“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, room tín dụng bất động sản và lãi suất có xu hướng xoay chiều đang tạo ra "phép thử" mới cùng sự phân hóa mạnh mẽ đối với thị trường địa ốc.
aa

PV: Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở mức cao, nhưng room tín dụng sẽ "giảm nhiệt" so với năm 2025. Điều này phản ánh sự thay đổi gì trong ưu tiên điều hành chính sách tiền tệ, thưa ông?

“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới
Ông Nguyễn Thế Minh

Ông Nguyễn Thế Minh: Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%. Việc phân bổ hạn mức cho từng ngân hàng thương mại được điều chỉnh theo kết quả xếp hạng CAMELS (mô hình đánh giá "sức khỏe" của các tổ chức tài chính, dựa trên 6 yếu tố cơ bản). Xếp hạng này do Ngân hàng Nhà nước tính toán cho từng tổ chức tín dụng và giữ vai trò then chốt trong quyết định room tín dụng của mỗi ngân hàng.

Thông điệp điều hành của Ngân hàng Nhà nước năm nay về cơ bản nhất quán với các năm trước. Ngay từ đầu năm, cơ quan điều hành luôn nhấn mạnh ưu tiên kiểm soát lạm phát và các rủi ro vĩ mô. Trên cơ sở đó, đến giữa năm, định hướng chính sách tiền tệ sẽ được điều chỉnh linh hoạt, tùy thuộc vào diễn biến lạm phát và tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Năm 2026, xu hướng thận trọng trong điều hành nhiều khả năng sẽ gia tăng, mục tiêu tăng trưởng chưa phải ưu tiên hàng đầu. Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ không để room tín dụng tăng "bùng nổ", mà ưu tiên kiểm soát rủi ro nhiều hơn.

“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ không để room tín dụng tăng "bùng nổ". Ảnh: An Thư

PV: Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, thanh khoản căng thẳng và lãi suất leo thang vào cuối năm 2025, theo ông, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành tăng trưởng tín dụng thế nào trong năm 2026?

Ông Nguyễn Thế Minh: Nhìn lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ước vượt 19%, chủ yếu tăng mạnh vào nửa cuối năm. Đáng chú ý, trong quý IV/2025, tín dụng bất động sản có dấu hiệu tăng nóng trở lại, qua đó, làm gia tăng những rủi ro tiềm ẩn. Do đó, khả năng cao là Ngân hàng Nhà nước sớm nhận diện và kiểm soát rủi ro bất động sản trong 6 tháng đầu năm 2026.

Song song với đó, chính sách tín dụng nhiều khả năng vẫn theo hướng kiểm soát từng lĩnh vực, "siết" dòng tiền đối với các kênh rủi ro cao như bất động sản, để tập trung nhiều hơn cho sản xuất, kinh doanh.

Cần lưu ý rằng, xu hướng điều hành chính sách tiền tệ, không chỉ tại Việt Nam, mà còn ở nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, đang chuyển dần dựa trên dữ liệu thực tế của nền kinh tế, thay vì dựa vào dự báo lạm phát, các yếu tố vĩ mô dài hạn, nhằm phản ứng kịp thời các biến động.

Bức tranh thanh khoản xuất hiện nhiều điểm khác biệt đáng chú ý, khi nhu cầu tín dụng tăng mạnh, còn nguồn vốn huy động chưa kịp tăng tương ứng, tạo áp lực rõ nét lên cân đối vốn của hệ thống ngân hàng. Áp lực càng gia tăng khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh cách tính tỷ lệ cho vay/huy động (LDR), trong đó, loại trừ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.

Điều này khiến khối ngân hàng quốc doanh chịu tác động mạnh, bởi quy mô tiền gửi kho bạc rất lớn. Việc loại trừ nguồn tiền này làm thanh khoản của nhóm “big 4” (4 ngân hàng thương mại nhà nước) căng lên đột ngột, buộc phải tăng lãi suất huy động để bù đắp nguồn vốn, cho thấy áp lực không loại trừ bất kỳ ngân hàng nào.

