“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, room tín dụng bất động sản và lãi suất có xu hướng xoay chiều đang tạo ra "phép thử" mới cùng sự phân hóa mạnh mẽ đối với thị trường địa ốc.
aa

PV: Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở mức cao, nhưng room tín dụng sẽ "giảm nhiệt" so với năm 2025. Điều này phản ánh sự thay đổi gì trong ưu tiên điều hành chính sách tiền tệ, thưa ông?

“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới
Ông Nguyễn Thế Minh

Ông Nguyễn Thế Minh: Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%. Việc phân bổ hạn mức cho từng ngân hàng thương mại được điều chỉnh theo kết quả xếp hạng CAMELS (mô hình đánh giá "sức khỏe" của các tổ chức tài chính, dựa trên 6 yếu tố cơ bản). Xếp hạng này do Ngân hàng Nhà nước tính toán cho từng tổ chức tín dụng và giữ vai trò then chốt trong quyết định room tín dụng của mỗi ngân hàng.

Thông điệp điều hành của Ngân hàng Nhà nước năm nay về cơ bản nhất quán với các năm trước. Ngay từ đầu năm, cơ quan điều hành luôn nhấn mạnh ưu tiên kiểm soát lạm phát và các rủi ro vĩ mô. Trên cơ sở đó, đến giữa năm, định hướng chính sách tiền tệ sẽ được điều chỉnh linh hoạt, tùy thuộc vào diễn biến lạm phát và tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Năm 2026, xu hướng thận trọng trong điều hành nhiều khả năng sẽ gia tăng, mục tiêu tăng trưởng chưa phải ưu tiên hàng đầu. Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ không để room tín dụng tăng "bùng nổ", mà ưu tiên kiểm soát rủi ro nhiều hơn.

“Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ không để room tín dụng tăng "bùng nổ". Ảnh: An Thư

PV: Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, thanh khoản căng thẳng và lãi suất leo thang vào cuối năm 2025, theo ông, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành tăng trưởng tín dụng thế nào trong năm 2026?

Ông Nguyễn Thế Minh: Nhìn lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ước vượt 19%, chủ yếu tăng mạnh vào nửa cuối năm. Đáng chú ý, trong quý IV/2025, tín dụng bất động sản có dấu hiệu tăng nóng trở lại, qua đó, làm gia tăng những rủi ro tiềm ẩn. Do đó, khả năng cao là Ngân hàng Nhà nước sớm nhận diện và kiểm soát rủi ro bất động sản trong 6 tháng đầu năm 2026.

Song song với đó, chính sách tín dụng nhiều khả năng vẫn theo hướng kiểm soát từng lĩnh vực, "siết" dòng tiền đối với các kênh rủi ro cao như bất động sản, để tập trung nhiều hơn cho sản xuất, kinh doanh.

Cần lưu ý rằng, xu hướng điều hành chính sách tiền tệ, không chỉ tại Việt Nam, mà còn ở nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, đang chuyển dần dựa trên dữ liệu thực tế của nền kinh tế, thay vì dựa vào dự báo lạm phát, các yếu tố vĩ mô dài hạn, nhằm phản ứng kịp thời các biến động.

Bức tranh thanh khoản xuất hiện nhiều điểm khác biệt đáng chú ý, khi nhu cầu tín dụng tăng mạnh, còn nguồn vốn huy động chưa kịp tăng tương ứng, tạo áp lực rõ nét lên cân đối vốn của hệ thống ngân hàng. Áp lực càng gia tăng khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh cách tính tỷ lệ cho vay/huy động (LDR), trong đó, loại trừ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.

Điều này khiến khối ngân hàng quốc doanh chịu tác động mạnh, bởi quy mô tiền gửi kho bạc rất lớn. Việc loại trừ nguồn tiền này làm thanh khoản của nhóm “big 4” (4 ngân hàng thương mại nhà nước) căng lên đột ngột, buộc phải tăng lãi suất huy động để bù đắp nguồn vốn, cho thấy áp lực không loại trừ bất kỳ ngân hàng nào.

PV: Khi tăng trưởng tín dụng bị “nén” lại, nhóm ngân hàng nào sẽ vượt trội so với mặt bằng chung và dòng vốn tín dụng sẽ được phân bổ theo hướng nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Thế Minh: Tỷ lệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP trong quá khứ thường dao động trên 1,6 lần. Năm 2025, với tăng trưởng GDP 8,02% và tăng trưởng tín dụng ước đạt 19%, tỷ lệ này đã vượt trên 2 lần. Nếu muốn đạt tăng trưởng 10% trong năm 2026, tăng trưởng room tín dụng tương ứng trên 20%, còn trung bình tối thiểu hàng năm khoảng 16%.

Trong bối cảnh mục tiêu room tín dụng năm nay khoảng 15%, Chính phủ nhiều khả năng sẽ kích hoạt thêm các chính sách và công cụ khác để hỗ trợ tăng trưởng, trong đó, thị trường vốn sẽ đóng vai trò “đầu tàu” kéo tăng trưởng.

