Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm. Áp lực lên mặt bằng lãi suất gia tăng đáng kể từ tháng 12 khi nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tăng mạnh cuối năm, trong khi huy động vốn chỉ tăng 14,11%, chậm hơn đáng kể so với tín dụng.
aa

Điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ thành công trong năm 2025

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026

Chiều ngày 29/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Hỗ trợ thanh khoản cuối năm, tín dụng tăng 17,87%

Đại diện Ngân hàng Nhà nước, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, năm 2025, bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt nhiều rủi ro, bất định. Kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, chịu tác động bởi nhiều yếu tố: chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, căng thẳng địa chính trị gia tăng, lộ trình chính sách tiền tệ khó đoán định của các ngân hàng trung ương lớn.

Lạm phát mặc dù hạ nhiệt, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng trở lại. Rủi ro tiềm ẩn trên thị trường tài chính - tiền tệ và thị trường hàng hóa toàn cầu là rất lớn… Với độ mở lớn của nền kinh tế, các yếu tố này đã tác động đáng kể tới thị trường tài chính - tiền tệ trong nước.

Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chủ trì buổi họp báo. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Trong nước, năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá, về đích để thực hiện đạt kết quả cao nhất Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đồng thời, cũng là năm tích cực chuẩn bị, củng cố nền tảng cho giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu tăng trưởng từ 8% trở lên, tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số trong những năm tới.

Theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà, để hỗ trợ thanh khoản thị trường vào thời điểm cuối năm và Tết Nguyên đán, bên cạnh cung ứng tiền qua kênh nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước triển khai nghiệp vụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng, qua đó góp phần hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm 2024.

Về điều hành chính sách tiền tệ, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà thông tin, Ngân hàng Nhà nước điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Về điều hành lãi suất, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Kết quả, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm, doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nêu rõ.

Trong khi đó, tỷ giá năm 2025 vẫn chịu áp lực lớn do tác động bất lợi từ bối cảnh quốc tế và diễn biến khó đoán định từ chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Cùng với đó, khuôn khổ pháp lý và chính sách trong hoạt động thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, thúc đẩy chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt, đáp ứng nhu cầu thanh toán của người dân và doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển của kinh tế đất nước.

Gợi mở định hướng điều hành năm 2026

Tại cuộc họp báo, các vấn đề liên quan đến lãi suất điều hành, lãi suất huy động và diễn biến thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm đã thu hút sự quan tâm lớn.

Theo lý giải của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), mặt bằng lãi suất có nhiều sức ép tăng do nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng gia tăng vào thời điểm cuối năm. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng huy động vốn thấp hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng.

Tính đến ngày 24/12, huy động vốn tăng khoảng 14,11%; trong khi tín dụng tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Huy động vốn còn bị cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác, khiến lãi suất ngân hàng có xu hướng tăng do áp lực thanh khoản.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm nay dự báo đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, đẩy dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam lên tới khoảng 146%, thuộc nhóm cao trong khu vực các nước có thu nhập trung bình thấp.

"Ngành ngân hàng có đặc thù đại đa số (80%) nguồn vốn ngắn hạn, trong khi khoảng 50% dư nợ cho vay là trung và dài hạn, tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn, nhất là khi dư nợ/GDP lớn" - ông Quang nêu rõ.

Từ đầu tháng 12 đến nay, thanh khoản hệ thống đã xuất hiện những khó khăn nhất định. Đây là bài toán đánh đổi không đơn giản. Khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao, thì rất khó duy trì mặt bằng lãi suất giảm sâu, dù Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực điều hành để đạt được mục tiêu này trong bối cảnh nhiều thách thức.

Trước thực tế đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp điều hành, bao gồm cả các biện pháp mới như nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán và bảo đảm thanh khoản cho hệ thống.

Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm
Toàn cảnh buổi họp báo. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Đánh giá về bối cảnh trong và ngoài nước ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, ông Phạm Chí Quang cho biết, bối cảnh quốc tế tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, khi môi trường kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều yếu tố bất biến, khó lường, đặc biệt là những xung đột địa chính trị, chính sách thuế quan của Mỹ. Trong nước, nền kinh tế chịu tác động của bão lũ, thiên tai; mô hình tăng trưởng còn phụ thuộc lớn vào xuất khẩu nên chịu ảnh hưởng nhất định trong bối cảnh chung.

Dòng vốn đầu tư vào Việt Nam biến động mạnh, cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và dòng vốn gián tiếp nước ngoài đều có sự thay đổi, dù có tác động tích cực từ việc nâng hạng thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên các động lực cũ sang mô hình mới dựa trên kinh tế số, đổi mới sáng tạo và kinh tế xanh, trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ có trọng tâm, trọng điểm.

Theo đó, ông Phạm Chí Quang cho biết, định hướng điều hành chính sách trong năm 2026 sẽ có những chuyển động phù hợp với chủ trương chung, ưu tiên kiểm soát vĩ mô và kiểm soát lạm phát./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 ▲30K 16,380 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,030 ▲130K 15,230 ▲130K
Nguyên Liệu 99.9 14,980 ▲130K 15,180 ▲130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Hà Nội - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Miền Tây - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 ▲8K 16,382 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 ▲8K 16,383 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cập nhật: 18/05/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80