Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/12:

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/12 cho thấy, sau 1 tuần hạ nhiệt, lãi suất liên ngân hàng lại leo thang, áp lực thanh khoản rõ nét trong cao điểm vốn cuối năm. Lãi suất qua đêm 5,47%, kỳ hạn 2 tuần vọt lên mức cao kỷ lục 8,72%, dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng và linh hoạt công cụ điều hành. Trong khi đó, áp lực tỷ giá USD trên kênh chính thức lắng dịu.
aa
Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026 Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

“Khát vốn” cuối năm, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục tăng mạnh

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn trong bối cảnh cao điểm nhu cầu vốn cuối năm.

Cụ thể, lãi suất qua đêm ngày 25/12 ở mức 5,47%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, song vẫn ở vùng cao. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần đạt 5,87%, tăng 0,07 điểm phần trăm. Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần tăng vọt lên 8,72%, cao nhất trong các kỳ hạn, tăng 2,16% cùng doanh số cho vay tăng, cho thấy căng thẳng thanh khoản. Ở nhóm kỳ hạn dài hơn, lãi suất 1 tháng ở mức 8,38%, tăng 1,02% điểm phần trăm; 3 tháng ở 7,82%, tăng 0,31 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn của các ngân hàng tăng cao vào thời điểm cuối năm vẫn chưa hạ nhiệt, trong khi thanh khoản dù được hỗ trợ qua kênh thị trường mở vẫn chưa hoàn toàn dư dả.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Nguồn: MBS.

Tín dụng bứt tăng 17,65%

Theo MBS, từ đầu năm 2025, tín dụng tăng tốc mạnh mẽ, liên tục thiết lập mức cao mới và đạt hơn 18,37 triệu tỷ đồng tính đến ngày 22/12, tương đương tăng 17,65% so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay được giữ ở vùng thấp để hỗ trợ nền kinh tế, tăng trưởng huy động lại chậm hơn đáng kể, tạo áp lực lên thanh khoản và buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào cuối năm.

Trong báo cáo triển vọng Việt Nam 2026 do Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) mới công bố, nhóm phân tích cho rằng, dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm vốn qua thị trường mở (OMO), thị trường liên ngân hàng vẫn chịu sức ép lớn khi nhu cầu vốn tăng mạnh, kéo lãi suất liên ngân hàng liên tục lên mức đỉnh mới.

Cũng theo chuyên gia Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tình trạng thiếu hụt thanh khoản trong thời gian qua đã hạ nhiệt bớt khi Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND nhằm bơm thanh khoản vào hệ thống và "big 4" cũng tăng lãi suất huy động để bổ sung thanh khoản.

"Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thanh khoản hệ thống có thể được cải thiện trong ngắn hạn nhưng áp lực vẫn cao khi nhu cầu vốn gia tăng cuối năm. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tiếp tục bơm ròng nhẹ và sử dụng công cụ hoán đổi USD-VND để hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh dư địa từ kênh OMO không còn nhiều" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tuần qua từ ngày 22 - 26/11, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ bơm hút vốn trên kênh OMO. Theo đó, ở đầu tuần, nhà điều hành duy trì quy mô bơm vốn lớn, với khối lượng phát hành OMO lần lượt đạt khoảng 19.298 tỷ đồng và 19.159 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong cao điểm nhu cầu vốn cuối năm. Cuối tuần, quy mô phát hành OMO giảm mạnh, chỉ còn 1.083 tỷ đồng và 1.948 tỷ đồng.

Theo đó, tuần qua, có 65.104,78 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 58.975,53 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, tiếp tục đưa lượng vốn OMO lưu hành lên mức cao 381.651,32 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.129,25 tỷ đồng trong tuần.

USD lùi bước, nhiều ngoại tệ chủ chốt bật tăng

Về thị trường ngoại hối, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 20 đồng so với cuối tuần trước, phản ánh định hướng điều hành ổn định và dư địa kiểm soát tốt cung - cầu ngoại tệ trong hệ thống.

Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%. Ảnh minh hoạ.

Theo đó, ngày 26/12, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn mà các ngân hàng thương mại được phép áp dụng lần lượt là 26.384 VND/USD và 23.871,6 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết trong khoảng 23.922 - 26.334 VND/USD, giảm tương ứng, cho thấy xu hướng ổn định và hạ nhiệt nhẹ của tỷ giá trong bối cảnh áp lực từ thị trường quốc tế không lớn.

Đối với USD, tỷ giá tại cả Vietcombank và BIDV đều giảm so với cuối tuần trước. Tại Vietcombank, giá mua vào USD giảm 41 đồng, trong khi giá bán ra giảm 21 đồng, xuống còn 26.054 - 26.384 VND/USD. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, với mua vào giảm 46 đồng và bán ra giảm 21 đồng.

