theo sát với gần 1,99 triệu tỷ đồng, tăng 15,6%, cao nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh. Trong khi đó, Vietcombank đạt 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 12,5%.

Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20%

Đồ hoạ: Ánh Tuyết

MB dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân, với dư nợ cho vay khách hàng đạt 931.500 tỷ đồng, tăng gần 20%, tiếp tục củng cố vị trí thứ 4. VPBank giữ hạng 5 với dư nợ gần 900.000 tỷ đồng.

Về tốc độ tăng trưởng, nhiều ngân hàng tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn nền kinh tế, trong đó, điểm nhấn bứt phá ở một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ.

Đơn cử, NCB dẫn đầu bảng với mức tăng tới 33,4%, vượt xa mặt bằng chung và hoàn thành 103% kế hoạch ngân hàng đề ra, nhờ quy mô tín dụng nhỏ và chiến lược mở rộng tích cực.

Trong nhóm ngân hàng quy mô lớn, VPBank gây chú ý khi tăng tới 29,4%, mức cao nhất trong nhóm top 5, nhờ cộng hưởng từ cả ngân hàng mẹ và các công ty thành viên. Các ngân hàng năng động khác như: Techcombank (tăng 21,4%), MB (19,9%), TP Bank (18,3%) hay NamABank (18,1%)... cũng ghi nhận tốc độ tăng hai chữ số, phản ánh sức bật tín dụng mạnh mẽ.

Nhóm ngân hàng tầm trung ghi nhận tăng trưởng khá đồng đều trong khoảng 14 - 17%, gồm SHB (16,9%), MSB (16,1%), ACB (15,2%); VIB (15%)...

Tuy nhiên, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ lại tăng trưởng chậm hơn mặt bằng chung, trong đó, Saigonbank là trường hợp hiếm hoi sụt giảm dư nợ 6,1% xuống còn hơn 20.000 tỷ đồng dư nợ cho vay.

Mục tiêu tăng trưởng 18 - 20% trong tầm tay

Toàn hệ thống ngân hàng đang đẩy mạnh cho vay, đưa tín dụng tăng trưởng đúng hướng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng GDP trên 8% trong năm 2025.

Theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch của Techcombank, danh mục tín dụng tổng thể của Techcombank đang có sự chuyển dịch tích cực. Trong đó, tín dụng khách hàng cá nhân tăng 20% so với đầu năm, cao hơn mức 16% của khách hàng doanh nghiệp, phản ánh xu hướng dịch chuyển mạnh sang phân khúc bán lẻ. Tính đến cuối quý III, tổng dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân đạt khoảng 342.000 tỷ đồng, trong đó cho vay mua nhà vẫn là phân khúc chủ lực, tăng trưởng 14%.

Lợi thế nghiêng về nhiều ngân hàng

"Nhóm ngân hàng tư nhân được kỳ vọng sẽ dẫn dắt đà tăng trưởng tín dụng cả hệ thống,, với mức tăng bình quân trên 20%/năm trong ba năm tới, đặc biệt những ngân hàng hỗ trợ chuyển giao ngân hàng "0 đồng" có thể đạt tăng trưởng 25 - 30%/năm. Khi định hướng điều hành bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng điều chỉnh theo hướng để các ngân hàng tăng trưởng dựa trên cơ chế thị trường, các ngân hàng có khả năng về vốn và hệ số an toàn vốn (CAR) cao sẽ có ưu thế".

Bà Phạm Liên Hà - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Thuỷ, Techcombank không theo đuổi tăng trưởng tín dụng ồ ạt, mà kiên định chiến lược tăng trưởng có kỷ luật và bền vững, dựa trên chỉ tiêu “ngôi sao chỉ đường” là tỷ lệ tài sản sinh lời trên tài sản có rủi ro. Theo đó, ngân hàng sẽ ưu tiên phân bổ vốn vào các lĩnh vực mang lại hiệu quả sinh lời tối ưu, song vẫn đảm bảo an toàn và chất lượng danh mục tín dụng.

Với VPBank, hưởng ứng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ngân hàng đẩy mạnh chiến lược cho vay theo vùng, theo ngành, lĩnh vực ưu tiên. Nhờ đó, tín dụng phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 29,1%. Tại phân khúc khách hàng cá nhân, sản phẩm cho vay mua nhà đi lên 27,7% nhờ việc triển khai nhiều gói vay ưu đãi, hỗ trợ giấc mơ an cư của người dân. Ban lãnh đạo ngân hàng VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 đạt 35%, phù hợp định hướng của Ngân hàng Nhà nước, song vẫn đảm bảo quản trị rủi ro và hiệu quả sinh lời.

Theo nhận định của bà Phạm Liên Hà - Giám đốc cấp cao nghiên cứu ngành Dịch vụ tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), hiện Việt Nam đang duy trì định hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, với lãi suất ở vùng thấp, trong đó, lãi suất tiết kiệm gần như đi ngang trong hai năm qua và thấp nhất trong nhiều năm, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng toàn hệ thống tăng trên 13%, mức cao nhất trong hàng chục năm qua.

So với mục tiêu ban đầu 16% cả năm, trong một số phát biểu gần đây, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước để ngỏ khả năng nâng mục tiêu tín dụng lên 18 - 20%.

"Tăng trưởng tín dụng ở mức cao được đánh giá sẽ tiếp tục duy trì trong những năm tới, góp phần hỗ trợ nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, trong năm nay và đặc biệt về cuối năm, lãi suất có thể nhích nhẹ lên do chịu tác động từ rủi ro tỷ giá và áp lực thanh khoản" - đại diện HSC nhận định.

