Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

Ánh Tuyết
Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, lãi suất và tỷ giá là hai biến số ảnh hưởng tới triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026. Theo báo cáo của Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan Việt Nam, dư địa nới lỏng tiền tệ khá hạn chế do lãi suất ở mức thấp lịch sử, trong khi áp lực tỷ giá hạ nhiệt còn 26.100 VND/USD cuối quý I/2026, VND được cho là sẽ phục hồi.
aa
Tín dụng dự báo giữ nhịp cao năm 2026, lãi suất huy động chịu áp lực tăng Ngân hàng UOB nhận diện ẩn số tác động đến tăng trưởng GDP, tỷ giá năm 2026 Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Giữa biến động toàn cầu, kinh tế Việt Nam tìm điểm tựa tăng trưởng

Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan Việt Nam (Shinhan Bank) vừa phát hành ấn phẩm “Triển vọng Kinh tế và Thị trường Ngoại hối Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026”, nhằm cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư một bức tranh tổng quan, đa chiều về những biến động cũng như các cơ hội đan xen của thị trường tài chính Việt Nam trong nửa đầu năm 2026.

Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

Shinhan Bank đánh giá, điều hành chính sách tiền tệ trong nước tiếp tục hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Ảnh minh hoạ.

Báo cáo đặt bối cảnh Việt Nam trong dòng chảy kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đặc biệt là tác động đến từ Mỹ, Trung Quốc và căng thẳng thương mại quốc tế.

Theo nhóm phân tích từ Shinhan Bank, mặc dù lạm phát lõi của Mỹ trong tháng 9/2025 đã giảm xuống còn 3% so với cùng kỳ, những lo ngại về việc các mức thuế quan mới có thể đẩy lạm phát tăng trở lại. Tuy nhiên, sự chậm lại của thị trường lao động Mỹ, bắt nguồn từ dòng nhập cư suy giảm mạnh làm thiếu hụt nguồn cung lao động, cùng với xu hướng cắt giảm nhân sự khu vực công do yếu tố chính trị, đang tạo thêm cơ sở để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) xem xét khả năng hạ lãi suất trong thời gian tới.

Triển vọng chính sách tiền tệ của Mỹ càng trở nên đáng chú ý khi đến tháng 5/2026, Chủ tịch Fed sẽ mãn nhiệm. Trong kịch bản Tổng thống Donald Trump đề cử người kế nhiệm, định hướng điều hành chính sách có khả năng ưu tiên mục tiêu việc làm và tăng trưởng kinh tế hơn là kiểm soát lạm phát.

Cùng với đó, những dịch chuyển về thương mại và đầu tư khu vực cũng ngày càng rõ nét. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc gia tăng, cùng với căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang, đang thúc đẩy các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng xuất khẩu sang Việt Nam và các nước ASEAN khác.

Trong bối cảnh đó, trên bình diện vĩ mô, các tổ chức quốc tế lớn đều dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 có thể chậm lại so với năm 2025, song vẫn duy trì ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Đơn cử, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 đạt 5,6%, thấp hơn mức 6,5% của năm 2025, con số dự báo thận trọng hơn do lo ngại tác động kéo dài từ căng thẳng Mỹ - Trung và chính sách thuế quan của Mỹ. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng lần lượt là 6,1% (năm 2026) và 6,5% (năm 2025), trong khi Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính 6% cho năm 2026 và 6,7% cho năm 2025.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ các yếu tố bên ngoài như: thuế quan, các biện pháp hạn chế thương mại và xu hướng giảm tốc của kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, tiêu dùng tư nhân và đầu tư công trong nước được kỳ vọng sẽ đóng vai trò trụ đỡ quan trọng giúp duy trì đà tăng trưởng.

Giữ trụ tỷ giá

Đánh giá về điều hành chính sách tiền tệ trong nước, theo Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục theo đuổi mục tiêu hạn chế những biến động quá mạnh của tỷ giá, hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Shinhan Bank dự báo dư địa nới lỏng tiền tệ hạn chế, VND kỳ vọng hồi phục đầu năm 2026

Kể từ nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Tổng thống Donald Trump, cơ quan điều hành tiền tệ duy trì lập trường thận trọng và cảnh giác trước nguy cơ đồng VND bị mất giá, do lo ngại khả năng Việt Nam có thể bị Mỹ tái liệt kê vào danh sách “quốc gia thao túng tiền tệ”. Trước đó, trong nhiệm kỳ đầu của ông Trump vào tháng 12/2020, Việt Nam từng bị gán nhãn này với lý do thặng dư thương mại lớn với Mỹ và các hoạt động can thiệp trên thị trường ngoại hối.

Xét trong các yếu tố khách quan về cuối năm, theo nhóm phân tích, đồng VND được cho là có thể phục hồi phần nào, dù xu hướng suy yếu vẫn được dự báo tiếp diễn, nhưng với tốc độ được điều tiết ở mức hợp lý hơn.

"Dù xu hướng giảm giá của VND được xem là phản ứng hợp lý trước biến động bên ngoài, nhưng tốc độ mất giá diễn ra quá nhanh, do đó khả năng xuất hiện giai đoạn điều chỉnh và hồi phục trong thời gian tới là khá cao" - nhóm phân tích Ngân hàng Shinhan đánh giá.

Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố áp thuế 46% đối với hàng hóa từ Việt Nam, hai bên đã có các cuộc đàm phán và đạt được thỏa thuận giảm mức thuế xuống 20%.

Tuy nhiên, chính sách bảo hộ thương mại và ưu tiên lợi ích quốc gia của Mỹ vẫn được đánh giá là yếu tố tác động đáng kể đối với đồng VND, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, tỷ trọng thương mại cao và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Dự báo tỷ giá USD của Trung tâm Giao dịch Toàn cầu - Ngân hàng Shinhan lần lượt hạ nhiệt còn 26.200 VND/USD vào cuối năm 2025; 26.100 VND/USD vào cuối quý I/2026; 26.200 VND/USD vào cuối quý II/2026; 26.300 VND/USD vào cuối quý III/2026 và lên 26.400 VND/USD vào cuối năm 2026.

Với mặt bằng lãi suất đang ở gần mức thấp nhất trong lịch sử, dư địa cho nới lỏng tiền tệ được đánh giá là khá hạn chế. Do đó, Việt Nam nhiều khả năng sẽ tăng cường sử dụng chính sách tài khóa, đặc biệt là đẩy mạnh đầu tư công, nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong năm 2026.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng hiện ở khoảng 5% đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về xử lý nợ xấu, tăng vốn điều lệ và củng cố an toàn tài chính.

Song song với các giải pháp ngắn hạn, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì động lực cải cách, bao gồm hoàn thiện thể chế, nâng cao vai trò của khu vực tư nhân và thúc đẩy các ngành công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn, qua đó góp phần điều tiết tốc độ mất giá của đồng VND ở mức hợp lý và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong trung và dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (6/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, ngân hàng OCBC vẫn dự báo USD tăng 2 - 3%

Tỷ giá USD hôm nay (6/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, ngân hàng OCBC vẫn dự báo USD tăng 2 - 3%

(TBTCO) - Sáng 6/7, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.202 đồng, trong khi tỷ giá USD tự do dao động hẹp quanh 26.520 - 26.560 VND/USD. Chỉ số DXY tăng nhẹ lên 100,92 điểm, nhưng USD vẫn ở gần mức thấp nhất hai tuần do kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất suy giảm. Dù vậy, ngân hàng OCBC (Singapore) vẫn dự báo đồng USD có thể tăng 2 - 3% nửa cuối năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 3/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.203 đồng. Cùng xu hướng, trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,05% còn 100,8 điểm, mất mốc 101 khi dữ liệu việc làm tại Mỹ kém tích cực, qua đó, làm giảm áp lực để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,600 14,900
Kim TT/AVPL 14,450 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,450 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 148,500
Hà Nội - PNJ 145,000 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,000 148,500
Miền Tây - PNJ 145,000 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,000 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,600 14,900
Miếng SJC Nghệ An 14,600 14,900
Miếng SJC Thái Bình 14,600 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,850
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,040 14,740
Trang sức 99.99 14,050 14,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 146 14,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 146 14,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,457 1,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,432 1,467
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,248 145,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,386 110,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,116 99,916
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,846 89,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,885 85,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,153 6,133
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 149
Cập nhật: 10/07/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17687 17961 18540
CAD 18014 18289 18905
CHF 31894 32275 32928
CNY 0 3828 3921
EUR 29399 29620 30701
GBP 34410 34802 35735
HKD 0 3224 3427
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14761 15346
SGD 19785 20066 20636
THB 701 764 817
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26471
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,471
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,548 29,572 30,956
JPY 157.53 157.81 167.22
GBP 34,646 34,740 35,909
AUD 17,902 17,967 18,628
CAD 18,193 18,251 18,908
CHF 32,196 32,296 33,229
SGD 19,923 19,985 20,748
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 16.03 16.72 18.17
THB 749.96 759.22 812.4
NZD 14,753 14,890 15,318
SEK - 2,672 2,764
DKK - 3,952 4,089
NOK - 2,646 2,737
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,030.46 - 6,803.75
TWD 737.66 - 892.87
SAR - 6,885.26 7,246.01
KWD - 83,171 88,419
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,471
EUR 29,492 29,610 30,802
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,021 32,150 33,083
JPY 157.84 158.47 166.37
AUD 17,888 17,960 18,554
SGD 19,990 20,070 20,658
THB 766 769 805
CAD 18,238 18,311 18,884
NZD 14,814 15,355
KRW 16.76 18.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26065 26065 26471
AUD 17887 17987 18910
CAD 18192 18292 19303
CHF 32173 32203 33786
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29597 29627 31352
GBP 34755 34805 36565
HKD 0 3355 0
JPY 158.35 158.85 169.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14877 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19954 20084 20806
THB 0 731.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,126 26,176 26,471
USD20 26,126 26,176 26,471
USD1 26,126 26,176 26,471
AUD 17,944 18,044 19,149
EUR 29,419 29,519 31,178
CAD 18,161 18,261 19,568
SGD 20,047 20,197 20,755
JPY 158.96 160.46 166
GBP 34,663 34,813 35,875
XAU 14,548,000 0 14,902,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/07/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80