Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Biên lãi ròng (NIM) ngành ngân hàng có khả năng đã chạm đáy vào cuối quý III/2025, nhưng triển vọng phục hồi vẫn chưa rõ nét. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) không còn rẻ, trong khi thanh khoản chịu sức ép khi tín dụng tiếp tục tăng mạnh vào cuối năm. Trước bối cảnh đó, các ngân hàng chủ động đưa ra nhiều biện pháp ứng phó.
aa

NIM ngành ngân hàng nhiều khả năng đã chạm đáy

Chia sẻ tại buổi cập nhật kết quả kinh doanh mới đây, ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng ACB cho biết, cuối quý III/2025, NIM của ACB đạt 3,12%. "Việc giảm NIM là xu thế chung của thị trường" - lãnh đạo ACB nhấn mạnh.

Gần đây, áp lực thanh khoản tăng cao làm lãi suất huy động nhích nhẹ, khiến chi phí vốn của ACB tăng 13 điểm cơ bản, lên 3,4%. Ở chiều ngược lại, ACB tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn và duy trì vị thế thị phần tín dụng, khiến lợi suất tài sản sinh lãi giảm nhẹ 2 điểm, còn 6,52%, qua đó tác động thêm lên NIM. Cùng với đó, năm nay, tăng trưởng tín dụng có nhiều chuyển biến khi tín dụng khách hàng cá nhân tăng 11%, trong khi khách hàng doanh nghiệp tăng 20%, biên sinh lời mảng doanh nghiệp nhỏ hơn và hẹp hơn, nên NIM cũng chịu ảnh hưởng.

Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM
Nguồn: Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC). Đồ hoạ: Phương Anh

Với Techcombank, theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, nhờ quản lý chi phí vốn tương đối tốt, NIM trượt 12 tháng của Techcombank đạt 3,8%.

Đại diện Techcombank đánh giá, NIM đã chạm đáy vào nửa đầu năm 2025 và bắt đầu có tín hiệu cải thiện, song kết quả có thể chưa đến ngay lập tức. Do đó, dự báo NIM quý IV/2025 nhiều khả năng vẫn ở mức khoảng 3,8%.

Tối ưu chi phí vốn và cơ cấu tín dụng để cải thiện NIM

"Dự báo, 3 tháng cuối năm, áp lực lên NIM của ACB cũng như các tổ chức tín dụng khác vẫn hiện hữu. ACB đang đẩy mạnh các biện pháp nhằm hạn chế đà giảm của NIM, gồm tăng cường huy động, trong đó có tăng CASA. Đồng thời, với tín dụng, ACB ưu tiên lĩnh vực có biên sinh lời cao như cho vay trung và dài hạn, nhằm giảm đà suy giảm NIM trong 3 tháng cuối năm".

Ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB

Về xu hướng năm 2026, đại diện Techcombank nhận định, việc cải thiện NIM vẫn là thách thức không nhỏ đối với toàn thị trường. Áp lực từ phía huy động vẫn lớn, khi sự khan hiếm nguồn vốn huy động từ khách hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Từ quý IV/2025, lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại. Tính đến cuối quý III/2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt hơn 13%, trong khi huy động vốn mới chỉ tăng 9,7%, qua đó tạo áp lực thanh khoản đáng kể cho toàn hệ thống. Dự báo, cuộc cạnh tranh về lãi suất thời gian sắp tới sẽ khá khốc liệt.

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay dù chững lại đôi chút, nhưng vẫn là cuộc đua đầy gay cấn giữa các ngân hàng, bởi ngân hàng nào cũng muốn giành thị phần cho vay và xây dựng nền tảng khách hàng các năm tiếp theo. Do vậy, bà Thủy cho rằng, trong ngắn hạn chưa thể nhìn thấy sự cải thiện vượt trội của NIM.

Nhiều sức ép ngược chiều lên NIM toàn ngành

Từ góc nhìn toàn cảnh ngành ngân hàng, phân tích lý do NIM vẫn chịu nhiều "dồn nén", TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đánh giá, lãi suất cho vay vẫn được định hướng ổn định và giảm xuống, dẫn đến NIM giảm, buộc các ngân hàng phải có những toan tính riêng.

Bên cạnh đó, chi phí vốn có xu hướng tăng. "Trước đây, ngân hàng thu hút CASA cùng tiền gửi có kỳ hạn, với mức lãi suất huy động bình quân thấp. Hiện nay, nhiều ngân hàng triển khai hình thức sinh lời tự động, dòng tiền thông minh, khiến chi phí vốn tăng từ tiền gửi không kỳ hạn tới kỳ hạn ngắn, dù lãi suất kỳ hạn ngắn bị giới hạn bởi trần. Lãi suất liên ngân hàng cũng tăng, từ đó tạo nên sức ép. Nhu cầu tín dụng tăng, thì huy động cũng phải tăng" - ông Linh lý giải.

