USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều tín hiệu cho thấy, căng thẳng Mỹ - Israel với Iran góp phần củng cố sức mạnh đồng USD. Chỉ số DXY nhiều thời điểm vượt 99 điểm, mức cao nhất từ cuối tháng 1/2026. Diễn biến này lan tỏa gián tiếp khiến tỷ giá USD trong nước nhích lên, USD tự do tiến sát 27.000 đồng. Trong bối cảnh đó, điều hành tỷ giá linh hoạt và kiểm soát lạm phát hiệu quả sẽ giúp Việt Nam vượt biến động.
aa
Tỷ giá nhích tăng do tình hình Trung Đông căng thẳng Bất ổn địa chính trị tại Trung Đông: “Phép thử” với doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường Halal Thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp tại Trung Đông

Nhiều tín hiệu cho thấy USD mạnh lên

Những ngày vừa qua, Mỹ phối hợp với Israel tiến hành các đợt không kích nhằm vào nhiều mục tiêu tại Iran. Ngay sau đó, Iran đã đáp trả bằng các cuộc tấn công vào những địa điểm liên quan đến Mỹ và Israel trong khu vực. Diễn biến này khiến căng thẳng tại Trung Đông leo thang nhanh chóng, đồng thời làm gia tăng rủi ro địa chính trị trên phạm vi toàn cầu.

Đánh giá xung quanh sự kiện xung đột Mỹ - Israel với Iran và tác động tới Việt Nam, ông Trần Minh Hoàng - Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) đánh giá, chiến sự Mỹ - Israel với Iran không tác động trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam, song tác động lan tỏa đến các kênh gián tiếp lên tỷ giá; thị trường hàng hóa; rủi ro nhập khẩu lạm phát.

USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động
Nguồn: VCBS.

Theo chuyên gia VCBS, rủi ro chính hiện nay nằm ở mức độ bất định cao của cục diện xung đột. Trong bối cảnh căng thẳng vẫn chưa có tín hiệu hạ nhiệt rõ ràng, DXY - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác - có khả năng duy trì xu hướng tăng. Bên cạnh yếu tố tâm lý phòng thủ, yếu tố nền tảng cũng phần nào hỗ trợ USD khi Mỹ hiện là nước xuất khẩu năng lượng ròng.

Trong trường hợp giá dầu và khí đốt tiếp tục tăng do rủi ro gián đoạn nguồn cung, cán cân năng lượng của Mỹ có thể cải thiện tương đối so với nhiều nền kinh tế nhập khẩu ròng, qua đó, củng cố sức mạnh tương đối của USD.

Một tuần gần đây, chỉ số DXY nhiều thời điểm vượt 99 điểm, cao nhất tính từ cuối tháng 1/2026 đến nay.

"Việc DXY đảo chiều sang xu hướng mạnh lên có thể tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND trong thời gian tới. Áp lực này càng gia tăng trong bối cảnh thị trường đang kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì mặt bằng lãi suất hiện tại trong thời gian dài hơn dự kiến, thậm chí, một số quan chức Fed không loại trừ khả năng tái thắt chặt chính sách tiền tệ nếu lạm phát vẫn dai dẳng".

- Ông Trần Minh Hoàng - Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích VCBS

Ngoài ra, nhóm phân tích VCBS cũng lưu ý rủi ro lạm phát nhập khẩu trong trường hợp USD mạnh lên, đồng thời giá năng lượng tăng cao.

"Việt Nam có thể chịu tác động kép từ biến động tỷ giá và giá hàng hóa quốc tế, qua đó, tạo áp lực lên CPI trong các quý tiếp theo, nếu căng thẳng địa chính trị kéo dài" - VCBS nhận định.

Thực tế cho thấy, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng trên cả thị trường chính thức và tự do so với cuối tuần trước.

Ngày 5/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.055 VND/USD, tăng 3 đồng so với phiên trước và cao hơn khoảng 11 đồng so với cuối tuần trước. Nếu xu hướng này tiếp diễn, tỷ giá trung tâm có khả năng chốt tuần trong trạng thái tăng nhẹ so với tuần trước, qua đó, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp.

Tại các ngân hàng thương mại, giá bán USD cũng nhích lên cùng giai đoạn. Đáng chú ý, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn khi tỷ giá USD áp sát 27.000 đồng, hiện giao dịch ở mức 26.850 - 26.900 VND/USD, tăng 220 đồng so với cuối tuần trước. Diễn biến này cho thấy áp lực lên tỷ giá gia tăng trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và rủi ro địa chính trị toàn cầu gia tăng.

USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động
Nguồn: VCBS.

Phát biểu tại họp báo Chính phủ vừa qua, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nhận định, diễn biến leo thang căng thẳng địa chính trị, quân sự tại khu vực Trung Đông khiến giá dầu tăng cao, tạo áp lực lên lạm phát.

"Các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, trong đó có Fed, trở nên thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất, có ngân hàng trung ương đã phát tín hiệu tăng lãi suất sớm trong tháng 3/2026 để kiểm soát lạm phát, tạo sức ép lên tỷ giá và thị trường tiền tệ trong nước" - lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đánh giá.

Còn theo TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam, áp lực đối với tỷ giá có thể xảy ra, nếu chênh lệch lãi suất và dòng vốn quốc tế dịch chuyển theo chiều hướng bất lợi. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu, biến động tỷ giá có thể làm gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát, qua đó, tạo thêm sức ép lên mặt bằng giá trong nước.

