Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/12:

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/12 cho thấy, sau 1 tuần hạ nhiệt, lãi suất liên ngân hàng lại leo thang, áp lực thanh khoản rõ nét trong cao điểm vốn cuối năm. Lãi suất qua đêm 5,47%, kỳ hạn 2 tuần vọt lên mức cao kỷ lục 8,72%, dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng và linh hoạt công cụ điều hành. Trong khi đó, áp lực tỷ giá USD trên kênh chính thức lắng dịu.
aa
Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026 Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

“Khát vốn” cuối năm, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục tăng mạnh

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong bối cảnh cao điểm nhu cầu vốn cuối năm.

Cụ thể, lãi suất qua đêm ngày 25/12 ở mức 5,47%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, song vẫn ở vùng cao. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần đạt 5,87%, tăng 0,07 điểm phần trăm. Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần tăng vọt lên 8,72%, cao nhất trong các kỳ hạn, tăng 2,16% cùng doanh số cho vay tăng, cho thấy căng thẳng thanh khoản. Ở nhóm kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 8,38%, tăng 1,02% điểm phần trăm; 3 tháng ở 7,82%, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn của các ngân hàng tăng cao vào thời điểm cuối năm vẫn chưa hạ nhiệt, trong khi thanh khoản dù được hỗ trợ qua kênh thị trường mở vẫn chưa hoàn toàn dư dả.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Nguồn: MBS.

Tín dụng bứt tăng 17,65%

Theo MBS, từ đầu năm 2025, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ, liên tục thiết lập mức cao mới và đạt hơn 18,37 triệu tỷ đồng tính đến ngày 22/12, tương đương tăng 17,65% so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay được giữ ở vùng thấp để hỗ trợ nền kinh tế, tăng trưởng huy động lại chậm hơn đáng kể, tạo áp lực lên thanh khoản và buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào cuối năm.

Trong báo cáo triển vọng Việt Nam 2026 do Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) mới công bố, nhóm phân tích cho rằng, dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm vốn qua thị trường mở (OMO), thị trường liên ngân hàng vẫn chịu sức ép lớn khi nhu cầu vốn tăng mạnh, kéo lãi suất liên ngân hàng liên tục lên mức đỉnh mới.

Cũng theo chuyên gia Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tình trạng thiếu hụt thanh khoản trong thời gian qua đã hạ nhiệt bớt khi Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND nhằm bơm thanh khoản vào hệ thống và "big 4" cũng tăng lãi suất huy động để bổ sung thanh khoản.

"Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thanh khoản hệ thống có thể được cải thiện trong ngắn hạn nhưng áp lực vẫn cao khi nhu cầu vốn gia tăng cuối năm. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tiếp tục bơm ròng nhẹ và sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND để hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh dư địa từ kênh OMO không còn nhiều" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tuần qua từ ngày 22 - 26/11, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ bơm hút vốn trên kênh OMO. Theo đó, ở đầu tuần, nhà điều hành duy trì quy mô bơm vốn lớn, với khối lượng phát hành OMO lần lượt đạt khoảng 19.298 tỷ đồng và 19.159 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong cao điểm nhu cầu vốn cuối năm. Cuối tuần, quy mô phát hành OMO giảm mạnh, chỉ còn 1.083 tỷ đồng và 1.948 tỷ đồng.

Theo đó, tuần qua, có 65.104,78 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 58.975,53 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, tiếp tục đưa lượng vốn OMO lưu hành lên mức cao 381.651,32 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng trong tuần.

USD lùi bước, nhiều ngoại tệ chủ chốt bật tăng

Về thị trường ngoại hối, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 20 đồng so với cuối tuần trước, phản ánh định hướng điều hành ổn định và dư địa kiểm soát tốt cung - cầu ngoại tệ trong hệ thống.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%. Ảnh minh hoạ.

