Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất định, năm 2025 Việt Nam ghi nhận không ít kỷ lục tăng trưởng, song thị trường tiền tệ vẫn đối mặt nhiều “gió ngược”. Theo đại diện HSBC, cuối năm, mặt bằng lãi suất VND chứng kiến áp lực tăng cao và nhanh, trong khi tỷ giá USD trải qua một năm đầy biến động. Điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước giúp thị trường dần ổn định, tạo nền tảng cân bằng năm 2026.
aa

Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Ngân hàng UOB nhận diện ẩn số tác động đến tăng trưởng GDP, tỷ giá năm 2026

Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đưa Việt Nam tăng trưởng GDP trên 10% giai đoạn 2026 - 2030

Giữa bất định toàn cầu, nhiều chỉ tiêu lập kỷ lục

Năm 2025 đang dần khép lại, ghi dấu một giai đoạn Việt Nam hoàn thành phần lớn các mục tiêu kinh tế vĩ mô đề ra, từ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát đến nhiều chỉ tiêu quan trọng khác.

Trở lại thời điểm tháng Tư năm 2025, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố các mức thuế quan gây chấn động toàn cầu, triển vọng kinh tế cả năm từng bị phủ bóng bất định. Tuy nhiên, với quyết tâm cao và những quyết sách quyết liệt, Việt Nam đang tiến gần tới một năm tăng trưởng cao và tạo đà cho năm 2026 tăng trưởng kỷ lục hai chữ số.

Tất cả những biến động đó tạo tiền đề lạc quan cho năm sau, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều trăn trở cho năm 2026, liệu Việt Nam có thể tìm được điểm cân bằng mới giữa những biến động từ nhiều phía?

Nhìn lại hành trình năm 2025 và nhận định sơ bộ về triển vọng năm 2026, ông Vũ Bình Minh - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán (Ngân hàng HSBC Việt Nam) cho rằng, các dữ liệu kinh tế vĩ mô đã cho thấy đà tăng trưởng GDP đầy ấn tượng trong quý II và quý III, với quý sau cao hơn quý trước.

Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026

Đàm phán chưa ngã ngũ, xuất khẩu Việt Nam vẫn tăng ấn tượng

"Ngay cả khi kết quả của các vòng đàm phán còn chưa ngã ngũ, một thực tế là tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn đã và đang cho thấy những con số ấn tượng, trong bối cảnh các nhà xuất khẩu đẩy mạnh vận chuyển hàng hoá trước khi thuế quan có hiệu lực và tác động vẫn chưa hoàn toàn suy giảm ngay cả tới những tháng gần đây".

Ông Vũ Bình Minh - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán (Ngân hàng HSBC).

Bất chấp môi trường thương mại có nhiều thay đổi khó lường, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III vẫn tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Không những thế, tăng trưởng còn diễn ra ở diện rộng.

Với bức tranh thương mại, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục bùng nổ với cả xuất khẩu và nhập khẩu đều đạt mức tăng trưởng gần 20% so với cùng kỳ.

Thêm vào đó, thặng dư thương mại mà Việt Nam duy trì được, đã tăng hơn gấp đôi lên 3 tỷ USD trong quý III, so với nửa đầu năm 2025, đưa cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu lên 20,53 tỷ USD tính chung 11 tháng đầu năm.

Bức tranh vốn FDI vào Việt Nam cũng rất tươi sáng, vốn được hưởng lợi rất nhiều từ sự bùng nổ xuất khẩu do FDI thúc đẩy. Mặc dù số vốn đăng ký mới giảm khoảng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng vốn đăng ký điều chỉnh và vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần tăng lần lượt 17% và 50,7%, đưa tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 33,69 tỷ USD, là mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Tương tự, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 11 tháng 2025 cũng đạt mức cao nhất cùng kỳ trong 5 năm qua, ước đạt 23,6 tỷ USD, tăng 8,9%.

"Điều thú vị là, cơ cấu FDI cho thấy một bức tranh về sự thay đổi cơ cấu nhà đầu tư, khi FDI từ Trung Quốc và Mỹ tăng đáng kể góp phần bù đắp cho sự sụt giảm từ các nhóm quốc gia khác" - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Ngân hàng HSBC nhìn nhận.