Lãi suất xoay chiều, thị trường sẽ thanh lọc mạnh hơn

Ông Nguyễn Thế Minh dự báo, mặt bằng lãi suất năm 2026 nhiều khả năng dao động ở mức 8 - 9,5%. Với các dự án bất động sản có vị trí tốt, thanh khoản cao, mức lãi suất này có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, so với năm 2025 (lãi suất phổ biến từ 6,5 - 7% hoặc khoảng 8%), thì mức lãi suất này cao hơn đáng kể. Khi lãi suất tăng trở lại, thị trường sẽ thanh lọc mạnh hơn về năng lực tài chính, từ đó hình thành mô hình tăng trưởng "chữ K", khi một nhóm tăng trưởng, trong khi nhóm còn lại có thể suy giảm.

Về cơ chế phân bổ, hệ số điều chỉnh đã được giảm từ khoảng 3,5% trong năm ngoái, xuống 2,6% trong năm nay, khiến room tín dụng của từng ngân hàng nhìn chung thấp hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng kết quả xếp hạng CAMELS năm 2024 cho thấy, những ngân hàng có quy mô lớn và bộ đệm vốn dày vẫn sẽ chiếm ưu thế trong phân bổ hạn mức.

Theo tôi, Techcombank, Vietcombank, MB, ACB... là những ngân hàng có hệ số CAMELS ở mức khá cao, gần như nằm trong nhóm dẫn đầu và sẽ là các ngân hàng hưởng lợi lớn. Với nhóm này, room tín dụng trong năm 2026 nhiều khả năng ở mức 18 - 19%. Các ngân hàng tham gia nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém cũng được phân bổ room cao hơn nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu.

PV: Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính ngân hàng và sẽ hạ room nếu không tuân thủ. Theo ông, điều này sẽ tác động thế nào tới các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản cao?

Ông Nguyễn Thế Minh: Sau khi Luật Đất đai (sửa đổi) có hiệu lực, có thể thấy “cuộc chơi” của thị trường bất động sản thay đổi rõ rệt, không còn giống giai đoạn trước đây khi các doanh nghiệp vốn mỏng, quy mô nhỏ cũng có thể tham gia và kiếm lợi nhuận, thậm chí đạt lợi nhuận cao.

Từ các quy định sửa đổi của Luật Đất đai năm 2024 và tiếp tục sửa đổi năm 2025, thị trường bất động sản đã bước sang một giai đoạn mới, đòi hỏi các chủ đầu tư phải hội tụ 2 yếu tố then chốt. Thứ nhất, năng lực về vốn và năng lực tài chính phải đủ mạnh thì mới có thể tham gia thị trường. Thứ hai, phải có năng lực triển khai dự án, thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. Như vậy, có thể thấy, Luật Đất đai (sửa đổi) đóng vai trò "thanh lọc" thị trường bất động sản.

Xét ở góc độ kiểm soát tín dụng, tác động đến thị trường bất động sản được đánh giá là không quá lớn. Room tín dụng nhìn chung không phải là vấn đề đáng lo ngại, bởi ngay cả khi áp trần hay giới hạn với lĩnh vực bất động sản, nguồn vốn vẫn đủ bảo đảm các hoạt động của thị trường, chưa đến mức căng thẳng hay gây lo ngại lớn.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp đang tham gia và trụ vững trên thị trường bất động sản như Vinhomes, Khang Điền hay Nam Long… đều là các chủ đầu tư có chất lượng tốt, quy mô phù hợp, mức đòn bẩy tài chính an toàn và có năng lực triển khai dự án rõ ràng. Do đó, khả năng cung ứng tín dụng cho thị trường bất động sản trong năm 2026 được đánh giá chưa tạo ra áp lực lớn.

Room tín dụng nhìn chung vẫn ổn, nhưng lãi suất mới là biến số cần theo dõi sát. Tôi cho rằng, khả năng cao là mặt bằng lãi suất sẽ điều chỉnh trong năm nay. Đây mới là yếu tố tác động rõ nét đến thị trường bất động sản.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,790 ▲100K 16,490 ▲100K
Trang sức 99.99 15,800 ▲100K 16,500 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▲163K 16,602 ▲16602K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▲163K 16,603 ▲16603K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1625K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1625K 1,656 ▲1656K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1605K 164 ▲164K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▲155876K 162,376 ▲162376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▲114262K 123,162 ▲123162K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▲102781K 111,681 ▲111681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▲913K 1,002 ▲1002K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▲86872K 95,772 ▲95772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲59645K 68,545 ▲68545K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Cập nhật: 06/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18573 18850 19428
CAD 18832 19110 19724
CHF 33142 33528 34174
CNY 0 3824 3915
EUR 30359 30633 31661
GBP 35056 35450 36384
HKD 0 3228 3430
JPY 162 166 172
KRW 0 16 18
NZD 0 15399 15987
SGD 20220 20503 21033
THB 733 796 849
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26368
AUD 18763 18863 19788
CAD 19018 19118 20129
CHF 33391 33421 35004
CNY 3804.4 3829.4 3964.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30545 30575 32301
GBP 35362 35412 37173
HKD 0 3355 0
JPY 165.3 165.8 176.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15512 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20386 20516 21239
THB 0 762.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80