Rủi ro tích tụ sau đà tăng bất động sản, yêu cầu siết kỷ luật tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bất động sản tiếp tục là “thỏi nam châm” hút tín dụng khi dư nợ đến cuối năm 2025 ước đạt 4,5 triệu tỷ đồng, tăng tới 28% và chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay nhiều ngân hàng. Dù vậy, cấu trúc tín dụng lệch pha làm gia tăng rủi ro "bong bóng", nợ xấu đi kèm áp lực thanh khoản, buộc phải siết tăng trưởng và điều hướng dòng vốn.
aa

Bất động sản hút vốn mạnh, song cầu thực yếu vì giá cao

Thông tin về hoạt động cấp tín dụng lĩnh vực bất động sản năm vừa qua, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho biết, dư nợ lĩnh vực này cuối năm 2025 ước đạt 4,5 triệu tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng cao liên tục hai năm trở lại đây. Trong đó, tín dụng cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản tăng rất cao 28%, trong khi mức tăng chung toàn ngành chỉ 19%, hiện chiếm 44% tổng dư nợ lĩnh vực này. Trong khi đó, cho vay mua nhà chỉ tăng 14% do giá nhà cao, khiến người dân chững lại.

"Đương nhiên chúng ta phải nhìn nhận, kiểm soát để lành mạnh hóa cả doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, người mua nhà, cũng như chủ đầu tư" - ông Lực nhấn mạnh.

Rủi ro tích tụ sau đà tăng bất động sản, yêu cầu siết kỷ luật tín dụng
Hiện nay, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chủ yếu là vốn ngắn hạn, chiếm khoảng 80%. Ảnh: Đức Thanh

Ông Lực cho rằng, Ngân hàng Nhà Nước sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn, đặc biệt là với tín dụng dành cho chủ đầu tư. Theo đó, năm nay, Ngân hàng Nhà nước định hướng rất rõ tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, có thể điều chỉnh phù hợp. Tuy nhiên, tín dụng cho vay bất động sản về cơ bản không tăng quá mức chung, tức không vượt quá 15%, trừ khi có yêu cầu điều chỉnh.

Tuy nhiên, cho vay mua nhà vẫn còn dư địa để cho vay , bởi vì năm qua tăng khá thấp. Còn phân khúc nhà ở xã hội, khu công nghiệp vẫn tiếp tục được quan tâm, ưu tiên cho vay.

Liên quan đến dư nợ tín dụng bất động sản, trong công văn trả lời kiến nghị Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường, Ngân hàng Nhà nước cho biết, dư nợ tín dụng lĩnh vực này chiếm khoảng 21% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, tín dụng vào lĩnh vực bất động sản tăng khá nhanh từ năm 2022 đến nay và thường cao hơn tăng trưởng tín dụng chung.

Hiện nay, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chủ yếu là vốn ngắn hạn, chiếm khoảng 80%, buộc các ngân hàng phải “lấy ngắn nuôi dài”, do việc cấp tín dụng cho lĩnh vực bất động sản đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn. "Các tổ chức tín dụng phải cân đối để đảm bảo khả năng thanh khoản và đáp ứng các tỷ lệ an toàn trong hoạt động" - Ngân hàng Nhà nước lưu ý.

Ngân hàng Nhà nước cũng nhấn mạnh, hiện không có quy định cấm cho vay bất động sản. Cùng với đó, hiện tiêu chuẩn Basel không đặt ra quy định về tỷ lệ dư nợ tín dụng bất động sản/tổng dư nợ. Thay vào đó, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Việc cấp tín dụng vào ngành, lĩnh vực nào và tỷ lệ bao nhiêu thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng, trên cơ sở xem xét, thẩm định tính khả thi, hiệu quả của phương án vay vốn, khả năng trả nợ khách hàng và nguồn vốn huy động của tổ chức tín dụng.

Những rủi ro bị che khuất

Theo số liệu của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, đến cuối năm 2025, tín dụng bất động sản chiếm hơn 24% tổng dư nợ toàn hệ thống. Xét về cơ cấu, nhiều ngân hàng thậm chí duy trì tỷ trọng dư nợ bất động sản vượt ngưỡng 30%, phản ánh mức độ phụ thuộc đáng kể vào địa ốc như: Techcombank, VPBank, PVcomBank...

Dòng vốn tín dụng đổ mạnh vào bất động sản bắt nguồn từ thói quen xem nhà, đất là kênh tích sản ưu tiên của người dân, kết hợp với sự phụ thuộc gần như tuyệt đối vào vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp, người dân. Chính điều này đã đẩy tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản thường xuyên vượt xa mức bình quân chung của nền kinh tế.