Mặc dù các diễn biến của năm 2026 là rất khó dự đoán tại thời điểm này, nhưng theo đại diện HSBC, các chỉ số như PMI (Chỉ số Quản trị mua hàng) cũng góp phần hé lộ một số triển vọng đáng khích lệ.

Chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 6 - 7% GDP, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Đây đã và đang là động lực quan trọng hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế. Khi những bất ổn bên ngoài gia tăng với rủi ro thương mại toàn cầu luôn hiện diện, việc tiếp tục tập trung đẩy mạnh đầu tư công sẽ là một trụ cột quan trọng đẩy mạnh tăng trưởng.

Về triển vọng thương mại, đa dạng hóa thương mại đã trở thành một chiến lược quan trọng trong bối cảnh bất ổn về thuế quan từ Mỹ. Mặc dù Mỹ vẫn duy trì là điểm đến xuất khẩu hàng đầu, Việt Nam đang đẩy nhanh nỗ lực theo đuổi các cơ hội thương mại dài hạn.

Giữ thế ổn định thị trường tiền tệ trước nhiều "gió ngược"

Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh không chỉ có riêng màu hồng. Theo đại diện HSBC, thị trường tài chính - tiền tệ năm 2025 đã trải qua 12 tháng đầy biến động, với rất nhiều cơn gió ngược.

Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026
Giữ nhịp điều hành chính sách tiền tệ, tìm thế cân bằng mới hỗ trợ tăng trưởng năm 2026. Ảnh minh hoạ.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã được duy trì ổn định trong phần lớn thời gian của nửa đầu năm nay, tuy nhiên, tiến gần tới những tháng cuối năm, mặt bằng lãi suất VND đã chứng kiến áp lực tăng cao và nhanh, tiệm cận mức cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây.

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng mạnh theo chu kỳ mùa vụ, điều đó cũng được phản ánh rõ qua chênh lệch giữa tăng trưởng dư nợ tín dụng và huy động vốn lần lượt ở mức tăng 16,15% và 12%, so với đầu năm tính đến ngày 21/11.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã nâng lãi suất OMO lên mức 4,5%/năm từ mức 4%/năm vốn được duy trì xuyên suốt từ tháng 9/2024.

"Tựu chung lại, đứng trước những yếu tố co - kéo, Ngân hàng Nhà nước được dự báo sẽ tiếp tục giữ ổn định mức lãi suất điều hành" - ông Minh nhận định.

Về tỷ giá, cặp tỷ giá USD/VND cũng trải qua một năm 2025 đầy biến động. Trong 1 năm, chỉ số USD giảm hơn 9% và trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (Fed) quay trở lại chu kỳ cắt giảm lãi suất điều hành, VND đã mất giá khoảng 3,5% so với USD tính chung từ đầu năm. Điều này đặt ra rất nhiều thách thức cho cả nhà đầu tư, những thành viên tham gia thị trường cũng như cơ quan điều hành.

Cặp tỷ giá USD/VND tăng trong phần lớn năm 2025, nhưng đã ổn định hơn kể từ tháng 9, nhờ chính sách điều hành ngoại hối chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước.

"Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, cần tiếp tục chủ động trong hoạt động phòng vệ rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất nhằm đảm bảo kết quả kinh doanh không bị ảnh hưởng" - đại diện HSBC khuyến nghị.

Tuy nhiên, chính sách điều hành tiền tệ chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho thị trường vận động trong biên độ ổn định./.

Tỷ giá USD bớt "sóng gió" sau 2 năm biến động

Theo đại diện HSBC, nhìn sang 2026, nhu cầu ngoại hối mang tính cơ cấu vẫn sẽ hiện diện, tuy nhiên, mức độ tăng của tỷ giá USD/VND dự kiến sẽ nhỏ hơn so với 2 năm gần đây, trong bối cảnh khác biệt về chính sách điều hành dần thu hẹp khi Fed gần như loại bỏ khả năng tăng lãi suất điều hành vào năm sau, cộng thêm giai đoạn bất ổn về thuế quan đã qua./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80