Cũng theo bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và chiến lược thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), chủ trương hiện nay là duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 18 - 20% trong vài năm tới nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Bà Trang cho rằng, với mặt bằng lãi suất hiện nay, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng sẽ đi ngang. Đồng thời, áp lực trích lập dự phòng nợ xấu chưa đáng kể, nhờ chất lượng tài sản được kiểm soát tốt. Nhờ đó, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng được dự báo sẽ cao hơn tốc độ tăng tín dụng 19,6%, phản ánh hiệu quả hoạt động cải thiện và dư địa tăng trưởng tích cực trong giai đoạn tới.

Tín dụng dự kiến tăng tốc cuối năm, lãi suất chịu áp lực

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, tín dụng tăng 13,37% so với cuối năm 2024, cho thấy nhu cầu vốn mạnh mẽ trong nền kinh tế. Bất chấp đà tăng mạnh của tín dụng, mặt bằng lãi suất vẫn được duy trì ở mức thấp nhờ chính sách điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở để cân bằng cung cầu vốn trên thị trường, qua đó, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao của Chính phủ từ 8,3 - 8,5%.

Với triển vọng tín dụng tiếp tục tăng tốc, nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) dự báo tăng trưởng cả năm đạt 18 - 20%. Tuy nhiên, dự báo dư địa giảm lãi suất huy động sẽ hạn chế, thay vào đó có xu hướng tăng nhẹ trở lại bởi nhiều nguyên nhất. Tín dụng nhiều khả năng bứt tốc vào cuối năm khi Ngân hàng Nhà nước nới chỉ tiêu, buộc các ngân hàng, đặc biệt nhóm ngân hàng cổ phần đẩy mạnh huy động vốn, làm gia tăng rủi ro thiếu hụt thanh khoản cục bộ.

Cùng với đó, áp lực tỷ giá USD/VND vẫn hiện hữu. Thị trường bất động sản và tài sản tài chính tăng nóng làm gia tăng nhu cầu tín dụng rủi ro, tạo động lực gián tiếp điều chỉnh lãi suất huy động lên mức hợp lý để kiểm soát dòng vốn.

Do đó, VCBS dự báo lãi suất huy động có thể nhích tăng nhẹ trở lại tại một số ngân hàng cuối năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và kiểm soát rủi ro hệ thống, song vẫn được duy trì ở mặt bằng thấp theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲80K 14,480 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲80K 14,480 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲80K 14,480 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,180 ▲80K 14,530 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,180 ▲80K 14,530 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,180 ▲80K 14,530 ▲80K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,840 ▲80K 14,440 ▲80K
Trang sức 99.99 13,850 ▲80K 14,450 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1277K 14,482 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1277K 14,483 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲8K 1,444 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 ▲8K 1,428 ▲1286K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 ▲792K 141,386 ▲792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 ▲600K 107,261 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 ▲78772K 97,264 ▲87592K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 ▲488K 87,267 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 ▲467K 83,411 ▲467K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 ▲44947K 59,704 ▲53767K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Cập nhật: 17/08/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18050 18325 18904
CAD 18362 18638 19260
CHF 31632 32012 32660
CNY 0 3830 3940
EUR 29710 29932 31016
GBP 34701 35094 36027
HKD 0 3209 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15162 15750
SGD 19965 20248 20819
THB 707 771 824
USD (1,2) 25940 0 0
USD (5,10,20) 25980 0 0
USD (50,100) 26009 26043 26413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,010 26,010 26,390
USD(1-2-5) 24,970 - -
USD(10-20) 24,970 - -
EUR 29,741 29,765 31,174
JPY 160.24 160.53 170.2
GBP 34,859 34,953 36,161
AUD 18,233 18,299 18,996
CAD 18,536 18,596 19,283
CHF 31,865 31,964 32,914
SGD 20,078 20,140 20,927
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,271 3,281 3,419
KRW 17.06 17.79 19.36
THB 755.15 764.48 818.21
NZD 15,129 15,269 15,720
SEK - 2,707 2,803
DKK - 3,989 4,129
NOK - 2,730 2,827
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,000.28 - 6,774.36
TWD 742.22 - 898.56
SAR - 6,859.1 7,224.91
KWD - 83,008 88,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,712 29,831 31,026
GBP 34,804 34,944 35,979
HKD 3,263 3,276 3,393
CHF 31,655 31,782 32,705
JPY 160.33 160.97 168.95
AUD 18,191 18,264 18,861
SGD 20,101 20,182 20,779
THB 770 773 809
CAD 18,509 18,583 19,176
NZD 15,194 15,740
KRW 17.69 19.68
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26010 26010 26370
AUD 18226 18326 19251
CAD 18535 18635 19650
CHF 31857 31887 33473
CNY 3825.2 3850.2 3985.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29881 29911 31637
GBP 34992 35042 36802
HKD 0 3330 0
JPY 161.18 161.68 172.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15264 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20969
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,950 26,000 26,330
USD20 25,900 26,000 26,815
USD1 25,850 26,000 26,865
AUD 18,227 18,327 19,461
EUR 29,602 29,702 31,401
CAD 18,432 18,532 19,865
SGD 20,138 20,288 20,873
JPY 161.24 162.74 168.5
GBP 34,800 34,950 36,065
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80