Chi ngân sách thông suốt khi chuyển đổi chính quyền địa phương 2 cấp

Vân Hà
(TBTCO) - Trong năm 2025, công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước chịu nhiều tác động từ quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy theo chính quyền địa phương 2 cấp. Tuy nhiên, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã bảo đảm thanh toán chi thường xuyên và chi đầu tư công thông suốt, đúng quy định, góp phần giữ vững kỷ luật tài chính và ổn định hoạt động của khu vực công trong giai đoạn chuyển tiếp.
aa

Kiểm soát chi - điểm sáng trong điều hành ngân sách

Năm 2025 được xem là năm đặc biệt đối với công tác quản lý tài chính - ngân sách, khi cả hệ thống chính quyền địa phương chuyển sang vận hành theo mô hình 2 cấp. Trong bối cảnh đó, việc bảo đảm hoạt động chi ngân sách nhà nước diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, nhất là ở cấp cơ sở, trở thành yêu cầu mang tính quyết định đối với ổn định kinh tế - xã hội và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Chi ngân sách thông suốt khi chuyển đổi chính quyền địa phương 2 cấp
Công chức KBNN khu vực IX thực hiện kiểm soát chi ngân sách trên dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc. Ảnh: Đức Thanh

Từ thực tiễn triển khai cho thấy, hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán chi ngân sách, thể hiện rõ qua kết quả chi thường xuyên và chi đầu tư công.

Cụ thể, đối với chi thường xuyên, đến ngày 15/12/2025, KBNN đã kiểm soát, thanh toán đạt 1.460.125 tỷ đồng, tương đương 91,9% dự toán năm (không bao gồm chi trả nợ, viện trợ và dự phòng). Đây là tỷ lệ thực hiện cao trong điều kiện nhiều địa phương phải đồng thời xử lý các vấn đề về sắp xếp tổ chức, nhân sự, thẩm quyền quyết định chi và hoàn thiện bộ máy tài chính - kế toán cấp xã. So với cùng kỳ năm 2024, giá trị chi thường xuyên tăng thêm 418.907 tỷ đồng, tỷ lệ thực hiện cao hơn 9,9 điểm phần trăm, phản ánh hiệu quả điều hành ngân sách tiếp tục được nâng lên.

Chi ngân sách thông suốt khi chuyển đổi chính quyền địa phương 2 cấp
Nguồn: Kho bạc Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Đáng chú ý, dù ghi nhận sự sụt giảm rõ rệt trong tháng 7/2025 - thời điểm các địa phương tập trung bàn giao, tiếp nhận nhiệm vụ chi theo mô hình mới, nhưng hoạt động chi ngân sách đã nhanh chóng được khôi phục ngay từ tháng 8. Đến ngày 7/10/2025, 100% đơn vị cấp xã trên toàn quốc đã hoàn tất mở tài khoản tại KBNN và thực hiện chi lương, chi hoạt động thường xuyên theo quy định. Đây là kết quả có ý nghĩa đặc biệt, bởi chi thường xuyên gắn trực tiếp với hoạt động của bộ máy và đời sống của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở.

Bên cạnh đó, công tác kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư công tiếp tục được bảo đảm trong điều kiện nhiều dự án phải điều chỉnh chủ đầu tư, cơ quan quản lý do sáp nhập đơn vị hành chính. Tính đến ngày 15/12/2025, tổng số vốn đầu tư công thanh toán qua KBNN đạt khoảng 546.721,9 tỷ đồng, bằng 64,1% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn cả về giá trị tuyệt đối và tỷ lệ so với cùng kỳ năm 2024. Kết quả này cho thấy, dòng vốn đầu tư công, “động lực” quan trọng của tăng trưởng vẫn được kiểm soát chặt chẽ, không bị đứt gãy trong năm chuyển đổi.

Một điểm sáng nổi bật khác là công tác chi trả các chế độ, chính sách phục vụ sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP. Chỉ trong thời gian ngắn, với khối lượng hồ sơ lớn và yêu cầu tiến độ cao, KBNN đã thực hiện chi trả hơn 163.000 tỷ đồng cho trên 117.000 đối tượng, bảo đảm đúng đối tượng, đúng chế độ, kịp thời. Việc hoàn thành dứt điểm nhiệm vụ này trước thời hạn đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tư tưởng cán bộ, công chức, tạo sự đồng thuận trong quá trình tinh gọn bộ máy.

