Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất định, năm 2025 Việt Nam ghi nhận không ít kỷ lục tăng trưởng, song thị trường tiền tệ vẫn đối mặt nhiều “gió ngược”. Theo đại diện HSBC, cuối năm, mặt bằng lãi suất VND chứng kiến áp lực tăng cao và nhanh, trong khi tỷ giá USD trải qua một năm đầy biến động. Điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước giúp thị trường dần ổn định, tạo nền tảng cân bằng năm 2026.
aa

Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Ngân hàng UOB nhận diện ẩn số tác động đến tăng trưởng GDP, tỷ giá năm 2026

Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đưa Việt Nam tăng trưởng GDP trên 10% giai đoạn 2026 - 2030

Giữa bất định toàn cầu, nhiều chỉ tiêu lập kỷ lục

Năm 2025 đang dần khép lại, ghi dấu một giai đoạn Việt Nam hoàn thành phần lớn các mục tiêu kinh tế vĩ mô đề ra, từ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát đến nhiều chỉ tiêu quan trọng khác.

Trở lại thời điểm tháng Tư năm 2025, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố các mức thuế quan gây chấn động toàn cầu, triển vọng kinh tế cả năm từng bị phủ bóng bất định. Tuy nhiên, với quyết tâm cao và những quyết sách quyết liệt, Việt Nam đang tiến gần tới một năm tăng trưởng cao và tạo đà cho năm 2026 tăng trưởng kỷ lục hai chữ số.

Tất cả những biến động đó tạo tiền đề lạc quan cho năm sau, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều trăn trở cho năm 2026, liệu Việt Nam có thể tìm được điểm cân bằng mới giữa những biến động từ nhiều phía?

Nhìn lại hành trình năm 2025 và nhận định sơ bộ về triển vọng năm 2026, ông Vũ Bình Minh - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán (Ngân hàng HSBC Việt Nam) cho rằng, các dữ liệu kinh tế vĩ mô đã cho thấy đà tăng trưởng GDP đầy ấn tượng trong quý II và quý III, với quý sau cao hơn quý trước.

Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026

Đàm phán chưa ngã ngũ, xuất khẩu Việt Nam vẫn tăng ấn tượng

"Ngay cả khi kết quả của các vòng đàm phán còn chưa ngã ngũ, một thực tế là tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn đã và đang cho thấy những con số ấn tượng, trong bối cảnh các nhà xuất khẩu đẩy mạnh vận chuyển hàng hoá trước khi thuế quan có hiệu lực và tác động vẫn chưa hoàn toàn suy giảm ngay cả tới những tháng gần đây".

Ông Vũ Bình Minh - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán (Ngân hàng HSBC).

Bất chấp môi trường thương mại có nhiều thay đổi khó lường, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III vẫn tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Không những thế, tăng trưởng còn diễn ra ở diện rộng.

Với bức tranh thương mại, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục bùng nổ với cả xuất khẩu và nhập khẩu đều đạt mức tăng trưởng gần 20% so với cùng kỳ.

Thêm vào đó, thặng dư thương mại mà Việt Nam duy trì được, đã tăng hơn gấp đôi lên 3 tỷ USD trong quý III, so với nửa đầu năm 2025, đưa cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu lên 20,53 tỷ USD tính chung 11 tháng đầu năm.

Bức tranh vốn FDI vào Việt Nam cũng rất tươi sáng, vốn được hưởng lợi rất nhiều từ sự bùng nổ xuất khẩu do FDI thúc đẩy. Mặc dù số vốn đăng ký mới giảm khoảng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng vốn đăng ký điều chỉnh và vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần tăng lần lượt 17% và 50,7%, đưa tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 33,69 tỷ USD, là mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Tương tự, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 11 tháng 2025 cũng đạt mức cao nhất cùng kỳ trong 5 năm qua, ước đạt 23,6 tỷ USD, tăng 8,9%.

"Điều thú vị là, cơ cấu FDI cho thấy một bức tranh về sự thay đổi cơ cấu nhà đầu tư, khi FDI từ Trung Quốc và Mỹ tăng đáng kể góp phần bù đắp cho sự sụt giảm từ các nhóm quốc gia khác" - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Ngân hàng HSBC nhìn nhận.

