Rủi ro tích tụ sau đà tăng bất động sản, yêu cầu siết kỷ luật tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bất động sản tiếp tục là “thỏi nam châm” hút tín dụng khi dư nợ đến cuối năm 2025 ước đạt 4,5 triệu tỷ đồng, tăng tới 28% và chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay nhiều ngân hàng. Dù vậy, cấu trúc tín dụng lệch pha làm gia tăng rủi ro "bong bóng", nợ xấu đi kèm áp lực thanh khoản, buộc phải siết tăng trưởng và điều hướng dòng vốn.
aa

Bất động sản hút vốn mạnh, song cầu thực yếu vì giá cao

Thông tin về hoạt động cấp tín dụng lĩnh vực bất động sản năm vừa qua, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho biết, dư nợ lĩnh vực này cuối năm 2025 ước đạt 4,5 triệu tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng cao liên tục hai năm trở lại đây. Trong đó, tín dụng cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản tăng rất cao 28%, trong khi mức tăng chung toàn ngành chỉ 19%, hiện chiếm 44% tổng dư nợ lĩnh vực này. Trong khi đó, cho vay mua nhà chỉ tăng 14% do giá nhà cao, khiến người dân chững lại.

"Đương nhiên chúng ta phải nhìn nhận, kiểm soát để lành mạnh hóa cả doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, người mua nhà, cũng như chủ đầu tư" - ông Lực nhấn mạnh.

Rủi ro tích tụ sau đà tăng bất động sản, yêu cầu siết kỷ luật tín dụng
Hiện nay, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chủ yếu là vốn ngắn hạn, chiếm khoảng 80%. Ảnh: Đức Thanh

Ông Lực cho rằng, Ngân hàng Nhà Nước sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn, đặc biệt là với tín dụng dành cho chủ đầu tư. Theo đó, năm nay, Ngân hàng Nhà nước định hướng rất rõ tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, có thể điều chỉnh phù hợp. Tuy nhiên, tín dụng cho vay bất động sản về cơ bản không tăng quá mức chung, tức không vượt quá 15%, trừ khi có yêu cầu điều chỉnh.

Tuy nhiên, cho vay mua nhà vẫn còn dư địa để cho vay , bởi vì năm qua tăng khá thấp. Còn phân khúc nhà ở xã hội, khu công nghiệp vẫn tiếp tục được quan tâm, ưu tiên cho vay.

Liên quan đến dư nợ tín dụng bất động sản, trong công văn trả lời kiến nghị Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường, Ngân hàng Nhà nước cho biết, dư nợ tín dụng lĩnh vực này chiếm khoảng 21% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, tín dụng vào lĩnh vực bất động sản tăng khá nhanh từ năm 2022 đến nay và thường cao hơn tăng trưởng tín dụng chung.

Hiện nay, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chủ yếu là vốn ngắn hạn, chiếm khoảng 80%, buộc các ngân hàng phải “lấy ngắn nuôi dài”, do việc cấp tín dụng cho lĩnh vực bất động sản đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn. "Các tổ chức tín dụng phải cân đối để đảm bảo khả năng thanh khoản và đáp ứng các tỷ lệ an toàn trong hoạt động" - Ngân hàng Nhà nước lưu ý.

Ngân hàng Nhà nước cũng nhấn mạnh, hiện không có quy định cấm cho vay bất động sản. Cùng với đó, hiện tiêu chuẩn Basel không đặt ra quy định về tỷ lệ dư nợ tín dụng bất động sản/tổng dư nợ. Thay vào đó, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Việc cấp tín dụng vào ngành, lĩnh vực nào và tỷ lệ bao nhiêu thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng, trên cơ sở xem xét, thẩm định tính khả thi, hiệu quả của phương án vay vốn, khả năng trả nợ khách hàng và nguồn vốn huy động của tổ chức tín dụng.

Những rủi ro bị che khuất

Theo số liệu của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, đến cuối năm 2025, tín dụng bất động sản chiếm hơn 24% tổng dư nợ toàn hệ thống. Xét về cơ cấu, nhiều ngân hàng thậm chí duy trì tỷ trọng dư nợ bất động sản vượt ngưỡng 30%, phản ánh mức độ phụ thuộc đáng kể vào địa ốc như: Techcombank, VPBank, PVcomBank...

Dòng vốn tín dụng đổ mạnh vào bất động sản bắt nguồn từ thói quen xem nhà, đất là kênh tích sản ưu tiên của người dân, kết hợp với sự phụ thuộc gần như tuyệt đối vào vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp, người dân. Chính điều này đã đẩy tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản thường xuyên vượt xa mức bình quân chung của nền kinh tế.

