Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Biên lãi ròng (NIM) ngành ngân hàng có khả năng đã chạm đáy vào cuối quý III/2025, nhưng triển vọng phục hồi vẫn chưa rõ nét. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) không còn rẻ, trong khi thanh khoản chịu sức ép khi tín dụng tiếp tục tăng mạnh vào cuối năm. Trước bối cảnh đó, các ngân hàng chủ động đưa ra nhiều biện pháp ứng phó.
aa

NIM ngành ngân hàng nhiều khả năng đã chạm đáy

Chia sẻ tại buổi cập nhật kết quả kinh doanh mới đây, ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng ACB cho biết, cuối quý III/2025, NIM của ACB đạt 3,12%. "Việc giảm NIM là xu thế chung của thị trường" - lãnh đạo ACB nhấn mạnh.

Gần đây, áp lực thanh khoản tăng cao làm lãi suất huy động nhích nhẹ, khiến chi phí vốn của ACB tăng 13 điểm cơ bản, lên 3,4%. Ở chiều ngược lại, ACB tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn và duy trì vị thế thị phần tín dụng, khiến lợi suất tài sản sinh lãi giảm nhẹ 2 điểm, còn 6,52%, qua đó tác động thêm lên NIM. Cùng với đó, năm nay, tăng trưởng tín dụng có nhiều chuyển biến khi tín dụng khách hàng cá nhân tăng 11%, trong khi khách hàng doanh nghiệp tăng 20%, biên sinh lời mảng doanh nghiệp nhỏ hơn và hẹp hơn, nên NIM cũng chịu ảnh hưởng.

Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM
Nguồn: Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC). Đồ hoạ: Phương Anh

Với Techcombank, theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, nhờ quản lý chi phí vốn tương đối tốt, NIM trượt 12 tháng của Techcombank đạt 3,8%.

Đại diện Techcombank đánh giá, NIM đã chạm đáy vào nửa đầu năm 2025 và bắt đầu có tín hiệu cải thiện, song kết quả có thể chưa đến ngay lập tức. Do đó, dự báo NIM quý IV/2025 nhiều khả năng vẫn ở mức khoảng 3,8%.

Tối ưu chi phí vốn và cơ cấu tín dụng để cải thiện NIM

"Dự báo, 3 tháng cuối năm, áp lực lên NIM của ACB cũng như các tổ chức tín dụng khác vẫn hiện hữu. ACB đang đẩy mạnh các biện pháp nhằm hạn chế đà giảm của NIM, gồm tăng cường huy động, trong đó có tăng CASA. Đồng thời, với tín dụng, ACB ưu tiên lĩnh vực có biên sinh lời cao như cho vay trung và dài hạn, nhằm giảm đà suy giảm NIM trong 3 tháng cuối năm".

Ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB

Về xu hướng năm 2026, đại diện Techcombank nhận định, việc cải thiện NIM vẫn là thách thức không nhỏ đối với toàn thị trường. Áp lực từ phía huy động vẫn lớn, khi sự khan hiếm nguồn vốn huy động từ khách hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Từ quý IV/2025, lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại. Tính đến cuối quý III/2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt hơn 13%, trong khi huy động vốn mới chỉ tăng 9,7%, qua đó tạo áp lực thanh khoản đáng kể cho toàn hệ thống. Dự báo, cuộc cạnh tranh về lãi suất thời gian sắp tới sẽ khá khốc liệt.

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay dù chững lại đôi chút, nhưng vẫn là cuộc đua đầy gay cấn giữa các ngân hàng, bởi ngân hàng nào cũng muốn giành thị phần cho vay và xây dựng nền tảng khách hàng các năm tiếp theo. Do vậy, bà Thủy cho rằng, trong ngắn hạn chưa thể nhìn thấy sự cải thiện vượt trội của NIM.

Nhiều sức ép ngược chiều lên NIM toàn ngành

Từ góc nhìn toàn cảnh ngành ngân hàng, phân tích lý do NIM vẫn chịu nhiều "dồn nén", TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đánh giá, lãi suất cho vay vẫn được định hướng ổn định và giảm xuống, dẫn đến NIM giảm, buộc các ngân hàng phải có những toan tính riêng.

Bên cạnh đó, chi phí vốn có xu hướng tăng. "Trước đây, ngân hàng thu hút CASA cùng tiền gửi có kỳ hạn, với mức lãi suất huy động bình quân thấp. Hiện nay, nhiều ngân hàng triển khai hình thức sinh lời tự động, dòng tiền thông minh, khiến chi phí vốn tăng từ tiền gửi không kỳ hạn tới kỳ hạn ngắn, dù lãi suất kỳ hạn ngắn bị giới hạn bởi trần. Lãi suất liên ngân hàng cũng tăng, từ đó tạo nên sức ép. Nhu cầu tín dụng tăng, thì huy động cũng phải tăng" - ông Linh lý giải.