Theo ghi nhận từ KBNN, kết quả kiểm soát chi ngân sách năm 2025 dù chịu tác động mạnh từ việc thay đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương, nhưng kỷ luật, kỷ cương tài chính vẫn được giữ vững, hoạt động chi ngân sách không bị gián đoạn đã tạo nền tảng quan trọng cho ổn định và phát triển.

Nỗ lực trong bối cảnh chuyển đổi sâu rộng

Để đạt được những kết quả nêu trên, hệ thống KBNN đã phải triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong bối cảnh chuyển đổi tổ chức có phạm vi rộng, mức độ phức tạp cao.

Cụ thể, KBNN đã chủ động nhận diện sớm các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, đặc biệt là nguy cơ gián đoạn chi ngân sách ở cấp xã. Trên cơ sở đó, hàng loạt văn bản hướng dẫn đã được ban hành kịp thời, bao quát từ nguyên tắc bàn giao hồ sơ, dữ liệu, tổ chức lại tài khoản, lập và giao dự toán, đến hạch toán thu - chi trong giai đoạn chuyển tiếp. Việc thống nhất hướng dẫn trên toàn hệ thống đã giúp các địa phương có căn cứ triển khai, hạn chế tối đa ách tắc nghiệp vụ.

Điều chỉnh linh hoạt với các thay đổi trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

KBNN đã thể hiện sự linh hoạt và khả năng thích nghi tốt trước những thay đổi trong hệ thống khi chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Mặc dù trong tháng chuyển đổi (tháng 7), hoạt động chi ngân sách nhà nước gặp một số khó khăn tạm thời, nhưng sau đó đã nhanh chóng phục hồi, góp phần tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc quản lý tài chính công trong mô hình tổ chức mới. Điều này cho thấy, KBNN đã chứng tỏ được khả năng điều chỉnh linh hoạt khi thay đổi cấu trúc tổ chức để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo đúng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.

Cùng với đó, ổn định tổ chức bộ máy và hạ tầng công nghệ thông tin được xác định là điều kiện tiên quyết. Từ ngày 1/7/2025, KBNN chính thức vận hành theo mô hình 20 KBNN khu vực, đồng thời nâng cấp các ứng dụng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thu, ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước và Cổng Dịch vụ công quốc gia đã giúp hoạt động thu chi NSNN diễn ra thông suốt, liên tục.

Đặc biệt, trong công tác chi trả chế độ, chính sách, KBNN đã thể hiện rõ vai trò tham mưu, điều phối và hỗ trợ trực tiếp cho các địa phương. Việc huy động toàn hệ thống làm việc ngoài giờ, xuyên kỳ nghỉ lễ trong những thời điểm then chốt cho thấy tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ công chức Kho bạc, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị quan trọng trong năm chuyển đổi.

Định hướng đổi mới đáp ứng yêu cầu giai đoạn tới

Từ thực tiễn triển khai năm 2025, KBNN xác định cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách trong giai đoạn 2026 - 2030. Trọng tâm là điều chỉnh, hoàn thiện Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2030, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và yêu cầu đột phá về chuyển đổi số. Việc triển khai Hệ thống thông tin ngân sách và kế toán nhà nước số được xác định là giải pháp nền tảng, hướng tới xây dựng Kho bạc số, nâng cao hiệu quả kiểm soát chi, tăng tính công khai, minh bạch và khả năng phân tích, dự báo ngân sách.

Bên cạnh đó, KBNN tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến trong giao dịch với các đơn vị sử dụng ngân sách, nhất là thanh toán vốn đầu tư công. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, quy trình nghiệp vụ phù hợp với mô hình tổ chức mới sẽ góp phần nâng cao kỷ luật tài chính, đồng thời tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư, đơn vị giao dịch.

Cùng với đổi mới về thể chế và công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ và tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền cũng tiếp tục được KBNN xác định là giải pháp lâu dài, nhằm nâng cao năng lực thực thi trong toàn hệ thống và các đơn vị sử dụng ngân sách, góp phần bảo đảm quản lý, sử dụng NSNN an toàn, hiệu quả trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Vân Hà

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80