Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát lãi suất tiết kiệm của gần 50 ngân hàng cho thấy kỳ hạn 1 tháng đã áp trần 4,75%/năm; trong khi kỳ hạn 6 tháng là tâm điểm cạnh tranh khi quý IV/2025 có 40 ngân hàng tăng lãi suất và chưa đầy 1 tháng đầu năm 2026, 10 ngân hàng tiếp tục đẩy nhiệt cuộc đua. Nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất tiền gửi vẫn chịu áp lực và có xu hướng tăng.
aa

Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025

“Sóng” lãi suất dâng cao, nhà băng nào trả lãi hấp dẫn nhất đầu năm?

Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm niêm yết của gần 50 ngân hàng ngày 22/1 cho thấy, tại kỳ hạn 1 tháng, lãi suất huy động nhiều nhà băng đang đồng loạt áp sát mức trần 4,75%/năm theo quy định đối với các kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, qua đó, phản ánh dư địa tăng lãi suất rất hạn hẹp.

Đây cũng là các ngân hàng trả lãi cao nhất kỳ hạn 1 tháng, gồm: Sacombank, PVcomBank, PGBank, VIB, TPBank, OCB, BVBank, VPBank, VCBNeo và CIMB Việt Nam.

Do đã chạm trần cho phép, nhiều ngân hàng không ghi nhận biến động, song nếu so với quý IV/2025 khi "sóng" tăng ồ ạt bắt đầu, lãi suất 1 tháng đã có nhịp tăng đáng kể. Nhóm tăng mạnh nhất ghi nhận tại Sacombank và PVcomBank với mức tăng lần lượt 1,95 điểm phần trăm và 1,75 điểm phần trăm, cho thấy áp lực huy động vốn ngắn hạn từng gia tăng rõ rệt trong giai đoạn cao điểm cuối năm 2025.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026
Trên đây là bảng lãi suất gửi tiết kiệm ngân hàng tại quầy, nhận lãi cuối kỳ. Bảng lãi suất có tính chất tham khảo và có thể thay đổi tùy vào thời điểm, số tiền gửi, thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng. * Các ngân hàng yếu kém đã chuyển giao bắt buộc hoặc bị kiểm soát đặc biệt.

Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất huy động duy trì mặt bằng cao và mức độ phân hóa rõ nét hơn so với các kỳ hạn ngắn, cho thấy đây là kỳ hạn được cả ngân hàng lẫn người gửi tiền ưu tiên lựa chọn. Đồng thời, đây cũng là kỳ hạn cạnh tranh sôi động nhất, khi có tới 40 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất trong quý IV/2025 và 10 ngân hàng tiếp tục "nhấn ga" chỉ trong chưa đầy 01 tháng đầu năm 2026.

Với người gửi tiền, 6 tháng đủ dài để hưởng mức lãi suất vượt trội so với kỳ hạn dưới 6 tháng, nhưng vẫn giữ được tính linh hoạt, hạn chế rủi ro khóa vốn khi mặt bằng lãi suất đảo chiều.

Hiện nhiều ngân hàng đang chạy đua niêm yết lãi suất kỳ hạn 6 tháng trong vùng 6% đến trên 7%/năm. Đáng chú ý, các chương trình ưu đãi “ngầm” dành cho khách hàng ưu tiên với mức cộng thêm lãi suất khá cao đã xuất hiện trở lại, qua đó đẩy lãi suất gửi tiết kiệm thực nhận lên tới khoảng 8,5%/năm. Trong đó, PGBank dẫn đầu với 7,1%/năm, theo sau là BacABank, MBV, VikkiBank, ABBank ở nhóm 6,3 - 6,8%/năm.

So với đầu năm 2026, có 10 ngân hàng đã điều chỉnh tăng từ 0,2 - 1,1 điểm phần trăm, cho thấy áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu.

Nếu so với quý IV/2025, lãi suất 6 tháng tăng khá rõ, phổ biến 1 - 2,1 điểm phần trăm, phản ánh giai đoạn cạnh tranh huy động mạnh cuối năm.

Nhóm tăng mạnh nhất ghi nhận là PGBank (tăng 2,1 điểm phần trăm) và BacABank (tăng 1,55 điểm phần trăm), OCB và PVcomBank cùng đẩy lãi suất kỳ hạn 6 tháng tăng 1,3 điểm phần trăm...