Chưa kể, kênh tiền gửi ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênh đầu tư khác. Vị chuyên gia này chỉ ra rằng, ngành ngân hàng vẫn đối mặt với nhiều diễn biến không thuận, khi chi phí vốn và nợ xấu tăng, khiến trích lập dự phòng tăng cao. Phần lớn thu nhập của ngân hàng đến từ thu nhập lãi thuần, dẫn đến NIM bị "nén", cộng thêm hàng loạt áp lực khác, khiến nhiều ngân hàng không khỏi lo lắng.

Theo phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), NIM toàn ngành giảm 10 điểm cơ bản theo quý, xuống 3%, về mức đáy của quý I/2025 và thấp hơn so với cùng kỳ 30 điểm cơ bản, khi chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản. Diễn biến này bị ảnh hưởng bởi 2 sức ép ngược chiều.

Một là, lợi suất tài sản sinh lãi giảm 5 điểm cơ bản theo quý, xuống 6,5%, mặc dù lợi suất cho vay đi ngang. Đây là cấu phần tác động lớn nhất đến lợi suất tài sản. Đáng chú ý, nợ quá hạn hình thành ròng tăng trở lại, chủ yếu từ nợ nhóm 2 trong quý III/2025, trái ngược với quý II/2025 khi thu nhập từ lãi hưởng lợi từ thu lãi ngoại bảng do tổng nợ quá hạn hình thành ròng giảm mạnh.

Hai là, chi phí vốn tăng 5 điểm cơ bản theo quý, lên 3,9%, chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động.

Trong bối cảnh NIM được cho là đã tạo đáy, nhưng vẫn chưa ghi nhận sức bật rõ nét, các ngân hàng đang tìm cách xoay xở bằng nhiều cách thức.

Bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, Techcombank vẫn kiên định với các hành động và chiến lược để cải thiện NIM, bao gồm duy trì và nâng cao đà tăng trưởng CASA, kỳ vọng đạt tỷ lệ CASA bền vững và tốt hơn trong năm 2025 để tận dụng nguồn vốn giá rẻ. Đồng thời, ngân hàng cũng điều chỉnh cơ cấu tín dụng sang các sản phẩm cho vay tín chấp với lãi suất cao hơn, qua đó cải thiện NIM và kỳ vọng NIM năm 2026 có thể quay lại mức 4%.

Lãi suất đầu vào tăng nhiệt, CASA không còn rẻ

Theo Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), năm 2025 ghi nhận một lượng lớn nguồn tiền trên thị trường 2 được sử dụng để tài trợ cho tín dụng thị trường 1.

Xét riêng quý III/2025, BSC ước tính, khối lượng bơm ròng qua kênh thị trường mở hơn 1 triệu tỷ đồng, tương đương 187% mức tăng ròng của dư nợ tín dụng (hơn 540.000 tỷ đồng). Kỳ hạn cũng được đẩy lên cao hơn mức thông thường 7 và 14 ngày, với 22% lượng bơm ròng có kỳ hạn 35 và 91 ngày. Nhu cầu lớn khiến lãi suất liên ngân hàng duy trì mức nền cao là không thể tránh khỏi.

Không chỉ lãi suất thị trường 2 hay lãi suất huy động có kỳ hạn gia tăng, lãi suất CASA thực tế hiện nay cũng không còn rẻ như trước, khi các ngân hàng "chạy đua" với sản phẩm sinh lời tự động, cơ bản là dùng tiền nhàn rỗi của khách hàng để đầu tư vào loại hình khác và cam kết rút trước hạn không mất lãi.

Nhìn chung, với mặt bằng lãi suất huy động gia tăng, BSC cho rằng, tỷ lệ CASA toàn ngành có thể chịu áp lực trong thời gian tới, khi khách hàng có xu hướng dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn, nhất là khi tỷ lệ CASA đang ở mức cận đỉnh ghi nhận vào đầu năm 2022.

"Để bảo vệ NIM, nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân có vị thế trong ngành, đã chủ động tăng lãi suất cho vay trở lại" - BSC nhận định.

Trong thời gian tới, nhóm phân tích BSC cho rằng, xu hướng này được kỳ vọng đem lại tín hiệu khởi sắc cho các ngân hàng quốc doanh, vì đây là nhóm đã có nhiều đóng góp qua các gói cho vay lãi ưu đãi. Điển hình là cả Vietcombank và BIDV đã đồng loạt dừng triển khai gói cho vay mua nhà cố định lãi suất 3 năm đầu, thay vào đó, cố định kỳ hạn ngắn hơn, trong khoảng 1 - 2 năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80