Mặc dù các diễn biến của năm 2026 là rất khó dự đoán tại thời điểm này, nhưng theo đại diện HSBC, các chỉ số như PMI (Chỉ số Quản trị mua hàng) cũng góp phần hé lộ một số triển vọng đáng khích lệ.

Chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 6 - 7% GDP, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Đây đã và đang là động lực quan trọng hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế. Khi những bất ổn bên ngoài gia tăng với rủi ro thương mại toàn cầu luôn hiện diện, việc tiếp tục tập trung đẩy mạnh đầu tư công sẽ là một trụ cột quan trọng đẩy mạnh tăng trưởng.

Về triển vọng thương mại, đa dạng hóa thương mại đã trở thành một chiến lược quan trọng trong bối cảnh bất ổn về thuế quan từ Mỹ. Mặc dù Mỹ vẫn duy trì là điểm đến xuất khẩu hàng đầu, Việt Nam đang đẩy nhanh nỗ lực theo đuổi các cơ hội thương mại dài hạn.

Giữ thế ổn định thị trường tiền tệ trước nhiều "gió ngược"

Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh không chỉ có riêng màu hồng. Theo đại diện HSBC, thị trường tài chính - tiền tệ năm 2025 đã trải qua 12 tháng đầy biến động, với rất nhiều cơn gió ngược.

Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026
Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026. Ảnh minh hoạ.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã được duy trì ổn định trong phần lớn thời gian của nửa đầu năm nay, tuy nhiên, tiến gần tới những tháng cuối năm, mặt bằng lãi suất VND đã chứng kiến áp lực tăng cao và nhanh, tiệm cận mức cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây.

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng mạnh theo chu kỳ mùa vụ, điều đó cũng được phản ánh rõ qua chênh lệch giữa tăng trưởng dư nợ tín dụng và huy động vốn lần lượt ở mức tăng 16,15% và 12%, so với đầu năm tính đến ngày 21/11.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã nâng lãi suất OMO lên mức 4,5%/năm từ mức 4%/năm vốn được duy trì xuyên suốt từ tháng 9/2024.

"Tựu chung lại, đứng trước những yếu tố co - kéo, Ngân hàng Nhà nước được dự báo sẽ tiếp tục giữ ổn định mức lãi suất điều hành" - ông Minh nhận định.

Về tỷ giá, cặp tỷ giá USD/VND cũng trải qua một năm 2025 đầy biến động. Trong 1 năm, chỉ số USD giảm hơn 9% và trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (Fed) quay trở lại chu kỳ cắt giảm lãi suất điều hành, VND đã mất giá khoảng 3,5% so với USD tính chung từ đầu năm. Điều này đặt ra rất nhiều thách thức cho cả nhà đầu tư, những thành viên tham gia thị trường cũng như cơ quan điều hành.

Cặp tỷ giá USD/VND tăng trong phần lớn năm 2025, nhưng đã ổn định hơn kể từ tháng 9, nhờ chính sách điều hành ngoại hối chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước.

"Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, cần tiếp tục chủ động trong hoạt động phòng vệ rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất nhằm đảm bảo kết quả kinh doanh không bị ảnh hưởng" - đại diện HSBC khuyến nghị.

Tuy nhiên, chính sách điều hành tiền tệ chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho thị trường vận động trong biên độ ổn định./.

Tỷ giá USD bớt "sóng gió" sau 2 năm biến động

Theo đại diện HSBC, nhìn sang 2026, nhu cầu ngoại hối mang tính cơ cấu vẫn sẽ hiện diện, tuy nhiên, mức độ tăng của tỷ giá USD/VND dự kiến sẽ nhỏ hơn so với 2 năm gần đây, trong bối cảnh khác biệt về chính sách điều hành dần thu hẹp khi Fed gần như loại bỏ khả năng tăng lãi suất điều hành vào năm sau, cộng thêm giai đoạn bất ổn về thuế quan đã qua./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80