Lãi suất huy động dự báo tăng nhiệt, NIM cố "gồng" trước độ trễ của lãi vay

Ánh Tuyết
Chứng khoán ABS dự báo, năm 2026 mặt bằng lãi suất huy động có thể tăng thêm 40 - 60 điểm cơ bản do áp lực tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao. NIM tiếp tục chịu sức ép khi chi phí vốn tăng, nhưng lãi suất cho vay chưa tăng theo kịp, song được kỳ vọng dần ổn định trong nửa đầu năm 2026, qua đó hỗ trợ lợi nhuận toàn ngành ngân hàng tăng khoảng 15 - 20%.
aa
Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới
“Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt

LDR lên đỉnh nhiều năm, áp lực lãi suất huy động gia tăng

Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình (ABS) vừa công bố báo cáo chiến lược năm 2026 với chủ đề “Vươn tầm khát vọng”, trong đó đánh giá về tiềm năng tăng trưởng ngành ngân hàng năm tới.

Báo cáo của ABS cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2025, tăng trưởng huy động vốn của nền kinh tế đạt mức 9,8%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 4,9% cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng tín dụng 13,8%. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên huy động thuần (LDR thuần) của toàn ngành ngân hàng theo đó tăng lên mức 111%, cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Lãi suất huy động dự báo tăng nhiệt, NIM cố
Nguồn: Chứng khoán ABS.

Nếu xét riêng nhóm ngân hàng đang niêm yết, tăng trưởng huy động vốn đạt 11,4% tính từ đầu năm, chênh lệch so với tăng trưởng tín dụng ở mức âm 3,1%. Trong cơ cấu huy động, tăng trưởng từ chứng chỉ tiền gửi đạt 21,7%, chiếm 11,3% tổng nguồn vốn huy động, tăng so với mức 10,3% vào cuối năm 2024.

"Huy động từ tiền gửi khách hàng chỉ tăng 10,1%, trong bối cảnh dòng tiền đi tìm kiếm các kênh đầu tư có lợi suất cao hơn như vàng, bất động sản và chứng khoán. Tăng huy động chứng chỉ tiền gửi, thường có kỳ hạn dài, là cần thiết khi tín dụng trung - dài hạn tăng mạnh, nhưng cũng khiến chi phí vốn của ngân hàng tăng cao, tác động tiêu cực đến NIM (biên lãi ròng) của ngân hàng" - Chứng khoán ABS đánh giá.

Cũng theo Chứng khoán ABS, thanh khoản hệ thống ngân hàng trở nên căng thẳng hơn trong những tháng cuối năm, khi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh và nhu cầu tín dụng gia tăng, gây áp lực lớn đối với các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn liên ngân hàng.

Trước áp lực này, đến đầu tháng 11, nhiều ngân hàng đã bắt đầu điều chỉnh tăng lãi suất huy động nhằm cân đối nguồn vốn trong giai đoạn cao điểm tín dụng.

"Sang năm 2026, chúng tôi dự báo huy động tăng 40 - 60 điểm cơ bản so với năm 2025 do áp lực tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao" - nhóm phân tích của bChứng khoán ABS nhìn nhận.

Lãi suất cho vay tăng trễ, NIM chịu áp lực

Cũng theo Chứng khoán ABS, trong quý III/2025, NIM toàn ngành giảm 8 điểm cơ bản so với quý II và giảm 34 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm 2024, xuống mức 3,05%. Đây là quý thứ 5 liên tiếp NIM suy giảm, do các ngân hàng tiếp tục triển khai nhiều gói và chính sách cho vay ưu đãi nhằm hỗ trợ khách hàng, trong khi lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại sau khi tạo đáy vào quý II/2024.

Lãi suất huy động dự báo tăng nhiệt, NIM cố
Chứng khoán ABS.

"Chúng tôi cho rằng, NIM có thể tiếp tục chịu áp lực trong quý IV/2025 khi chi phí vốn tăng nhưng lãi suất cho vay chưa tăng theo kịp (lãi suất cho vay có độ trễ tái định giá 3 - 6 tháng sau khi tăng lãi suất huy động), nhưng sẽ dần ổn định trong nửa đầu năm 2026 và hồi phục nhẹ trong nửa cuối 2026" - nhóm phân tích của Chứng khoán ABS dự báo.

Một số yếu tố hỗ trợ NIM được chỉ ra là: các gói và chính sách hỗ trợ lãi suất sẽ được thu hẹp khi nền kinh tế phục hồi, trong đó, gần đây, một số ngân hàng đã dừng triển khai các gói vay mua nhà ưu đãi.

Bên cạnh đó là sự phục hồi của phân khúc bán lẻ, bao gồm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn có lợi suất cho vay cao hơn.

Mức độ cải thiện của NIM trên thực tế sẽ phụ thuộc đáng kể vào chiến lược kinh doanh và cơ cấu tài sản của từng ngân hàng. Những ngân hàng có lợi thế về tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn CASA, quản lý vốn hiệu quả và tập trung vào các phân khúc cho vay có lợi suất cao được kỳ vọng sẽ duy trì biên lãi vượt trội so với phần còn lại của hệ thống.

Với triển vọng tăng trưởng tín dụng bền vững, NIM cải thiện nhẹ, chất lượng tài sản dần ổn định và các kế hoạch tăng vốn hướng tới tuân thủ chuẩn mực an toàn vốn Basel III, Chứng khoán ABS cho rằng, ngành ngân hàng được đánh giá xứng đáng với mức định giá cao hơn trong trung và dài hạn, với một số cổ phiếu được khuyến nghị như: Techcombank (mã Ck: TCB); VPBank (mã Ck: VPB); BIDV (mã Ck: BID).

Chứng khoán ABS dự báo, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng đạt khoảng 15 - 20% so với năm 2025, với động lực cải thiện đến từ cả thu nhập tín dụng và thu nhập ngoài lãi. Tuy nhiên, xu hướng phân hóa về tăng trưởng lợi nhuận giữa các ngân hàng được dự báo sẽ tiếp diễn. Những ngân hàng cải thiện được NIM, duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức trung bình ngành và kiểm soát tốt chất lượng tài sản sẽ có triển vọng lợi nhuận tích cực hơn trong năm 2026.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80