Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát lãi suất tiết kiệm của gần 50 ngân hàng cho thấy kỳ hạn 1 tháng đã áp trần 4,75%/năm; trong khi kỳ hạn 6 tháng là tâm điểm cạnh tranh khi quý IV/2025 có 40 ngân hàng tăng lãi suất và chưa đầy 1 tháng đầu năm 2026, 10 ngân hàng tiếp tục đẩy nhiệt cuộc đua. Nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất tiền gửi vẫn chịu áp lực và có xu hướng tăng.
aa

Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Nhiều sức ép đẩy lãi suất huy động vào cuộc rượt đuổi đầu năm

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025

“Sóng” lãi suất dâng cao, nhà băng nào trả lãi hấp dẫn nhất đầu năm?

Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm niêm yết của gần 50 ngân hàng ngày 22/1 cho thấy, tại kỳ hạn 1 tháng, lãi suất huy động nhiều nhà băng đang đồng loạt áp sát mức trần 4,75%/năm theo quy định đối với các kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, qua đó, phản ánh dư địa tăng lãi suất rất hạn hẹp.

Đây cũng là các ngân hàng trả lãi cao nhất kỳ hạn 1 tháng, gồm: Sacombank, PVcomBank, PGBank, VIB, TPBank, OCB, BVBank, VPBank, VCBNeo và CIMB Việt Nam.

Do đã chạm trần cho phép, nhiều ngân hàng không ghi nhận biến động, song nếu so với quý IV/2025 khi "sóng" tăng ồ ạt bắt đầu, lãi suất 1 tháng đã có nhịp tăng đáng kể. Nhóm tăng mạnh nhất ghi nhận tại Sacombank và PVcomBank với mức tăng lần lượt 1,95 điểm phần trăm và 1,75 điểm phần trăm, cho thấy áp lực huy động vốn ngắn hạn từng gia tăng rõ rệt trong giai đoạn cao điểm cuối năm 2025.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026
Trên đây là bảng lãi suất gửi tiết kiệm ngân hàng tại quầy, nhận lãi cuối kỳ. Bảng lãi suất có tính chất tham khảo và có thể thay đổi tùy vào thời điểm, số tiền gửi, thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng. * Các ngân hàng yếu kém đã chuyển giao bắt buộc hoặc bị kiểm soát đặc biệt.

Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất huy động duy trì mặt bằng cao và mức độ phân hóa rõ nét hơn so với các kỳ hạn ngắn, cho thấy đây là kỳ hạn được cả ngân hàng lẫn người gửi tiền ưu tiên lựa chọn. Đồng thời, đây cũng là kỳ hạn cạnh tranh sôi động nhất, khi có tới 40 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất trong quý IV/2025 và 10 ngân hàng tiếp tục "nhấn ga" chỉ trong chưa đầy 01 tháng đầu năm 2026.

Với người gửi tiền, 6 tháng đủ dài để hưởng mức lãi suất vượt trội so với kỳ hạn dưới 6 tháng, nhưng vẫn giữ được tính linh hoạt, hạn chế rủi ro khóa vốn khi mặt bằng lãi suất đảo chiều.

Hiện nhiều ngân hàng đang chạy đua niêm yết lãi suất kỳ hạn 6 tháng trong vùng 6% đến trên 7%/năm. Đáng chú ý, các chương trình ưu đãi “ngầm” dành cho khách hàng ưu tiên với mức cộng thêm lãi suất khá cao đã xuất hiện trở lại, qua đó đẩy lãi suất gửi tiết kiệm thực nhận lên tới khoảng 8,5%/năm. Trong đó, PGBank dẫn đầu với 7,1%/năm, theo sau là BacABank, MBV, VikkiBank, ABBank ở nhóm 6,3 - 6,8%/năm.

So với đầu năm 2026, có 10 ngân hàng đã điều chỉnh tăng từ 0,2 - 1,1 điểm phần trăm, cho thấy áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu.

Nếu so với quý IV/2025, lãi suất 6 tháng tăng khá rõ, phổ biến 1 - 2,1 điểm phần trăm, phản ánh giai đoạn cạnh tranh huy động mạnh cuối năm.

