Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm. Áp lực lên mặt bằng lãi suất gia tăng đáng kể từ tháng 12 khi nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tăng mạnh cuối năm, trong khi huy động vốn chỉ tăng 14,11%, chậm hơn đáng kể so với tín dụng.
aa

Điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ thành công trong năm 2025

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026

Chiều ngày 29/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Hỗ trợ thanh khoản cuối năm, tín dụng tăng 17,87%

Đại diện Ngân hàng Nhà nước, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, năm 2025, bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt nhiều rủi ro, bất định. Kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, chịu tác động bởi nhiều yếu tố: chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, căng thẳng địa chính trị gia tăng, lộ trình chính sách tiền tệ khó đoán định của các ngân hàng trung ương lớn.

Lạm phát mặc dù hạ nhiệt, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng trở lại. Rủi ro tiềm ẩn trên thị trường tài chính - tiền tệ và thị trường hàng hóa toàn cầu là rất lớn… Với độ mở lớn của nền kinh tế, các yếu tố này đã tác động đáng kể tới thị trường tài chính - tiền tệ trong nước.

Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chủ trì buổi họp báo. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Trong nước, năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá, về đích để thực hiện đạt kết quả cao nhất Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đồng thời, cũng là năm tích cực chuẩn bị, củng cố nền tảng cho giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu tăng trưởng từ 8% trở lên, tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số trong những năm tới.

Theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà, để hỗ trợ thanh khoản thị trường vào thời điểm cuối năm và Tết Nguyên đán, bên cạnh cung ứng tiền qua kênh nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước triển khai nghiệp vụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng, qua đó góp phần hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm 2024.

Về điều hành chính sách tiền tệ, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà thông tin, Ngân hàng Nhà nước điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Về điều hành lãi suất, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Kết quả, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm, doanh nghiệp và người dân đang tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp hơn trước đây" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nêu rõ.

Trong khi đó, tỷ giá năm 2025 vẫn chịu áp lực lớn do tác động bất lợi từ bối cảnh quốc tế và diễn biến khó đoán định từ chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Cùng với đó, khuôn khổ pháp lý và chính sách trong hoạt động thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, thúc đẩy chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt, đáp ứng nhu cầu thanh toán của người dân và doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển của kinh tế đất nước.

Gợi mở định hướng điều hành năm 2026

Tại cuộc họp báo, các vấn đề liên quan đến lãi suất điều hành, lãi suất huy động và diễn biến thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm đã thu hút sự quan tâm lớn.

Theo lý giải của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), mặt bằng lãi suất có nhiều sức ép tăng do nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng gia tăng vào thời điểm cuối năm. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng huy động vốn thấp hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng.

Tính đến ngày 24/12, huy động vốn tăng khoảng 14,11%; trong khi tín dụng tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Huy động vốn còn bị cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác, khiến lãi suất ngân hàng có xu hướng tăng do áp lực thanh khoản.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm nay dự báo đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, đẩy dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam lên tới khoảng 146%, thuộc nhóm cao trong khu vực các nước có thu nhập trung bình thấp.

"Ngành ngân hàng có đặc thù đại đa số (80%) nguồn vốn ngắn hạn, trong khi khoảng 50% dư nợ cho vay là trung và dài hạn, tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn, nhất là khi dư nợ/GDP lớn" - ông Quang nêu rõ.

Từ đầu tháng 12 đến nay, thanh khoản hệ thống đã xuất hiện những khó khăn nhất định. Đây là bài toán đánh đổi không đơn giản. Khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao, thì rất khó duy trì mặt bằng lãi suất giảm sâu, dù Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực điều hành để đạt được mục tiêu này trong bối cảnh nhiều thách thức.

Trước thực tế đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp điều hành, bao gồm cả các biện pháp mới như nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap) nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán và bảo đảm thanh khoản cho hệ thống.

Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm
Toàn cảnh buổi họp báo. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

Đánh giá về bối cảnh trong và ngoài nước ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, ông Phạm Chí Quang cho biết, bối cảnh quốc tế tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, khi môi trường kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều yếu tố bất biến, khó lường, đặc biệt là những xung đột địa chính trị, chính sách thuế quan của Mỹ. Trong nước, nền kinh tế chịu tác động của bão lũ, thiên tai; mô hình tăng trưởng còn phụ thuộc lớn vào xuất khẩu nên chịu ảnh hưởng nhất định trong bối cảnh chung.

Dòng vốn đầu tư vào Việt Nam biến động mạnh, cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và dòng vốn gián tiếp nước ngoài đều có sự thay đổi, dù có tác động tích cực từ việc nâng hạng thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên các động lực cũ sang mô hình mới dựa trên kinh tế số, đổi mới sáng tạo và kinh tế xanh, trên nền tảng điều hành chính sách tiền tệ có trọng tâm, trọng điểm.

Theo đó, ông Phạm Chí Quang cho biết, định hướng điều hành chính sách trong năm 2026 sẽ có những chuyển động phù hợp với chủ trương chung, ưu tiên kiểm soát vĩ mô và kiểm soát lạm phát./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (6/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, ngân hàng OCBC vẫn dự báo USD tăng 2 - 3%

Tỷ giá USD hôm nay (6/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, ngân hàng OCBC vẫn dự báo USD tăng 2 - 3%

(TBTCO) - Sáng 6/7, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.202 đồng, trong khi tỷ giá USD tự do dao động hẹp quanh 26.520 - 26.560 VND/USD. Chỉ số DXY tăng nhẹ lên 100,92 điểm, nhưng USD vẫn ở gần mức thấp nhất hai tuần do kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất suy giảm. Dù vậy, ngân hàng OCBC (Singapore) vẫn dự báo đồng USD có thể tăng 2 - 3% nửa cuối năm 2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17979 18555
CAD 18108 18383 18999
CHF 31678 32058 32700
CNY 0 3833 3926
EUR 29308 29528 30603
GBP 34326 34717 35648
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14915 15505
SGD 19773 20054 20626
THB 699 762 815
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,085 26,135 26,450
USD20 26,085 26,135 26,450
USD1 26,085 26,135 26,450
AUD 17,921 18,021 19,128
EUR 29,268 29,368 31,026
CAD 18,209 18,309 19,612
SGD 19,999 20,149 20,930
JPY 158.72 160.22 165.75
GBP 34,474 34,624 35,686
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80