Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

Ánh Tuyết
Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, lãi suất và tỷ giá là hai biến số ảnh hưởng tới triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026. Theo báo cáo của Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan Việt Nam, dư địa nới lỏng tiền tệ khá hạn chế do lãi suất ở mức thấp lịch sử, trong khi áp lực tỷ giá hạ nhiệt còn 26.100 VND/USD cuối quý I/2026, VND được cho là sẽ phục hồi.
aa
Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng Ngân hàng UOB nhận diện ẩn số tác động đến tăng trưởng GDP, tỷ giá năm 2026 Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Giữa biến động toàn cầu, kinh tế Việt Nam tìm điểm tựa tăng trưởng

Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan Việt Nam (Shinhan Bank) vừa phát hành ấn phẩm “Triển vọng Kinh tế và Thị trường Ngoại hối Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026”, nhằm cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư một bức tranh tổng quan, đa chiều về những biến động cũng như các cơ hội đan xen của thị trường tài chính Việt Nam trong nửa đầu năm 2026.

Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

Shinhan Bank đánh giá, điều hành chính sách tiền tệ trong nước tiếp tục hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Ảnh minh hoạ.

Báo cáo đặt bối cảnh Việt Nam trong dòng chảy kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đặc biệt là tác động đến từ Mỹ, Trung Quốc và căng thẳng thương mại quốc tế.

Theo nhóm phân tích từ Shinhan Bank, mặc dù lạm phát lõi của Mỹ trong tháng 9/2025 đã giảm xuống còn 3% so với cùng kỳ, những lo ngại về việc các mức thuế quan mới có thể đẩy lạm phát tăng trở lại. Tuy nhiên, sự chậm lại của thị trường lao động Mỹ, bắt nguồn từ dòng nhập cư suy giảm mạnh làm thiếu hụt nguồn cung lao động, cùng với xu hướng cắt giảm nhân sự khu vực công do yếu tố chính trị, đang tạo thêm cơ sở để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) xem xét khả năng hạ lãi suất trong thời gian tới.

Triển vọng chính sách tiền tệ của Mỹ càng trở nên đáng chú ý khi đến tháng 5/2026, Chủ tịch Fed sẽ mãn nhiệm. Trong kịch bản Tổng thống Donald Trump đề cử người kế nhiệm, định hướng điều hành chính sách có khả năng ưu tiên mục tiêu việc làm và tăng trưởng kinh tế hơn là kiểm soát lạm phát.

Cùng với đó, những dịch chuyển về thương mại và đầu tư khu vực cũng ngày càng rõ nét. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc gia tăng, cùng với căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang, đang thúc đẩy các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng xuất khẩu sang Việt Nam và các nước ASEAN khác.

Trong bối cảnh đó, trên bình diện vĩ mô, các tổ chức quốc tế lớn đều dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 có thể chậm lại so với năm 2025, song vẫn duy trì ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Đơn cử, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 đạt 5,6%, thấp hơn mức 6,5% của năm 2025, con số dự báo thận trọng hơn do lo ngại tác động kéo dài từ căng thẳng Mỹ - Trung và chính sách thuế quan của Mỹ. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng lần lượt là 6,1% (năm 2026) và 6,5% (năm 2025), trong khi Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính 6% cho năm 2026 và 6,7% cho năm 2025.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ các yếu tố bên ngoài như: thuế quan, các biện pháp hạn chế thương mại và xu hướng giảm tốc của kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, tiêu dùng tư nhân và đầu tư công trong nước được kỳ vọng sẽ đóng vai trò trụ đỡ quan trọng giúp duy trì đà tăng trưởng.

Giữ trụ tỷ giá

Đánh giá về điều hành chính sách tiền tệ trong nước, theo Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục theo đuổi mục tiêu hạn chế những biến động quá mạnh của tỷ giá, hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

Kể từ nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Tổng thống Donald Trump, cơ quan điều hành tiền tệ duy trì lập trường thận trọng và cảnh giác trước nguy cơ đồng VND bị mất giá, do lo ngại khả năng Việt Nam có thể bị Mỹ tái liệt kê vào danh sách “quốc gia thao túng tiền tệ”. Trước đó, trong nhiệm kỳ đầu của ông Trump vào tháng 12/2020, Việt Nam từng bị gán nhãn này với lý do thặng dư thương mại lớn với Mỹ và các hoạt động can thiệp trên thị trường ngoại hối.

Xét trong các yếu tố khách quan về cuối năm, theo nhóm phân tích, đồng VND được cho là có thể phục hồi phần nào, dù xu hướng suy yếu vẫn được dự báo tiếp diễn, nhưng với tốc độ được điều tiết ở mức hợp lý hơn.

