Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Biên lãi ròng (NIM) ngành ngân hàng có khả năng đã chạm đáy vào cuối quý III/2025, nhưng triển vọng phục hồi vẫn chưa rõ nét. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) không còn rẻ, trong khi thanh khoản chịu sức ép khi tín dụng tiếp tục tăng mạnh vào cuối năm. Trước bối cảnh đó, các ngân hàng chủ động đưa ra nhiều biện pháp ứng phó.
aa

NIM ngành ngân hàng nhiều khả năng đã chạm đáy

Chia sẻ tại buổi cập nhật kết quả kinh doanh mới đây, ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng ACB cho biết, cuối quý III/2025, NIM của ACB đạt 3,12%. "Việc giảm NIM là xu thế chung của thị trường" - lãnh đạo ACB nhấn mạnh.

Gần đây, áp lực thanh khoản tăng cao làm lãi suất huy động nhích nhẹ, khiến chi phí vốn của ACB tăng 13 điểm cơ bản, lên 3,4%. Ở chiều ngược lại, ACB tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn và duy trì vị thế thị phần tín dụng, khiến lợi suất tài sản sinh lãi giảm nhẹ 2 điểm, còn 6,52%, qua đó tác động thêm lên NIM. Cùng với đó, năm nay, tăng trưởng tín dụng có nhiều chuyển biến khi tín dụng khách hàng cá nhân tăng 11%, trong khi khách hàng doanh nghiệp tăng 20%, biên sinh lời mảng doanh nghiệp nhỏ hơn và hẹp hơn, nên NIM cũng chịu ảnh hưởng.

Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM
Nguồn: Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC). Đồ hoạ: Phương Anh

Với Techcombank, theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, nhờ quản lý chi phí vốn tương đối tốt, NIM trượt 12 tháng của Techcombank đạt 3,8%.

Đại diện Techcombank đánh giá, NIM đã chạm đáy vào nửa đầu năm 2025 và bắt đầu có tín hiệu cải thiện, song kết quả có thể chưa đến ngay lập tức. Do đó, dự báo NIM quý IV/2025 nhiều khả năng vẫn ở mức khoảng 3,8%.

Tối ưu chi phí vốn và cơ cấu tín dụng để cải thiện NIM

"Dự báo, 3 tháng cuối năm, áp lực lên NIM của ACB cũng như các tổ chức tín dụng khác vẫn hiện hữu. ACB đang đẩy mạnh các biện pháp nhằm hạn chế đà giảm của NIM, gồm tăng cường huy động, trong đó có tăng CASA. Đồng thời, với tín dụng, ACB ưu tiên lĩnh vực có biên sinh lời cao như cho vay trung và dài hạn, nhằm giảm đà suy giảm NIM trong 3 tháng cuối năm".

Ông Nguyễn Văn Hòa - Thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB

Về xu hướng năm 2026, đại diện Techcombank nhận định, việc cải thiện NIM vẫn là thách thức không nhỏ đối với toàn thị trường. Áp lực từ phía huy động vẫn lớn, khi sự khan hiếm nguồn vốn huy động từ khách hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Từ quý IV/2025, lãi suất huy động bắt đầu tăng trở lại. Tính đến cuối quý III/2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt hơn 13%, trong khi huy động vốn mới chỉ tăng 9,7%, qua đó tạo áp lực thanh khoản đáng kể cho toàn hệ thống. Dự báo, cuộc cạnh tranh về lãi suất thời gian sắp tới sẽ khá khốc liệt.

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay dù chững lại đôi chút, nhưng vẫn là cuộc đua đầy gay cấn giữa các ngân hàng, bởi ngân hàng nào cũng muốn giành thị phần cho vay và xây dựng nền tảng khách hàng các năm tiếp theo. Do vậy, bà Thủy cho rằng, trong ngắn hạn chưa thể nhìn thấy sự cải thiện vượt trội của NIM.

Nhiều sức ép ngược chiều lên NIM toàn ngành

Từ góc nhìn toàn cảnh ngành ngân hàng, phân tích lý do NIM vẫn chịu nhiều "dồn nén", TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đánh giá, lãi suất cho vay vẫn được định hướng ổn định và giảm xuống, dẫn đến NIM giảm, buộc các ngân hàng phải có những toan tính riêng.

Bên cạnh đó, chi phí vốn có xu hướng tăng. "Trước đây, ngân hàng thu hút CASA cùng tiền gửi có kỳ hạn, với mức lãi suất huy động bình quân thấp. Hiện nay, nhiều ngân hàng triển khai hình thức sinh lời tự động, dòng tiền thông minh, khiến chi phí vốn tăng từ tiền gửi không kỳ hạn tới kỳ hạn ngắn, dù lãi suất kỳ hạn ngắn bị giới hạn bởi trần. Lãi suất liên ngân hàng cũng tăng, từ đó tạo nên sức ép. Nhu cầu tín dụng tăng, thì huy động cũng phải tăng" - ông Linh lý giải.