PV: Khi tăng trưởng tín dụng bị “nén” lại, nhóm ngân hàng nào sẽ vượt trội so với mặt bằng chung và dòng vốn tín dụng sẽ được phân bổ theo hướng nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Thế Minh: Tỷ lệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP trong quá khứ thường dao động trên 1,6 lần. Năm 2025, với tăng trưởng GDP 8,02% và tăng trưởng tín dụng ước đạt 19%, tỷ lệ này đã vượt trên 2 lần. Nếu muốn đạt tăng trưởng 10% trong năm 2026, tăng trưởng room tín dụng tương ứng trên 20%, còn trung bình tối thiểu hàng năm khoảng 16%.

Trong bối cảnh mục tiêu room tín dụng năm nay khoảng 15%, Chính phủ nhiều khả năng sẽ kích hoạt thêm các chính sách và công cụ khác để hỗ trợ tăng trưởng, trong đó, thị trường vốn sẽ đóng vai trò “đầu tàu” kéo tăng trưởng.

Lãi suất xoay chiều, thị trường sẽ thanh lọc mạnh hơn

Ông Nguyễn Thế Minh dự báo, mặt bằng lãi suất năm 2026 nhiều khả năng dao động ở mức 8 - 9,5%. Với các dự án bất động sản có vị trí tốt, thanh khoản cao, mức lãi suất này có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, so với năm 2025 (lãi suất phổ biến từ 6,5 - 7% hoặc khoảng 8%), thì mức lãi suất này cao hơn đáng kể. Khi lãi suất tăng trở lại, thị trường sẽ thanh lọc mạnh hơn về năng lực tài chính, từ đó hình thành mô hình tăng trưởng "chữ K", khi một nhóm tăng trưởng, trong khi nhóm còn lại có thể suy giảm.

Về cơ chế phân bổ, hệ số điều chỉnh đã được giảm từ khoảng 3,5% trong năm ngoái, xuống 2,6% trong năm nay, khiến room tín dụng của từng ngân hàng nhìn chung thấp hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng kết quả xếp hạng CAMELS năm 2024 cho thấy, những ngân hàng có quy mô lớn và bộ đệm vốn dày vẫn sẽ chiếm ưu thế trong phân bổ hạn mức.

Theo tôi, Techcombank, Vietcombank, MB, ACB... là những ngân hàng có hệ số CAMELS ở mức khá cao, gần như nằm trong nhóm dẫn đầu và sẽ là các ngân hàng hưởng lợi lớn. Với nhóm này, room tín dụng trong năm 2026 nhiều khả năng ở mức 18 - 19%. Các ngân hàng tham gia nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém cũng được phân bổ room cao hơn nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu.

PV: Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính ngân hàng và sẽ hạ room nếu không tuân thủ. Theo ông, điều này sẽ tác động thế nào tới các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản cao?

Ông Nguyễn Thế Minh: Sau khi Luật Đất đai (sửa đổi) có hiệu lực, có thể thấy “cuộc chơi” của thị trường bất động sản thay đổi rõ rệt, không còn giống giai đoạn trước đây khi các doanh nghiệp vốn mỏng, quy mô nhỏ cũng có thể tham gia và kiếm lợi nhuận, thậm chí đạt lợi nhuận cao.

Từ các quy định sửa đổi của Luật Đất đai năm 2024 và tiếp tục sửa đổi năm 2025, thị trường bất động sản đã bước sang một giai đoạn mới, đòi hỏi các chủ đầu tư phải hội tụ 2 yếu tố then chốt. Thứ nhất, năng lực về vốn và năng lực tài chính phải đủ mạnh thì mới có thể tham gia thị trường. Thứ hai, phải có năng lực triển khai dự án, thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. Như vậy, có thể thấy, Luật Đất đai (sửa đổi) đóng vai trò "thanh lọc" thị trường bất động sản.

Xét ở góc độ kiểm soát tín dụng, tác động đến thị trường bất động sản được đánh giá là không quá lớn. Room tín dụng nhìn chung không phải là vấn đề đáng lo ngại, bởi ngay cả khi áp trần hay giới hạn với lĩnh vực bất động sản, nguồn vốn vẫn đủ bảo đảm các hoạt động của thị trường, chưa đến mức căng thẳng hay gây lo ngại lớn.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp đang tham gia và trụ vững trên thị trường bất động sản như Vinhomes, Khang Điền hay Nam Long… đều là các chủ đầu tư có chất lượng tốt, quy mô phù hợp, mức đòn bẩy tài chính an toàn và có năng lực triển khai dự án rõ ràng. Do đó, khả năng cung ứng tín dụng cho thị trường bất động sản trong năm 2026 được đánh giá chưa tạo ra áp lực lớn.

