Phát triển trái phiếu để giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng

Thu Hương
(TBTCO) - Lạm phát ổn định, nhưng thanh khoản ngân hàng vẫn chịu áp lực khi tín dụng tăng nhanh. Trong bối cảnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
aa
Mở rộng phát hành và hoàn thiện cấu trúc là trọng tâm của thị trường trái phiếu

Thanh khoản ngân hàng chịu áp lực

Theo phân tích của S&I Ratings, tình hình lạm phát của Việt Nam trong năm 2025 nhìn chung ổn định nhờ nhiều yếu tố thuận lợi từ cả bên ngoài và trong nước. Trên thế giới, giá năng lượng không chịu áp lực tăng mạnh, lạm phát tại các nền kinh tế lớn dần quay về mức mục tiêu, trong khi xu hướng suy yếu của đồng USD góp phần giảm áp lực nhập khẩu lạm phát.

Trong nước, các chính sách hỗ trợ như giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu và giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) tiếp tục giúp kiềm chế mặt bằng giá. Bên cạnh đó, sức cầu nội địa chưa thực sự mạnh khiến chi phí tăng do VND mất giá chưa được chuyển tải hoàn toàn vào giá bán. Trên cơ sở đó, S&I Ratings cho rằng, mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% là khả thi, thậm chí lạm phát thực tế có thể quanh mức 4%.

Phát triển trái phiếu để giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng

Áp lực tỷ giá cũng được dự báo giảm bớt trong năm 2026. Trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) tiếp tục xu hướng hạ lãi suất, trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) duy trì ổn định lãi suất, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD được nới rộng, qua đó hỗ trợ sức hấp dẫn của đồng nội tệ.

Dòng vốn FDI giải ngân ổn định cùng triển vọng xuất siêu tiếp tục duy trì cũng góp phần hỗ trợ tỷ giá. Tuy vậy, việc nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trên thị trường chứng khoán vẫn tạo áp lực nhất định, dù xu hướng này được kỳ vọng sẽ giảm khi các chính sách hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài có hiệu lực và Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi.

Giới phân tích nhận định rằng, khoảng 80% nguồn vốn huy động của các ngân hàng là ngắn hạn, trong khi gần 50% dư nợ cho vay lại là trung và dài hạn, khiến hệ thống thiếu hụt khoảng 5 triệu tỷ đồng vốn dài hạn và phải bù đắp bằng nguồn vốn ngắn hạn.

Một điểm đáng chú ý của hệ thống tài chính là tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 19%, mức cao nhất kể từ năm 2011 và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng huy động. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,6 triệu tỷ đồng, trong khi tổng huy động vốn khoảng 16,8 triệu tỷ đồng, tạo ra chênh lệch gần 1,6 triệu tỷ đồng.

Các ngân hàng thương mại đã tăng lãi suất huy động từ cuối năm 2025 nhằm cải thiện nguồn vốn, song thanh khoản vẫn duy trì trạng thái căng thẳng. Ngân hàng Nhà nước phải liên tục sử dụng các công cụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản VND. Trong phiên ngày 4/2/2026, quy mô OMO lưu hành đã lên mức kỷ lục khoảng 450 nghìn tỷ đồng, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng qua đêm trước đó tăng mạnh lên 19,5%.

Tuy nhiên, các biện pháp này chủ yếu mang tính ngắn hạn và chưa giải quyết triệt để sự mất cân đối thanh khoản. Áp lực huy động xuất phát từ môi trường lãi suất thấp kéo dài làm giảm sức hấp dẫn của tiền gửi, trong khi các kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất động sản, tiền số và vàng trở nên sôi động hơn.

Trái phiếu mở rộng kênh vốn

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%, thấp hơn mức thực hiện năm 2025 nhằm đảm bảo ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống. Đồng thời, cơ quan quản lý yêu cầu kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro, đặc biệt là bất động sản, để ưu tiên vốn cho các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh.

Phát triển trái phiếu để giảm phụ thuộc tín dụng ngân hàng

Khi room tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, nguồn vốn ngân hàng ngày càng trở nên hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư của nền kinh tế lại tăng mạnh. Hàng loạt dự án quy mô lớn đang được triển khai, từ các siêu đô thị đến các chương trình đầu tư công, chuyển đổi số, năng lượng xanh và mở rộng sản xuất.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn, việc phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng được đánh giá là không bền vững và tiềm ẩn rủi ro cho hệ thống tài chính. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nhằm tạo thêm kênh huy động vốn cho nền kinh tế.

Hiện nay, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam mới tương đương khoảng 11% GDP, thấp hơn rất nhiều so với tín dụng ngân hàng khoảng 145% GDP và thị trường cổ phiếu khoảng 78% GDP. Khoảng cách này cho thấy dư địa phát triển của thị trường trái phiếu còn rất lớn so với mục tiêu đạt khoảng 25% GDP vào năm 2030.

Vì vậy, trái phiếu doanh nghiệp được xem là kênh then chốt để bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Chính phủ đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý và siết chặt các tiêu chuẩn phát hành nhằm nâng cao chất lượng thị trường, đồng thời khuyến khích phát hành ra công chúng để thu hút nguồn vốn từ khu vực dân cư và các tổ chức kinh tế.

Khi niềm tin của nhà đầu tư được khôi phục và khuôn khổ pháp lý ngày càng minh bạch, thị trường trái phiếu được kỳ vọng sẽ trở thành một trụ cột quan trọng của hệ thống tài chính, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế./.

Thu Hương

Đọc thêm

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (mã ck: VIB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80