Chưa kể, kênh tiền gửi ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênh đầu tư khác. Vị chuyên gia này chỉ ra rằng, ngành ngân hàng vẫn đối mặt với nhiều diễn biến không thuận, khi chi phí vốn và nợ xấu tăng, khiến trích lập dự phòng tăng cao. Phần lớn thu nhập của ngân hàng đến từ thu nhập lãi thuần, dẫn đến NIM bị "nén", cộng thêm hàng loạt áp lực khác, khiến nhiều ngân hàng không khỏi lo lắng.

Theo phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), NIM toàn ngành giảm 10 điểm cơ bản theo quý, xuống 3%, về mức đáy của quý I/2025 và thấp hơn so với cùng kỳ 30 điểm cơ bản, khi chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản. Diễn biến này bị ảnh hưởng bởi 2 sức ép ngược chiều.

Một là, lợi suất tài sản sinh lãi giảm 5 điểm cơ bản theo quý, xuống 6,5%, mặc dù lợi suất cho vay đi ngang. Đây là cấu phần tác động lớn nhất đến lợi suất tài sản. Đáng chú ý, nợ quá hạn hình thành ròng tăng trở lại, chủ yếu từ nợ nhóm 2 trong quý III/2025, trái ngược với quý II/2025 khi thu nhập từ lãi hưởng lợi từ thu lãi ngoại bảng do tổng nợ quá hạn hình thành ròng giảm mạnh.

Hai là, chi phí vốn tăng 5 điểm cơ bản theo quý, lên 3,9%, chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động.

Trong bối cảnh NIM được cho là đã tạo đáy, nhưng vẫn chưa ghi nhận sức bật rõ nét, các ngân hàng đang tìm cách xoay xở bằng nhiều cách thức.

Bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, Techcombank vẫn kiên định với các hành động và chiến lược để cải thiện NIM, bao gồm duy trì và nâng cao đà tăng trưởng CASA, kỳ vọng đạt tỷ lệ CASA bền vững và tốt hơn trong năm 2025 để tận dụng nguồn vốn giá rẻ. Đồng thời, ngân hàng cũng điều chỉnh cơ cấu tín dụng sang các sản phẩm cho vay tín chấp với lãi suất cao hơn, qua đó cải thiện NIM và kỳ vọng NIM năm 2026 có thể quay lại mức 4%.

Lãi suất đầu vào tăng nhiệt, CASA không còn rẻ

Theo Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), năm 2025 ghi nhận một lượng lớn nguồn tiền trên thị trường 2 được sử dụng để tài trợ cho tín dụng thị trường 1.

Xét riêng quý III/2025, BSC ước tính, khối lượng bơm ròng qua kênh thị trường mở hơn 1 triệu tỷ đồng, tương đương 187% mức tăng ròng của dư nợ tín dụng (hơn 540.000 tỷ đồng). Kỳ hạn cũng được đẩy lên cao hơn mức thông thường 7 và 14 ngày, với 22% lượng bơm ròng có kỳ hạn 35 và 91 ngày. Nhu cầu lớn khiến lãi suất liên ngân hàng duy trì mức nền cao là không thể tránh khỏi.

Không chỉ lãi suất thị trường 2 hay lãi suất huy động có kỳ hạn gia tăng, lãi suất CASA thực tế hiện nay cũng không còn rẻ như trước, khi các ngân hàng "chạy đua" với sản phẩm sinh lời tự động, cơ bản là dùng tiền nhàn rỗi của khách hàng để đầu tư vào loại hình khác và cam kết rút trước hạn không mất lãi.

Nhìn chung, với mặt bằng lãi suất huy động gia tăng, BSC cho rằng, tỷ lệ CASA toàn ngành có thể chịu áp lực trong thời gian tới, khi khách hàng có xu hướng dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn, nhất là khi tỷ lệ CASA đang ở mức cận đỉnh ghi nhận vào đầu năm 2022.

"Để bảo vệ NIM, nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân có vị thế trong ngành, đã chủ động tăng lãi suất cho vay trở lại" - BSC nhận định.

Trong thời gian tới, nhóm phân tích BSC cho rằng, xu hướng này được kỳ vọng đem lại tín hiệu khởi sắc cho các ngân hàng quốc doanh, vì đây là nhóm đã có nhiều đóng góp qua các gói cho vay lãi ưu đãi. Điển hình là cả Vietcombank và BIDV đã đồng loạt dừng triển khai gói cho vay mua nhà cố định lãi suất 3 năm đầu, thay vào đó, cố định kỳ hạn ngắn hơn, trong khoảng 1 - 2 năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80