"Dù xu hướng giảm giá của VND được xem là phản ứng hợp lý trước biến động bên ngoài, nhưng tốc độ mất giá diễn ra quá nhanh, do đó khả năng xuất hiện giai đoạn điều chỉnh và hồi phục trong thời gian tới là khá cao" - nhóm phân tích Ngân hàng Shinhan đánh giá.

Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố áp thuế 46% đối với hàng hóa từ Việt Nam, hai bên đã có các cuộc đàm phán và đạt được thỏa thuận giảm mức thuế xuống 20%.

Tuy nhiên, chính sách bảo hộ thương mại và ưu tiên lợi ích quốc gia của Mỹ vẫn được đánh giá là yếu tố tác động đáng kể đối với đồng VND, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, tỷ trọng thương mại cao và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Dự báo tỷ giá USD của Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan lần lượt hạ nhiệt còn 26.200 VND/USD vào cuối năm 2025; 26.100 VND/USD vào cuối quý I/2026; 26.200 VND/USD vào cuối quý II/2026; 26.300 VND/USD vào cuối quý III/2026 và lên 26.400 VND/USD vào cuối năm 2026.

Với mặt bằng lãi suất đang ở gần mức thấp nhất trong lịch sử, dư địa cho nới lỏng tiền tệ được đánh giá là khá hạn chế. Do đó, Việt Nam nhiều khả năng sẽ tăng cường sử dụng chính sách tài khóa, đặc biệt là đẩy mạnh đầu tư công, nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong năm 2026.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng hiện ở khoảng 5% đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về xử lý nợ xấu, tăng vốn điều lệ và củng cố an toàn tài chính.

Song song với các giải pháp ngắn hạn, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì động lực cải cách, bao gồm hoàn thiện thể chế, nâng cao vai trò của khu vực tư nhân và thúc đẩy các ngành công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn, qua đó góp phần điều tiết tốc độ mất giá của đồng VND ở mức hợp lý và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong trung và dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (18/5): USD tự do bật tăng, DXY giữ sức mạnh khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/5): USD tự do bật tăng, DXY giữ sức mạnh khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 18/5, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.131 đồng. Trong khi USD tự do lên quanh 26.480 - 26.530 VND/USD, tăng mạnh 120 - 140 đồng hai chiều. Chỉ số DXY giao dịch quanh 99 điểm, ở mức cao trong 5 tuần gần đây, khi nhà đầu tư ngày càng lo ngại áp lực lạm phát tại Mỹ gia tăng, khiến khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Kim TT/AVPL 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▲200K 15,200 ▲200K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▲200K 15,150 ▲200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▲200K 16,200 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▲200K 16,150 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▲200K 16,130 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,490 ▲150K 16,190 ▲150K
Trang sức 99.99 15,500 ▲150K 16,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 ▲1446K 16,352 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 ▲1446K 16,353 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 160 ▲2K 163 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 160 ▲2K 1,631 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 158 ▲2K 1,615 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,401 ▲1980K 159,901 ▲1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,387 ▲1500K 121,287 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,081 ▲1360K 109,981 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,775 ▲1220K 98,675 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,414 ▲1166K 94,314 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,602 ▲834K 67,502 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Cập nhật: 21/05/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18228 18504 19076
CAD 18625 18902 19518
CHF 32846 33231 33878
CNY 0 3837 3929
EUR 30008 30282 31308
GBP 34604 34996 35931
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15132 15721
SGD 20064 20346 20871
THB 723 787 840
USD (1,2) 26101 0 0
USD (5,10,20) 26143 0 0
USD (50,100) 26171 26191 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,238 30,262 31,522
JPY 161.93 162.22 171
GBP 34,904 34,998 36,007
AUD 18,569 18,636 19,226
CAD 18,876 18,937 19,518
CHF 33,196 33,299 34,091
SGD 20,265 20,328 21,009
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,308 3,318 3,437
KRW 16.25 16.95 18.33
THB 774.91 784.48 834.53
NZD 15,178 15,319 15,681
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,046 4,165
NOK - 2,805 2,893
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,244.16 - 7,008.46
TWD 756.47 - 911.12
SAR - 6,927.21 7,254.01
KWD - 83,872 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18428 18528 19451
CAD 18814 18914 19928
CHF 33119 33149 34732
CNY 3819.5 3844.5 3980
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30206 30236 31961
GBP 34923 34973 36733
HKD 0 3355 0
JPY 162.46 162.96 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20238 20368 21094
THB 0 753 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16050000 16050000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80