Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/12:

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/12 cho thấy, sau 1 tuần hạ nhiệt, lãi suất liên ngân hàng lại leo thang, áp lực thanh khoản rõ nét trong cao điểm vốn cuối năm. Lãi suất qua đêm 5,47%, kỳ hạn 2 tuần vọt lên mức cao kỷ lục 8,72%, dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng và linh hoạt công cụ điều hành. Trong khi đó, áp lực tỷ giá USD trên kênh chính thức lắng dịu.
aa
Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026 Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

“Khát vốn” cuối năm, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục tăng mạnh

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong bối cảnh cao điểm nhu cầu vốn cuối năm.

Cụ thể, lãi suất qua đêm ngày 25/12 ở mức 5,47%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, song vẫn ở vùng cao. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần đạt 5,87%, tăng 0,07 điểm phần trăm. Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần tăng vọt lên 8,72%, cao nhất trong các kỳ hạn, tăng 2,16% cùng doanh số cho vay tăng, cho thấy căng thẳng thanh khoản. Ở nhóm kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 8,38%, tăng 1,02% điểm phần trăm; 3 tháng ở 7,82%, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn của các ngân hàng tăng cao vào thời điểm cuối năm vẫn chưa hạ nhiệt, trong khi thanh khoản dù được hỗ trợ qua kênh thị trường mở vẫn chưa hoàn toàn dư dả.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Nguồn: MBS.

Tín dụng bứt tăng 17,65%

Theo MBS, từ đầu năm 2025, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ, liên tục thiết lập mức cao mới và đạt hơn 18,37 triệu tỷ đồng tính đến ngày 22/12, tương đương tăng 17,65% so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay được giữ ở vùng thấp để hỗ trợ nền kinh tế, tăng trưởng huy động lại chậm hơn đáng kể, tạo áp lực lên thanh khoản và buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào cuối năm.

Trong báo cáo triển vọng Việt Nam 2026 do Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) mới công bố, nhóm phân tích cho rằng, dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm vốn qua thị trường mở (OMO), thị trường liên ngân hàng vẫn chịu sức ép lớn khi nhu cầu vốn tăng mạnh, kéo lãi suất liên ngân hàng liên tục lên mức đỉnh mới.

Cũng theo chuyên gia Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tình trạng thiếu hụt thanh khoản trong thời gian qua đã hạ nhiệt bớt khi Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND nhằm bơm thanh khoản vào hệ thống và "big 4" cũng tăng lãi suất huy động để bổ sung thanh khoản.

"Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thanh khoản hệ thống có thể được cải thiện trong ngắn hạn nhưng áp lực vẫn cao khi nhu cầu vốn gia tăng cuối năm. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tiếp tục bơm ròng nhẹ và sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND để hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh dư địa từ kênh OMO không còn nhiều" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tuần qua từ ngày 22 - 26/11, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ bơm hút vốn trên kênh OMO. Theo đó, ở đầu tuần, nhà điều hành duy trì quy mô bơm vốn lớn, với khối lượng phát hành OMO lần lượt đạt khoảng 19.298 tỷ đồng và 19.159 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong cao điểm nhu cầu vốn cuối năm. Cuối tuần, quy mô phát hành OMO giảm mạnh, chỉ còn 1.083 tỷ đồng và 1.948 tỷ đồng.

Theo đó, tuần qua, có 65.104,78 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 58.975,53 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, tiếp tục đưa lượng vốn OMO lưu hành lên mức cao 381.651,32 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng trong tuần.

USD lùi bước, nhiều ngoại tệ chủ chốt bật tăng

Về thị trường ngoại hối, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 20 đồng so với cuối tuần trước, phản ánh định hướng điều hành ổn định và dư địa kiểm soát tốt cung - cầu ngoại tệ trong hệ thống.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%. Ảnh minh hoạ.

