Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/12:

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/12 cho thấy, sau 1 tuần hạ nhiệt, lãi suất liên ngân hàng lại leo thang, áp lực thanh khoản rõ nét trong cao điểm vốn cuối năm. Lãi suất qua đêm 5,47%, kỳ hạn 2 tuần vọt lên mức cao kỷ lục 8,72%, dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng và linh hoạt công cụ điều hành. Trong khi đó, áp lực tỷ giá USD trên kênh chính thức lắng dịu.
aa
Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026 Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

“Khát vốn” cuối năm, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục tăng mạnh

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong bối cảnh cao điểm nhu cầu vốn cuối năm.

Cụ thể, lãi suất qua đêm ngày 25/12 ở mức 5,47%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, song vẫn ở vùng cao. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần đạt 5,87%, tăng 0,07 điểm phần trăm. Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần tăng vọt lên 8,72%, cao nhất trong các kỳ hạn, tăng 2,16% cùng doanh số cho vay tăng, cho thấy căng thẳng thanh khoản. Ở nhóm kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 8,38%, tăng 1,02% điểm phần trăm; 3 tháng ở 7,82%, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn của các ngân hàng tăng cao vào thời điểm cuối năm vẫn chưa hạ nhiệt, trong khi thanh khoản dù được hỗ trợ qua kênh thị trường mở vẫn chưa hoàn toàn dư dả.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Nguồn: MBS.

Tín dụng bứt tăng 17,65%

Theo MBS, từ đầu năm 2025, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ, liên tục thiết lập mức cao mới và đạt hơn 18,37 triệu tỷ đồng tính đến ngày 22/12, tương đương tăng 17,65% so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay được giữ ở vùng thấp để hỗ trợ nền kinh tế, tăng trưởng huy động lại chậm hơn đáng kể, tạo áp lực lên thanh khoản và buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào cuối năm.

Trong báo cáo triển vọng Việt Nam 2026 do Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) mới công bố, nhóm phân tích cho rằng, dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm vốn qua thị trường mở (OMO), thị trường liên ngân hàng vẫn chịu sức ép lớn khi nhu cầu vốn tăng mạnh, kéo lãi suất liên ngân hàng liên tục lên mức đỉnh mới.

Cũng theo chuyên gia Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tình trạng thiếu hụt thanh khoản trong thời gian qua đã hạ nhiệt bớt khi Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND nhằm bơm thanh khoản vào hệ thống và "big 4" cũng tăng lãi suất huy động để bổ sung thanh khoản.

"Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thanh khoản hệ thống có thể được cải thiện trong ngắn hạn nhưng áp lực vẫn cao khi nhu cầu vốn gia tăng cuối năm. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tiếp tục bơm ròng nhẹ và sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND để hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh dư địa từ kênh OMO không còn nhiều" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tuần qua từ ngày 22 - 26/11, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ bơm hút vốn trên kênh OMO. Theo đó, ở đầu tuần, nhà điều hành duy trì quy mô bơm vốn lớn, với khối lượng phát hành OMO lần lượt đạt khoảng 19.298 tỷ đồng và 19.159 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong cao điểm nhu cầu vốn cuối năm. Cuối tuần, quy mô phát hành OMO giảm mạnh, chỉ còn 1.083 tỷ đồng và 1.948 tỷ đồng.

Theo đó, tuần qua, có 65.104,78 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 58.975,53 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, tiếp tục đưa lượng vốn OMO lưu hành lên mức cao 381.651,32 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng trong tuần.

USD lùi bước, nhiều ngoại tệ chủ chốt bật tăng

Về thị trường ngoại hối, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 20 đồng so với cuối tuần trước, phản ánh định hướng điều hành ổn định và dư địa kiểm soát tốt cung - cầu ngoại tệ trong hệ thống.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%. Ảnh minh hoạ.