Tỷ giá GBP ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm các đồng tiền chủ chốt. Tại Vietcombank, giá mua vào tăng 257,3 đồng, còn giá bán ra tăng 268,3 đồng. BIDV cũng điều chỉnh tăng đáng kể, với mua vào tăng 244 đồng và bán ra tăng 294 đồng, lên 34.999 - 36.036 VND/GBP. Tỷ giá EUR, CNY, biến động theo chiều tăng; ngược lại JPY tiếp tục giảm nhẹ.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt giảm tuần qua, duy trì quanh 98 điểm. Đồng USD suy yếu nhẹ, trong bối cảnh thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh do kỳ nghỉ lễ Giáng sinh. Hoạt động giao dịch trở nên trầm lắng khi giới đầu tư hạn chế mở các vị thế mới, chủ yếu cơ cấu lại danh mục vào thời điểm cuối năm, đồng thời tiếp tục theo dõi và đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm tới.

DXY hiện dao động quanh vùng thấp nhất trong nhiều tuần, phản ánh áp lực giảm giá kéo dài của đồng bạc xanh trong tháng 12, khi kỳ vọng về khả năng Fed tiến gần hơn tới chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ ngày càng rõ nét.

Theo nhóm phân tích MBS, xu hướng giảm giá của USD được dự báo sẽ tiếp tục do chịu tác động của sự phân hóa chính sách tiền tệ giữa các các nước. Sau khi đã giảm 9,3% so với đầu năm, chỉ số DXY được dự báo sẽ giảm xuống ngưỡng 95 từ giữa năm 2026. Trong khi đó phần lớn các đồng tiền chủ chốt như: yên Nhật, bảng Anh và EUR đều được kỳ vọng tăng giá. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm cả Việt Nam, cũng sẽ được hưởng lợi khi chênh lệch lãi giữa Mỹ và các nước này thu hẹp./.

Chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương lớn nghịch chiều

Nhóm phân tích MBS cho rằng, chính sách tiền tệ thế giới sẽ tiệm cận ngưỡng trung tính trong năm 2026 và dần xuất hiện sự phân hóa giữa ngân hàng trung ương các nước. Trong cuộc họp tháng 12 của Fed, biểu đồ dot-plot cho thấy định hướng vẫn rất cẩn trọng khi chỉ có thêm 2 lần hạ lãi suất nữa lần lượt trong 2026 và 2027. Câu hỏi đặt ra là liệu Fed sẽ tiếp tục giữ quan điểm này hay sẽ nhượng bộ trước yêu cầu của Tổng thống Trump và hạ lãi suất điều hành xuống 3%, hoặc thấp hơn.

"Rủi ro lớn hơn lại đến từ bước ngoặt của ngân hàng trung ương Nhật Bản: nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào ngày 19/12, đưa mức lãi suất lên 0,75% - cao nhất trong ba thập kỷ và nhiều khả năng tiếp tục tăng thêm 25 điểm trong năm 2026. Động thái này báo hiệu thời kỳ dòng vốn giá rẻ từng chảy mạnh vào châu Á, bao gồm Việt Nam, đang dần khép lại" - MBS dự báo.

Khi chi phí vốn toàn cầu đảo chiều, áp lực lên mặt bằng lãi suất và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ trở nên rõ rệt hơn trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng 16/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.637 đồng, USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY nhích 0,05% lên 102,03 điểm sau phiên giảm trước đó. Dữ liệu CPI và PPI Mỹ cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm tín hiệu về chính sách lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (15/10): USD giảm nhẹ dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, Fed đứng trước áp lực tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (15/10): USD giảm nhẹ dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, Fed đứng trước áp lực tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 15/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.642 đồng, USD ngân hàng cũng giảm nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,49% xuống 102,05 điểm, sau phiên tăng nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ. CPI tháng 9 tăng 3,7%, vượt dự báo, khiến xác suất Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm trong tháng 10 tăng vọt lên 53%.
Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 14/10, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng lên 25.646 đồng, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng giảm. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 102,18 điểm. Thị trường chờ dữ liệu lạm phát Mỹ, khi một số nhà phân tích nhận định CPI lõi tăng 0,4% trong tháng 9 có thể khiến Fed đẩy sớm quyết định tăng lãi suất lên tháng 10.
Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 12/10, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.621 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,1% xuống 102,1 điểm nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 102 điểm, gây sức ép lên nhiều đồng tiền chủ chốt. Thị trường ngoại hối hướng sự chú ý đến dữ liệu lạm phát Mỹ tuần này để đánh giá triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 10/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 đồng, giảm 7 đồng so với cuối tuần trước; tỷ giá USD tại ngân hàng giảm mạnh, trái chiều với mức tăng 220 đồng trên thị trường tự do. Chỉ số DXY chốt tuần ở 102,22 điểm, tăng 0,28%, cao nhất kể từ đầu tháng 4/2025. Thị trường đang chờ báo cáo lạm phát của Mỹ tuần tới.
Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 9/10, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.629 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng giảm mạnh tới 80 đồng, còn chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 102,11 điểm. Thống đốc Fed Christopher Waller để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất trong tháng 10, dù vẫn cho rằng có thể cần tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30