Theo đó, ngày 26/12, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn mà các ngân hàng thương mại được phép áp dụng lần lượt là 26.384 VND/USD và 23.871,6 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết trong khoảng 23.922 - 26.334 VND/USD, giảm tương ứng, cho thấy xu hướng ổn định và hạ nhiệt nhẹ của tỷ giá trong bối cảnh áp lực từ thị trường quốc tế không lớn.

Đối với USD, tỷ giá tại cả Vietcombank và BIDV đều giảm so với cuối tuần trước. Tại Vietcombank, giá mua vào USD giảm 41 đồng, trong khi giá bán ra giảm 21 đồng, xuống còn 26.054 - 26.384 VND/USD. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, với mua vào giảm 46 đồng và bán ra giảm 21 đồng.

Tỷ giá GBP ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm các đồng tiền chủ chốt. Tại Vietcombank, giá mua vào tăng 257,3 đồng, còn giá bán ra tăng 268,3 đồng. BIDV cũng điều chỉnh tăng đáng kể, với mua vào tăng 244 đồng và bán ra tăng 294 đồng, lên 34.999 - 36.036 VND/GBP. Tỷ giá EUR, CNY, biến động theo chiều tăng; ngược lại JPY tiếp tục giảm nhẹ.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt giảm tuần qua, duy trì quanh 98 điểm. Đồng USD suy yếu nhẹ, trong bối cảnh thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh do kỳ nghỉ lễ Giáng sinh. Hoạt động giao dịch trở nên trầm lắng khi giới đầu tư hạn chế mở các vị thế mới, chủ yếu cơ cấu lại danh mục vào thời điểm cuối năm, đồng thời tiếp tục theo dõi và đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm tới.

DXY hiện dao động quanh vùng thấp nhất trong nhiều tuần, phản ánh áp lực giảm giá kéo dài của đồng bạc xanh trong tháng 12, khi kỳ vọng về khả năng Fed tiến gần hơn tới chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ ngày càng rõ nét.

Theo nhóm phân tích MBS, xu hướng giảm giá của USD được dự báo sẽ tiếp tục do chịu tác động của sự phân hóa chính sách tiền tệ giữa các các nước. Sau khi đã giảm 9,3% so với đầu năm, chỉ số DXY được dự báo sẽ giảm xuống ngưỡng 95 từ giữa năm 2026. Trong khi đó phần lớn các đồng tiền chủ chốt như: yên Nhật, bảng Anh và EUR đều được kỳ vọng tăng giá. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm cả Việt Nam, cũng sẽ được hưởng lợi khi chênh lệch lãi giữa Mỹ và các nước này thu hẹp./.

Chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương lớn nghịch chiều

Nhóm phân tích MBS cho rằng, chính sách tiền tệ thế giới sẽ tiệm cận ngưỡng trung tính trong năm 2026 và dần xuất hiện sự phân hóa giữa ngân hàng trung ương các nước. Trong cuộc họp tháng 12 của Fed, biểu đồ dot-plot cho thấy định hướng vẫn rất cẩn trọng khi chỉ có thêm 2 lần hạ lãi suất nữa lần lượt trong 2026 và 2027. Câu hỏi đặt ra là liệu Fed sẽ tiếp tục giữ quan điểm này hay sẽ nhượng bộ trước yêu cầu của Tổng thống Trump và hạ lãi suất điều hành xuống 3%, hoặc thấp hơn.

"Rủi ro lớn hơn lại đến từ bước ngoặt của ngân hàng trung ương Nhật Bản: nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào ngày 19/12, đưa mức lãi suất lên 0,75% - cao nhất trong ba thập kỷ và nhiều khả năng tiếp tục tăng thêm 25 điểm trong năm 2026. Động thái này báo hiệu thời kỳ dòng vốn giá rẻ từng chảy mạnh vào châu Á, bao gồm Việt Nam, đang dần khép lại" - MBS dự báo.

Khi chi phí vốn toàn cầu đảo chiều, áp lực lên mặt bằng lãi suất và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ trở nên rõ rệt hơn trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngân hàng