Room tín dụng nhìn chung vẫn ổn, nhưng lãi suất mới là biến số cần theo dõi sát. Tôi cho rằng, khả năng cao là mặt bằng lãi suất sẽ điều chỉnh trong năm nay. Đây mới là yếu tố tác động rõ nét đến thị trường bất động sản.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

(TBTCO) - Ngày 29/9/2026 vừa qua, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Tổng công ty Truyền thông - Chi nhánh Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tổng công ty VNPT-Media) đã chính thức tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Sự kiện mở ra giai đoạn hợp tác mới giữa hai đơn vị, kết nối năng lực bảo hiểm của MIC với thế mạnh về công nghệ, nền tảng và hệ sinh thái khách hàng của VNPT, hướng tới nâng cao giá trị và trải nghiệm cho khách hàng.
Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

(TBTCO) - Một lần quét QR giúp người Việt thanh toán tại nhiều quốc gia và ngược lại, nhưng phía sau là hệ thống phức tạp cùng nỗ lực của nhiều bên. VietQR Global hiện phủ hơn 6% điểm chấp nhận trong nước, với nhiều dư địa mở rộng, song bài toán không chỉ là độ phủ, kết nối thêm thị trường mà còn gia tăng giao dịch thực tế.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲20K 14,430 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲20K 14,430 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲20K 14,430 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 ▲70K 14,430 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 ▲70K 14,430 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 ▲70K 14,430 ▲20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,740 ▲20K 14,340 ▲20K
Trang sức 99.99 13,750 ▲20K 14,350 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲2K 14,432 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲2K 14,433 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲2K 1,439 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 ▲2K 1,428 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 ▲198K 141,386 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 ▲150K 107,261 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 ▲136K 97,264 ▲136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 ▲122K 87,267 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 ▲117K 83,411 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 ▲44922K 59,704 ▲53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Cập nhật: 01/10/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17512 17785 18369
CAD 17710 17984 18600
CHF 30440 30815 31468
CNY 0 3833 3929
EUR 28713 28931 30014
GBP 33549 33937 34888
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14272 14862
SGD 19749 20031 20610
THB 687 750 804
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,762 28,785 30,151
JPY 159.6 159.89 169.55
GBP 33,720 33,811 34,984
AUD 17,693 17,757 18,431
CAD 17,900 17,957 18,620
CHF 30,729 30,825 31,741
SGD 19,872 19,934 20,715
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,245 3,255 3,391
KRW 17.59 18.34 19.96
THB 735.06 744.14 796.77
NZD 14,254 14,386 14,814
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,857 3,994
NOK - 2,647 2,741
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.47 - 6,707.29
TWD 733.6 - 888.79
SAR - 6,802.81 7,166.27
KWD - 82,124 87,387
AED - 6,820 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 28,901 29,017 30,231
GBP 33,851 33,987 35,020
HKD 3,242 3,255 3,372
CHF 30,582 30,705 31,646
JPY 160.63 161.28 169.26
AUD 17,716 17,787 18,383
SGD 19,962 20,042 20,635
THB 753 756 793
CAD 17,917 17,989 18,582
NZD 14,398 14,947
KRW 18.43 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17666 17766 18692
CAD 17874 17974 18986
CHF 30642 30672 32249
CNY 3814.8 3839.8 3974.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28847 28877 30599
GBP 33813 33863 35621
HKD 0 3315 0
JPY 160.45 160.95 171.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19896 20026 20747
THB 0 715.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,674 25,794 26,150
USD20 25,644 25,794 26,150
USD1 25,624 25,794 26,150
AUD 17,750 17,850 18,955
EUR 28,754 28,854 30,530
CAD 17,827 17,927 19,234
SGD 19,879 19,879 20,706
JPY 161.09 162.59 168.12
GBP 33,813 33,963 35,370
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/10/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30