"Bơm" tín dụng không kiểm soát, dòng tiền dễ chệch hướng

"Cứ ở đâu khi tín dụng được “bơm” ra, các tác nhân kinh tế thường có xu hướng tìm đến những kênh dễ thực hiện nhất, trừ khi có quyết tâm phải kiểm soát chặt, để dòng vốn vào đúng nơi, đúng chỗ tạo ra những năng lực mới, tạo ra tăng năng suất lao động cho nền kinh tế, lúc đó mưới có sự tăng trưởng ổn định và bền vững”.

Ông Nguyễn Đức Hải - Công ty quản lý Quỹ Manulife Investment Việt Nam.

Ông Nguyễn Đức Hải - Giám đốc Đầu tư cấp cao, Công ty quản lý Quỹ Manulife Investment Việt Nam cho rằng, nếu tăng trưởng tín dụng không được kiểm soát và mục tiêu phân bổ dòng vốn không rõ ràng, dòng tiền rất dễ chảy vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ. Điều này có thể dẫn tới nguy cơ hình thành "bong bóng" tài sản, kéo theo những hệ lụy lâu dài đối với nền kinh tế.

Đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng của tín dụng bất động sản là các tầng nấc rủi ro đang tích tụ. Khi rủi ro pháp lý luôn thường trực khi tiến độ dự án phụ thuộc lớn vào quy hoạch và quy trình phê duyệt, gây tắc nghẽn dòng tiền giải ngân. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng gia tăng dưới áp lực đòn bẩy tài chính cao, đặc biệt khi lãi suất biến động.

Ngoài ra, rủi ro thanh khoản dễ xảy ra khi dòng tiền kinh doanh dễ bị "đóng băng" khi thị trường trầm lắng. Đó là chưa kể đặc thù của tín dụng bất động sản là vòng quay chậm, do các khoản vay mua nhà và vay dự án thường có kỳ hạn dài từ 10 - 20 năm, khiến dòng vốn bị "chôn" kéo dài.

Đáng ngại hơn, dù bất động sản là tài sản bảo đảm phổ biến nhất tại các ngân hàng, có ngân hàng ôm "núi" sổ đỏ tới 90% tổng tài sản, nhưng việc thiếu cơ sở dữ liệu giá đất minh bạch dẫn đến nguy cơ định giá ảo, gây khó khăn cho việc xử lý nợ xấu khi thị trường suy thoái.

Hệ lụy là khi nợ xấu phát sinh, các ngân hàng buộc phải thắt chặt tín dụng và tăng chi phí dự phòng, trực tiếp làm suy giảm khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế và đe dọa sự ổn định vĩ mô. Bên cạnh rủi ro nợ xấu, hệ thống ngân hàng còn đang đối mặt với bài toán thanh khoản đầy thách thức.

Thanh khoản ngân hàng trước phép thử tín dụng tăng nóng

Trong khi tín dụng tăng trưởng nóng, huy động tiền gửi từ dân cư lại không theo kịp, đẩy tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi) tại nhiều ngân hàng vượt ngưỡng theo tính toán của nhiều đơn vị phân tích.

Đơn cử, VinaCapital cho rằng, tỷ lệ LDR tăng thêm 5 điểm phần trăm năm 2025, lên khoảng 110%. Cần phải lưu ý rằng, Ngân hàng Nhà nước sử dụng phương pháp khác khi tính toán tỷ lệ LDR chính thức của hệ thống ngân hàng.

Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) thì cho rằng, cuối năm 2025, tỷ lệ LDR toàn hệ thống tiến sát 110%, vượt xa mức trần 85% theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN.

Để bù đắp "khoảng trống" này, các ngân hàng buộc phải tìm đến thị trường liên ngân hàng, khiến lãi suất qua đêm thường xuyên neo cao, có thời điểm vượt 9% cuối năm 2025, hoặc dồn dập tăng lãi suất huy động để giành vốn.

Nguy cơ rủi ro thanh khoản cũng đáng lo, nếu các nhóm khách hàng vay lớn, thường là các doanh nghiệp "sân sau" trong lĩnh vực bất động sản gặp khó khăn về tài chính. Do đó, việc củng cố "bộ đệm" vốn và nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc thị trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết đối với ngành ngân hàng hiện nay.

Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như "kim chỉ nam" mới nhằm điều hướng dòng vốn. Cơ chế này hướng tới việc siết chặt phân khúc đầu cơ rủi ro, đồng thời mở đường cho các dự án "sạch" về pháp lý và có tài sản bảo đảm vững chắc.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80