Việc chỉ còn rất ít ngân hàng đứng ngoài xu hướng điều chỉnh cho thấy kỳ hạn 6 tháng đang trở thành “điểm nóng” trong cuộc cạnh tranh huy động, ngoại trừ một số cái tên như MSB, SCB, UOB hay HSBC... Đây là kỳ hạn các ngân hàng đều chủ động nâng lãi suất từ sớm để giữ chân người gửi tiền.

Ở kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất huy động được “neo” cao hơn để khuyến khích khách hàng gửi tiền lâu dài. Hiện lãi suất niêm yết 12 tháng vượt 7%/năm, trong đó, PGBank và MBV dẫn đầu với mức 7,2%. Nhóm ngân hàng trả lãi cao top hai là BacABank với 6,85%/năm; VIB, VikkiBank và OCB quanh 6,5%/năm.

Mặt bằng lãi suất cao còn “neo” cao

Chia sẻ gần đây về diễn biến lãi suất và áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng, ông Dương Quang Minh - Chuyên viên phân tích cao cấp Trung tâm Phân tích, Chứng khoán BIDV cho rằng, gần đây mức chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động khá lớn và có xu hướng gia tăng. Hệ quả là chỉ số LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) của nhiều ngân hàng áp sát ngưỡng 100%, thậm chí một số trường hợp đã vượt mốc này.

"Tình trạng thanh khoản căng thẳng như vậy tạo ra áp lực tăng lãi suất trong ngắn hạn, thể hiện rõ trong giai đoạn gần đây" - ông Minh nhấn mạnh.

Nhóm phân tích Chứng khoán BIDV cũng giữ nguyên quan điểm mặt bằng lãi suất cao nhiều khả năng được duy trì ít nhất đến hết nửa đầu năm 2026.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026

Cũng theo ước tính của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng thương mại cổ phần lớn đã tăng 134 điểm cơ bản trong năm 2025, cao hơn dự báo 110 điểm cơ bản của nhóm phân tích trong báo cáo trước.

"Lãi suất tiền gửi dự kiến vẫn chịu áp lực và có xu hướng tăng trong 2026" - nhóm phân tích Techcombank nhận định.

Trong bối cảnh huy động vốn gặp nhiều áp lực, theo ông Dương Quang Minh, các ngân hàng thương mại sẽ tăng cường huy động từ thị trường liên ngân hàng, qua đó linh hoạt cân đối thanh khoản. Đồng thời, thị trường cũng kỳ vọng trong năm nay sẽ tiếp tục “mở khóa” kênh huy động qua trái phiếu doanh nghiệp, qua đó bổ sung nguồn vốn trung dài hạn, hỗ trợ tích cực cho hoạt động huy động và ổn định thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Về vấn đề này, theo nhóm phân tích của Ngân hàng Techcombank, việc chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động duy trì ở mức đáng kể (khoảng 4% cuối năm 2025) là một trong những lý do khiến lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần trong tháng 12 có thời điểm tăng mạnh lên mức 9,1%.

Tuy nhiên, diễn biễn lãi suất liên ngân hàng ngay từ đầu năm 2026 đã có xu hướng dịu bớt. Lý giải xu hướng này, nhóm phân tích của Techcombank chỉ rõ, áp lực thanh khoản có phần giảm bớt khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức tăng trưởng tín dụng dự kiến 15% cho 2026. Hiện lãi suất liên ngân hàng đang duy trì ở vùng dưới 5%, song áp lực thanh khoản căng thẳng vẫn hiện hữu do tiềm ẩn nhu cầu rút tiền mặt trước mỗi dịp Tết.

"Tuy nhiên, chúng tôi đánh giá trong trường hợp lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, Ngân hàng Nhà nước vẫn có thể linh hoạt can thiệp, sử dụng công cụ hoán đổi (swap) nếu cần, như đã quan sát trong tháng 12/2025" - nhóm phân tích của Techcombank dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18211 18487 19066
CAD 18382 18658 19275
CHF 31979 32361 33018
CNY 0 3840 3950
EUR 29905 30128 31209
GBP 34871 35265 36203
HKD 0 3210 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15311 15899
SGD 20070 20352 20923
THB 716 779 833
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25980 25980 26350
AUD 18394 18494 19417
CAD 18556 18656 19670
CHF 32228 32258 33836
CNY 3831.5 3856.5 3991.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30073 30103 31826
GBP 35169 35219 36980
HKD 0 3330 0
JPY 160.87 161.37 171.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15415 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20212 20342 21073
THB 0 745.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 16:30
Ngân hàng