“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, room tín dụng bất động sản và lãi suất có xu hướng xoay chiều đang tạo ra "phép thử" mới cùng sự phân hóa mạnh mẽ đối với thị trường địa ốc.
aa

PV: Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở mức cao, nhưng room tín dụng sẽ "giảm nhiệt" so với năm 2025. Điều này phản ánh sự thay đổi gì trong ưu tiên điều hành chính sách tiền tệ, thưa ông?

“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới
Ông Nguyễn Thế Minh

Ông Nguyễn Thế Minh: Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%. Việc phân bổ hạn mức cho từng ngân hàng thương mại được điều chỉnh theo kết quả xếp hạng CAMELS (mô hình đánh giá "sức khỏe" của các tổ chức tài chính, dựa trên 6 yếu tố cơ bản). Xếp hạng này do Ngân hàng Nhà nước tính toán cho từng tổ chức tín dụng và giữ vai trò then chốt trong quyết định room tín dụng của mỗi ngân hàng.

Thông điệp điều hành của Ngân hàng Nhà nước năm nay về cơ bản nhất quán với các năm trước. Ngay từ đầu năm, cơ quan điều hành luôn nhấn mạnh ưu tiên kiểm soát lạm phát và các rủi ro vĩ mô. Trên cơ sở đó, đến giữa năm, định hướng chính sách tiền tệ sẽ được điều chỉnh linh hoạt, tùy thuộc vào diễn biến lạm phát và tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Năm 2026, xu hướng thận trọng trong điều hành nhiều khả năng sẽ gia tăng, mục tiêu tăng trưởng chưa phải ưu tiên hàng đầu. Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ không để room tín dụng tăng "bùng nổ", mà ưu tiên kiểm soát rủi ro nhiều hơn.

“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ không để room tín dụng tăng "bùng nổ". Ảnh: An Thư

PV: Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, thanh khoản căng thẳng và lãi suất leo thang vào cuối năm 2025, theo ông, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành tăng trưởng tín dụng thế nào trong năm 2026?

Ông Nguyễn Thế Minh: Nhìn lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ước vượt 19%, chủ yếu tăng mạnh vào nửa cuối năm. Đáng chú ý, trong quý IV/2025, tín dụng bất động sản có dấu hiệu tăng nóng trở lại, qua đó, làm gia tăng những rủi ro tiềm ẩn. Do đó, khả năng cao là Ngân hàng Nhà nước sớm nhận diện và kiểm soát rủi ro bất động sản trong 6 tháng đầu năm 2026.

Song song với đó, chính sách tín dụng nhiều khả năng vẫn theo hướng kiểm soát từng lĩnh vực, "siết" dòng tiền đối với các kênh rủi ro cao như bất động sản, để tập trung nhiều hơn cho sản xuất, kinh doanh.

Cần lưu ý rằng, xu hướng điều hành chính sách tiền tệ, không chỉ tại Việt Nam, mà còn ở nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, đang chuyển dần dựa trên dữ liệu thực tế của nền kinh tế, thay vì dựa vào dự báo lạm phát, các yếu tố vĩ mô dài hạn, nhằm phản ứng kịp thời các biến động.

Bức tranh thanh khoản xuất hiện nhiều điểm khác biệt đáng chú ý, khi nhu cầu tín dụng tăng mạnh, còn nguồn vốn huy động chưa kịp tăng tương ứng, tạo áp lực rõ nét lên cân đối vốn của hệ thống ngân hàng. Áp lực càng gia tăng khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh cách tính tỷ lệ cho vay/huy động (LDR), trong đó, loại trừ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.

Điều này khiến khối ngân hàng quốc doanh chịu tác động mạnh, bởi quy mô tiền gửi kho bạc rất lớn. Việc loại trừ nguồn tiền này làm thanh khoản của nhóm “big 4” (4 ngân hàng thương mại nhà nước) căng lên đột ngột, buộc phải tăng lãi suất huy động để bù đắp nguồn vốn, cho thấy áp lực không loại trừ bất kỳ ngân hàng nào.

PV: Khi tăng trưởng tín dụng bị “nén” lại, nhóm ngân hàng nào sẽ vượt trội so với mặt bằng chung và dòng vốn tín dụng sẽ được phân bổ theo hướng nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Thế Minh: Tỷ lệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP trong quá khứ thường dao động trên 1,6 lần. Năm 2025, với tăng trưởng GDP 8,02% và tăng trưởng tín dụng ước đạt 19%, tỷ lệ này đã vượt trên 2 lần. Nếu muốn đạt tăng trưởng 10% trong năm 2026, tăng trưởng room tín dụng tương ứng trên 20%, còn trung bình tối thiểu hàng năm khoảng 16%.