Theo đó, ngày 26/12, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn mà các ngân hàng thương mại được phép áp dụng lần lượt là 26.384 VND/USD và 23.871,6 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết trong khoảng 23.922 - 26.334 VND/USD, giảm tương ứng, cho thấy xu hướng ổn định và hạ nhiệt nhẹ của tỷ giá trong bối cảnh áp lực từ thị trường quốc tế không lớn.

Đối với USD, tỷ giá tại cả Vietcombank và BIDV đều giảm so với cuối tuần trước. Tại Vietcombank, giá mua vào USD giảm 41 đồng, trong khi giá bán ra giảm 21 đồng, xuống còn 26.054 - 26.384 VND/USD. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, với mua vào giảm 46 đồng và bán ra giảm 21 đồng.

Tỷ giá GBP ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm các đồng tiền chủ chốt. Tại Vietcombank, giá mua vào tăng 257,3 đồng, còn giá bán ra tăng 268,3 đồng. BIDV cũng điều chỉnh tăng đáng kể, với mua vào tăng 244 đồng và bán ra tăng 294 đồng, lên 34.999 - 36.036 VND/GBP. Tỷ giá EUR, CNY, biến động theo chiều tăng; ngược lại JPY tiếp tục giảm nhẹ.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt giảm tuần qua, duy trì quanh 98 điểm. Đồng USD suy yếu nhẹ, trong bối cảnh thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh do kỳ nghỉ lễ Giáng sinh. Hoạt động giao dịch trở nên trầm lắng khi giới đầu tư hạn chế mở các vị thế mới, chủ yếu cơ cấu lại danh mục vào thời điểm cuối năm, đồng thời tiếp tục theo dõi và đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm tới.

DXY hiện dao động quanh vùng thấp nhất trong nhiều tuần, phản ánh áp lực giảm giá kéo dài của đồng bạc xanh trong tháng 12, khi kỳ vọng về khả năng Fed tiến gần hơn tới chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ ngày càng rõ nét.

Theo nhóm phân tích MBS, xu hướng giảm giá của USD được dự báo sẽ tiếp tục do chịu tác động của sự phân hóa chính sách tiền tệ giữa các các nước. Sau khi đã giảm 9,3% so với đầu năm, chỉ số DXY được dự báo sẽ giảm xuống ngưỡng 95 từ giữa năm 2026. Trong khi đó phần lớn các đồng tiền chủ chốt như: yên Nhật, bảng Anh và EUR đều được kỳ vọng tăng giá. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm cả Việt Nam, cũng sẽ được hưởng lợi khi chênh lệch lãi giữa Mỹ và các nước này thu hẹp./.

Chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương lớn nghịch chiều

Nhóm phân tích MBS cho rằng, chính sách tiền tệ thế giới sẽ tiệm cận ngưỡng trung tính trong năm 2026 và dần xuất hiện sự phân hóa giữa ngân hàng trung ương các nước. Trong cuộc họp tháng 12 của Fed, biểu đồ dot-plot cho thấy định hướng vẫn rất cẩn trọng khi chỉ có thêm 2 lần hạ lãi suất nữa lần lượt trong 2026 và 2027. Câu hỏi đặt ra là liệu Fed sẽ tiếp tục giữ quan điểm này hay sẽ nhượng bộ trước yêu cầu của Tổng thống Trump và hạ lãi suất điều hành xuống 3%, hoặc thấp hơn.

"Rủi ro lớn hơn lại đến từ bước ngoặt của ngân hàng trung ương Nhật Bản: nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào ngày 19/12, đưa mức lãi suất lên 0,75% - cao nhất trong ba thập kỷ và nhiều khả năng tiếp tục tăng thêm 25 điểm trong năm 2026. Động thái này báo hiệu thời kỳ dòng vốn giá rẻ từng chảy mạnh vào châu Á, bao gồm Việt Nam, đang dần khép lại" - MBS dự báo.

Khi chi phí vốn toàn cầu đảo chiều, áp lực lên mặt bằng lãi suất và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ trở nên rõ rệt hơn trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80