Chưa kể, kênh tiền gửi ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênh đầu tư khác. Vị chuyên gia này chỉ ra rằng, ngành ngân hàng vẫn đối mặt với nhiều diễn biến không thuận, khi chi phí vốn và nợ xấu tăng, khiến trích lập dự phòng tăng cao. Phần lớn thu nhập của ngân hàng đến từ thu nhập lãi thuần, dẫn đến NIM bị "nén", cộng thêm hàng loạt áp lực khác, khiến nhiều ngân hàng không khỏi lo lắng.

Theo phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), NIM toàn ngành giảm 10 điểm cơ bản theo quý, xuống 3%, về mức đáy của quý I/2025 và thấp hơn so với cùng kỳ 30 điểm cơ bản, khi chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản. Diễn biến này bị ảnh hưởng bởi 2 sức ép ngược chiều.

Một là, lợi suất tài sản sinh lãi giảm 5 điểm cơ bản theo quý, xuống 6,5%, mặc dù lợi suất cho vay đi ngang. Đây là cấu phần tác động lớn nhất đến lợi suất tài sản. Đáng chú ý, nợ quá hạn hình thành ròng tăng trở lại, chủ yếu từ nợ nhóm 2 trong quý III/2025, trái ngược với quý II/2025 khi thu nhập từ lãi hưởng lợi từ thu lãi ngoại bảng do tổng nợ quá hạn hình thành ròng giảm mạnh.

Hai là, chi phí vốn tăng 5 điểm cơ bản theo quý, lên 3,9%, chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động.

Trong bối cảnh NIM được cho là đã tạo đáy, nhưng vẫn chưa ghi nhận sức bật rõ nét, các ngân hàng đang tìm cách xoay xở bằng nhiều cách thức.

Bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, Techcombank vẫn kiên định với các hành động và chiến lược để cải thiện NIM, bao gồm duy trì và nâng cao đà tăng trưởng CASA, kỳ vọng đạt tỷ lệ CASA bền vững và tốt hơn trong năm 2025 để tận dụng nguồn vốn giá rẻ. Đồng thời, ngân hàng cũng điều chỉnh cơ cấu tín dụng sang các sản phẩm cho vay tín chấp với lãi suất cao hơn, qua đó cải thiện NIM và kỳ vọng NIM năm 2026 có thể quay lại mức 4%.

Lãi suất đầu vào tăng nhiệt, CASA không còn rẻ

Theo Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), năm 2025 ghi nhận một lượng lớn nguồn tiền trên thị trường 2 được sử dụng để tài trợ cho tín dụng thị trường 1.

Xét riêng quý III/2025, BSC ước tính, khối lượng bơm ròng qua kênh thị trường mở hơn 1 triệu tỷ đồng, tương đương 187% mức tăng ròng của dư nợ tín dụng (hơn 540.000 tỷ đồng). Kỳ hạn cũng được đẩy lên cao hơn mức thông thường 7 và 14 ngày, với 22% lượng bơm ròng có kỳ hạn 35 và 91 ngày. Nhu cầu lớn khiến lãi suất liên ngân hàng duy trì mức nền cao là không thể tránh khỏi.

Không chỉ lãi suất thị trường 2 hay lãi suất huy động có kỳ hạn gia tăng, lãi suất CASA thực tế hiện nay cũng không còn rẻ như trước, khi các ngân hàng "chạy đua" với sản phẩm sinh lời tự động, cơ bản là dùng tiền nhàn rỗi của khách hàng để đầu tư vào loại hình khác và cam kết rút trước hạn không mất lãi.

Nhìn chung, với mặt bằng lãi suất huy động gia tăng, BSC cho rằng, tỷ lệ CASA toàn ngành có thể chịu áp lực trong thời gian tới, khi khách hàng có xu hướng dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn, nhất là khi tỷ lệ CASA đang ở mức cận đỉnh ghi nhận vào đầu năm 2022.

"Để bảo vệ NIM, nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm tư nhân có vị thế trong ngành, đã chủ động tăng lãi suất cho vay trở lại" - BSC nhận định.

Trong thời gian tới, nhóm phân tích BSC cho rằng, xu hướng này được kỳ vọng đem lại tín hiệu khởi sắc cho các ngân hàng quốc doanh, vì đây là nhóm đã có nhiều đóng góp qua các gói cho vay lãi ưu đãi. Điển hình là cả Vietcombank và BIDV đã đồng loạt dừng triển khai gói cho vay mua nhà cố định lãi suất 3 năm đầu, thay vào đó, cố định kỳ hạn ngắn hơn, trong khoảng 1 - 2 năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18661
CAD 18148 18424 19040
CHF 31764 32145 32782
CNY 0 3837 3929
EUR 29363 29584 30658
GBP 34375 34767 35692
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14970 15557
SGD 19788 20070 20646
THB 697 760 813
USD (1,2) 25992 0 0
USD (5,10,20) 26033 0 0
USD (50,100) 26062 26076 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26494
AUD 17996 18096 19026
CAD 18332 18432 19446
CHF 32012 32042 33620
CNY 3817.3 3842.3 3977.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34671 34721 36477
HKD 0 3355 0
JPY 158.29 158.79 169.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15079 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19947 20077 20805
THB 0 726 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80