Trong bối cảnh mục tiêu room tín dụng năm nay khoảng 15%, Chính phủ nhiều khả năng sẽ kích hoạt thêm các chính sách và công cụ khác để hỗ trợ tăng trưởng, trong đó, thị trường vốn sẽ đóng vai trò “đầu tàu” kéo tăng trưởng.

Lãi suất xoay chiều, thị trường sẽ thanh lọc mạnh hơn

Ông Nguyễn Thế Minh dự báo, mặt bằng lãi suất năm 2026 nhiều khả năng dao động ở mức 8 - 9,5%. Với các dự án bất động sản có vị trí tốt, thanh khoản cao, mức lãi suất này có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, so với năm 2025 (lãi suất phổ biến từ 6,5 - 7% hoặc khoảng 8%), thì mức lãi suất này cao hơn đáng kể. Khi lãi suất tăng trở lại, thị trường sẽ thanh lọc mạnh hơn về năng lực tài chính, từ đó hình thành mô hình tăng trưởng "chữ K", khi một nhóm tăng trưởng, trong khi nhóm còn lại có thể suy giảm.

Về cơ chế phân bổ, hệ số điều chỉnh đã được giảm từ khoảng 3,5% trong năm ngoái, xuống 2,6% trong năm nay, khiến room tín dụng của từng ngân hàng nhìn chung thấp hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng kết quả xếp hạng CAMELS năm 2024 cho thấy, những ngân hàng có quy mô lớn và bộ đệm vốn dày vẫn sẽ chiếm ưu thế trong phân bổ hạn mức.

Theo tôi, Techcombank, Vietcombank, MB, ACB... là những ngân hàng có hệ số CAMELS ở mức khá cao, gần như nằm trong nhóm dẫn đầu và sẽ là các ngân hàng hưởng lợi lớn. Với nhóm này, room tín dụng trong năm 2026 nhiều khả năng ở mức 18 - 19%. Các ngân hàng tham gia nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém cũng được phân bổ room cao hơn nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu.

PV: Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính ngân hàng và sẽ hạ room nếu không tuân thủ. Theo ông, điều này sẽ tác động thế nào tới các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản cao?

Ông Nguyễn Thế Minh: Sau khi Luật Đất đai (sửa đổi) có hiệu lực, có thể thấy “cuộc chơi” của thị trường bất động sản thay đổi rõ rệt, không còn giống giai đoạn trước đây khi các doanh nghiệp vốn mỏng, quy mô nhỏ cũng có thể tham gia và kiếm lợi nhuận, thậm chí đạt lợi nhuận cao.

Từ các quy định sửa đổi của Luật Đất đai năm 2024 và tiếp tục sửa đổi năm 2025, thị trường bất động sản đã bước sang một giai đoạn mới, đòi hỏi các chủ đầu tư phải hội tụ 2 yếu tố then chốt. Thứ nhất, năng lực về vốn và năng lực tài chính phải đủ mạnh thì mới có thể tham gia thị trường. Thứ hai, phải có năng lực triển khai dự án, thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. Như vậy, có thể thấy, Luật Đất đai (sửa đổi) đóng vai trò "thanh lọc" thị trường bất động sản.

Xét ở góc độ kiểm soát tín dụng, tác động đến thị trường bất động sản được đánh giá là không quá lớn. Room tín dụng nhìn chung không phải là vấn đề đáng lo ngại, bởi ngay cả khi áp trần hay giới hạn với lĩnh vực bất động sản, nguồn vốn vẫn đủ bảo đảm các hoạt động của thị trường, chưa đến mức căng thẳng hay gây lo ngại lớn.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp đang tham gia và trụ vững trên thị trường bất động sản như Vinhomes, Khang Điền hay Nam Long… đều là các chủ đầu tư có chất lượng tốt, quy mô phù hợp, mức đòn bẩy tài chính an toàn và có năng lực triển khai dự án rõ ràng. Do đó, khả năng cung ứng tín dụng cho thị trường bất động sản trong năm 2026 được đánh giá chưa tạo ra áp lực lớn.

Room tín dụng nhìn chung vẫn ổn, nhưng lãi suất mới là biến số cần theo dõi sát. Tôi cho rằng, khả năng cao là mặt bằng lãi suất sẽ điều chỉnh trong năm nay. Đây mới là yếu tố tác động rõ nét đến thị trường bất động sản.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17609 17882 18455
CAD 17968 18243 18858
CHF 31802 32183 32829
CNY 0 3826 3919
EUR 29287 29507 30585
GBP 33889 34279 35213
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14530 15112
SGD 19758 20039 20610
THB 703 766 819
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26152 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80