Theo đó, ngày 26/12, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn mà các ngân hàng thương mại được phép áp dụng lần lượt là 26.384 VND/USD và 23.871,6 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết trong khoảng 23.922 - 26.334 VND/USD, giảm tương ứng, cho thấy xu hướng ổn định và hạ nhiệt nhẹ của tỷ giá trong bối cảnh áp lực từ thị trường quốc tế không lớn.

Đối với USD, tỷ giá tại cả Vietcombank và BIDV đều giảm so với cuối tuần trước. Tại Vietcombank, giá mua vào USD giảm 41 đồng, trong khi giá bán ra giảm 21 đồng, xuống còn 26.054 - 26.384 VND/USD. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, với mua vào giảm 46 đồng và bán ra giảm 21 đồng.

Tỷ giá GBP ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm các đồng tiền chủ chốt. Tại Vietcombank, giá mua vào tăng 257,3 đồng, còn giá bán ra tăng 268,3 đồng. BIDV cũng điều chỉnh tăng đáng kể, với mua vào tăng 244 đồng và bán ra tăng 294 đồng, lên 34.999 - 36.036 VND/GBP. Tỷ giá EUR, CNY, biến động theo chiều tăng; ngược lại JPY tiếp tục giảm nhẹ.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt giảm tuần qua, duy trì quanh 98 điểm. Đồng USD suy yếu nhẹ, trong bối cảnh thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh do kỳ nghỉ lễ Giáng sinh. Hoạt động giao dịch trở nên trầm lắng khi giới đầu tư hạn chế mở các vị thế mới, chủ yếu cơ cấu lại danh mục vào thời điểm cuối năm, đồng thời tiếp tục theo dõi và đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm tới.

DXY hiện dao động quanh vùng thấp nhất trong nhiều tuần, phản ánh áp lực giảm giá kéo dài của đồng bạc xanh trong tháng 12, khi kỳ vọng về khả năng Fed tiến gần hơn tới chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ ngày càng rõ nét.

Theo nhóm phân tích MBS, xu hướng giảm giá của USD được dự báo sẽ tiếp tục do chịu tác động của sự phân hóa chính sách tiền tệ giữa các các nước. Sau khi đã giảm 9,3% so với đầu năm, chỉ số DXY được dự báo sẽ giảm xuống ngưỡng 95 từ giữa năm 2026. Trong khi đó phần lớn các đồng tiền chủ chốt như: yên Nhật, bảng Anh và EUR đều được kỳ vọng tăng giá. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm cả Việt Nam, cũng sẽ được hưởng lợi khi chênh lệch lãi giữa Mỹ và các nước này thu hẹp./.

Chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương lớn nghịch chiều

Nhóm phân tích MBS cho rằng, chính sách tiền tệ thế giới sẽ tiệm cận ngưỡng trung tính trong năm 2026 và dần xuất hiện sự phân hóa giữa ngân hàng trung ương các nước. Trong cuộc họp tháng 12 của Fed, biểu đồ dot-plot cho thấy định hướng vẫn rất cẩn trọng khi chỉ có thêm 2 lần hạ lãi suất nữa lần lượt trong 2026 và 2027. Câu hỏi đặt ra là liệu Fed sẽ tiếp tục giữ quan điểm này hay sẽ nhượng bộ trước yêu cầu của Tổng thống Trump và hạ lãi suất điều hành xuống 3%, hoặc thấp hơn.

"Rủi ro lớn hơn lại đến từ bước ngoặt của ngân hàng trung ương Nhật Bản: nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào ngày 19/12, đưa mức lãi suất lên 0,75% - cao nhất trong ba thập kỷ và nhiều khả năng tiếp tục tăng thêm 25 điểm trong năm 2026. Động thái này báo hiệu thời kỳ dòng vốn giá rẻ từng chảy mạnh vào châu Á, bao gồm Việt Nam, đang dần khép lại" - MBS dự báo.

Khi chi phí vốn toàn cầu đảo chiều, áp lực lên mặt bằng lãi suất và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ trở nên rõ rệt hơn trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80