Nhóm tăng mạnh nhất ghi nhận là PGBank (tăng 2,1 điểm phần trăm) và BacABank (tăng 1,55 điểm phần trăm), OCB và PVcomBank cùng đẩy lãi suất kỳ hạn 6 tháng tăng 1,3 điểm phần trăm...

Việc chỉ còn rất ít ngân hàng đứng ngoài xu hướng điều chỉnh cho thấy kỳ hạn 6 tháng đang trở thành “điểm nóng” trong cuộc cạnh tranh huy động, ngoại trừ một số cái tên như MSB, SCB, UOB hay HSBC... Đây là kỳ hạn các ngân hàng đều chủ động nâng lãi suất từ sớm để giữ chân người gửi tiền.

Ở kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất huy động được “neo” cao hơn để khuyến khích khách hàng gửi tiền lâu dài. Hiện lãi suất niêm yết 12 tháng vượt 7%/năm, trong đó, PGBank và MBV dẫn đầu với mức 7,2%. Nhóm ngân hàng trả lãi cao top hai là BacABank với 6,85%/năm; VIB, VikkiBank và OCB quanh 6,5%/năm.

Mặt bằng lãi suất cao còn “neo” cao

Chia sẻ gần đây về diễn biến lãi suất và áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng, ông Dương Quang Minh - Chuyên viên phân tích cao cấp Trung tâm Phân tích, Chứng khoán BIDV cho rằng, gần đây mức chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động khá lớn và có xu hướng gia tăng. Hệ quả là chỉ số LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) của nhiều ngân hàng áp sát ngưỡng 100%, thậm chí một số trường hợp đã vượt mốc này.

"Tình trạng thanh khoản căng thẳng như vậy tạo ra áp lực tăng lãi suất trong ngắn hạn, thể hiện rõ trong giai đoạn gần đây" - ông Minh nhấn mạnh.

Nhóm phân tích Chứng khoán BIDV cũng giữ nguyên quan điểm mặt bằng lãi suất cao nhiều khả năng được duy trì ít nhất đến hết nửa đầu năm 2026.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026

Cũng theo ước tính của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng thương mại cổ phần lớn đã tăng 134 điểm cơ bản trong năm 2025, cao hơn dự báo 110 điểm cơ bản của nhóm phân tích trong báo cáo trước.

"Lãi suất tiền gửi dự kiến vẫn chịu áp lực và có xu hướng tăng trong 2026" - nhóm phân tích Techcombank nhận định.

Trong bối cảnh huy động vốn gặp nhiều áp lực, theo ông Dương Quang Minh, các ngân hàng thương mại sẽ tăng cường huy động từ thị trường liên ngân hàng, qua đó linh hoạt cân đối thanh khoản. Đồng thời, thị trường cũng kỳ vọng trong năm nay sẽ tiếp tục “mở khóa” kênh huy động qua trái phiếu doanh nghiệp, qua đó bổ sung nguồn vốn trung dài hạn, hỗ trợ tích cực cho hoạt động huy động và ổn định thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Về vấn đề này, theo nhóm phân tích của Ngân hàng Techcombank, việc chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động duy trì ở mức đáng kể (khoảng 4% cuối năm 2025) là một trong những lý do khiến lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần trong tháng 12 có thời điểm tăng mạnh lên mức 9,1%.

Tuy nhiên, diễn biễn lãi suất liên ngân hàng ngay từ đầu năm 2026 đã có xu hướng dịu bớt. Lý giải xu hướng này, nhóm phân tích của Techcombank chỉ rõ, áp lực thanh khoản có phần giảm bớt khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức tăng trưởng tín dụng dự kiến 15% cho 2026. Hiện lãi suất liên ngân hàng đang duy trì ở vùng dưới 5%, song áp lực thanh khoản căng thẳng vẫn hiện hữu do tiềm ẩn nhu cầu rút tiền mặt trước mỗi dịp Tết.

"Tuy nhiên, chúng tôi đánh giá trong trường hợp lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, Ngân hàng Nhà nước vẫn có thể linh hoạt can thiệp, sử dụng công cụ hoán đổi (swap) nếu cần, như đã quan sát trong tháng 12/2025" - nhóm phân tích của Techcombank dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80