"Bơm" tín dụng không kiểm soát, dòng tiền dễ chệch hướng

"Cứ ở đâu khi tín dụng được “bơm” ra, các tác nhân kinh tế thường có xu hướng tìm đến những kênh dễ thực hiện nhất, trừ khi có quyết tâm phải kiểm soát chặt, để dòng vốn vào đúng nơi, đúng chỗ tạo ra những năng lực mới, tạo ra tăng năng suất lao động cho nền kinh tế, lúc đó mưới có sự tăng trưởng ổn định và bền vững”.

Ông Nguyễn Đức Hải - Công ty quản lý Quỹ Manulife Investment Việt Nam.

Ông Nguyễn Đức Hải - Giám đốc Đầu tư cấp cao, Công ty quản lý Quỹ Manulife Investment Việt Nam cho rằng, nếu tăng trưởng tín dụng không được kiểm soát và mục tiêu phân bổ dòng vốn không rõ ràng, dòng tiền rất dễ chảy vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ. Điều này có thể dẫn tới nguy cơ hình thành "bong bóng" tài sản, kéo theo những hệ lụy lâu dài đối với nền kinh tế.

Đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng của tín dụng bất động sản là các tầng nấc rủi ro đang tích tụ. Khi rủi ro pháp lý luôn thường trực khi tiến độ dự án phụ thuộc lớn vào quy hoạch và quy trình phê duyệt, gây tắc nghẽn dòng tiền giải ngân. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng gia tăng dưới áp lực đòn bẩy tài chính cao, đặc biệt khi lãi suất biến động.

Ngoài ra, rủi ro thanh khoản dễ xảy ra khi dòng tiền kinh doanh dễ bị "đóng băng" khi thị trường trầm lắng. Đó là chưa kể đặc thù của tín dụng bất động sản là vòng quay chậm, do các khoản vay mua nhà và vay dự án thường có kỳ hạn dài từ 10 - 20 năm, khiến dòng vốn bị "chôn" kéo dài.

Đáng ngại hơn, dù bất động sản là tài sản bảo đảm phổ biến nhất tại các ngân hàng, có ngân hàng ôm "núi" sổ đỏ tới 90% tổng tài sản, nhưng việc thiếu cơ sở dữ liệu giá đất minh bạch dẫn đến nguy cơ định giá ảo, gây khó khăn cho việc xử lý nợ xấu khi thị trường suy thoái.

Hệ lụy là khi nợ xấu phát sinh, các ngân hàng buộc phải thắt chặt tín dụng và tăng chi phí dự phòng, trực tiếp làm suy giảm khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế và đe dọa sự ổn định vĩ mô. Bên cạnh rủi ro nợ xấu, hệ thống ngân hàng còn đang đối mặt với bài toán thanh khoản đầy thách thức.

Thanh khoản ngân hàng trước phép thử tín dụng tăng nóng

Trong khi tín dụng tăng trưởng nóng, huy động tiền gửi từ dân cư lại không theo kịp, đẩy tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi) tại nhiều ngân hàng vượt ngưỡng theo tính toán của nhiều đơn vị phân tích.

Đơn cử, VinaCapital cho rằng, tỷ lệ LDR tăng thêm 5 điểm phần trăm năm 2025, lên khoảng 110%. Cần phải lưu ý rằng, Ngân hàng Nhà nước sử dụng phương pháp khác khi tính toán tỷ lệ LDR chính thức của hệ thống ngân hàng.

Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) thì cho rằng, cuối năm 2025, tỷ lệ LDR toàn hệ thống tiến sát 110%, vượt xa mức trần 85% theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN.

Để bù đắp "khoảng trống" này, các ngân hàng buộc phải tìm đến thị trường liên ngân hàng, khiến lãi suất qua đêm thường xuyên neo cao, có thời điểm vượt 9% cuối năm 2025, hoặc dồn dập tăng lãi suất huy động để giành vốn.

Nguy cơ rủi ro thanh khoản cũng đáng lo, nếu các nhóm khách hàng vay lớn, thường là các doanh nghiệp "sân sau" trong lĩnh vực bất động sản gặp khó khăn về tài chính. Do đó, việc củng cố "bộ đệm" vốn và nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc thị trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết đối với ngành ngân hàng hiện nay.

Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như "kim chỉ nam" mới nhằm điều hướng dòng vốn. Cơ chế này hướng tới việc siết chặt phân khúc đầu cơ rủi ro, đồng thời mở đường cho các dự án "sạch" về pháp lý và có tài sản bảo đảm vững chắc.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80