Tác động nhiều chiều các lĩnh vực

Eo biển Hormuz là “nút cổ chai” chiến lược của hệ thống năng lượng toàn cầu, nối vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương. Hiện khoảng 15 - 20% nguồn cung dầu thô thế giới, tương đương trên 14 triệu thùng/ngày được vận chuyển qua eo biển Hormuz, chủ yếu từ Saudi Arabia, UAE, Kuwait, Iraq và Iran.

Đồng thời, gần 20% thương mại khí hóa lỏng (LNG) toàn cầu, phần lớn từ Qatar, cũng phụ thuộc vào hành lang hàng hải này. Với quy mô chi phối lớn như vậy, rủi ro gián đoạn tại Hormuz đều có thể tạo ra cú sốc cung tức thời, khiến giá dầu và khí đốt phản ứng mạnh.

USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động
USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông. Ảnh minh họa.

Theo chuyên gia VCBS, với quy mô chi phối lớn như vậy, bất kỳ rủi ro gián đoạn nào tại Hormuz đều có thể tạo ra cú sốc cung tức thời, khiến giá dầu và khí đốt phản ứng mạnh. Trong kịch bản căng thẳng leo thang, tác động ban đầu thường xuất hiện qua kênh bảo hiểm và logistics trước khi sản lượng vật lý bị ảnh hưởng.

"Việc gia tăng rủi ro an ninh tại vịnh Ba Tư có thể khiến phí bảo hiểm tàu biển tăng vọt, thậm chí một số hãng bảo hiểm hạn chế hoặc từ chối bảo hiểm cho tàu đi qua khu vực. Khi chi phí vận tải và bảo hiểm leo thang, giá dầu giao ngay và hợp đồng kỳ hạn thường tăng trước do thị trường định giá rủi ro địa chính trị, kể cả khi nguồn cung thực tế chưa suy giảm đáng kể" - ông Trần Minh Hoàng đánh giá.

Đánh giá lên tác động ngành ngân hàng, chuyên gia VCBS cho rằng, chiến tranh kéo dài và giá dầu tăng cao có thể tác động mạnh lên lạm phát nói chung của các nền kinh tế lớn. Theo đó, nhiều khả năng tác động tới chính sách tiền tệ theo hướng tạm ngừng nới lỏng, tạo ra áp lực về tỷ giá tiềm tàng đối với Việt Nam.

"Trong kịch bản xấu, mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó có thể giảm, ảnh hưởng tới chi phí vốn của các ngân hàng nội địa" - chuyên gia VCBS nhìn nhận.

Do đó, thực trạng lãi suất cao, đặc biệt với các khoản vay bất động sản có thể sẽ tiếp tục duy trì trong thời gian tới. Điều này sẽ đặt áp lực đến bức tranh tài chính của các doanh nghiệp bất động sản, cũng như tỷ lệ hấp thụ của các đợt mở bán./.

Kiểm soát lạm phát và điều hành tỷ giá linh hoạt là tiên quyết

Trong bối cảnh địa chính trị biến động, chuyên gia VCBS nhấn mạnh, Việt Nam vẫn có thể xoay chuyển thách thức thành cơ hội. Nếu duy trì được ổn định vĩ mô, Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm đến an toàn cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có xu hướng rời xa các khu vực rủi ro. Ngoài ra, với các hiệp định thương mại tự do sâu rộng, Việt Nam có lợi thế trong việc trở thành một mắt xích thiết yếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là kiểm soát tốt lạm phát chi phí đẩy và điều hành tỷ giá linh hoạt. Sự kết hợp giữa ổn định chính trị và chính sách tài khóa sẽ giúp Việt Nam thành một "điểm sáng" tăng trưởng hiếm hoi trong bức tranh kinh tế toàn cầu nhiều biến số hiện nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Sáng ngày 9/4, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.102 VND/USD. Trong biên độ 5%, tỷ giá ngân hàng dao động 23.847 - 26.357 VND/USD, trong khi thị trường tự do rớt mất mốc 27.000 đồng. Chỉ số DXY quanh 99,07 điểm, biến động trước rủi ro địa chính trị, tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz vẫn chưa được giải quyết triệt để, bất chấp lệnh ngừng bắn tạm thời.
Tỷ giá USD hôm nay (7/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, USD tự do giảm mạnh lùi sát mốc 27.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (7/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, USD tự do giảm mạnh lùi sát mốc 27.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 7/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 2 đồng lên 25.108 VND/USD, trong khi tỷ giá USD tự do giảm mạnh 250 đồng, lùi sát mốc 27.000 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY đi ngang quanh 100 điểm, phản ánh USD tạm ổn định khi vai trò trú ẩn suy yếu do kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông, dù vẫn được hỗ trợ bởi giá dầu cao và lập trường thận trọng của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (6/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD tự do giảm mạnh hơn 100 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (6/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD tự do giảm mạnh hơn 100 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 6/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.106 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại ngân hàng dao động 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY đi ngang quanh 100,03 điểm, cho thấy USD tạm ổn định khi thị trường thận trọng chờ tín hiệu mới về lạm phát, chính sách Fed và rủi ro địa chính trị.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
Kim TT/AVPL 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
Nguyên Liệu 99.99 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,800 ▲100K 16,000 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,650 ▲100K 17,050 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,600 ▲100K 17,000 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,530 ▲100K 16,980 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 ▲1200K 172,200 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 169,200 ▲1200K 172,200 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 169,200 ▲1200K 172,200 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 169,200 ▲1200K 172,200 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 169,200 ▲1200K 172,200 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 ▲1200K 172,200 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,950 ▲150K 17,250 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,950 ▲150K 17,250 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,950 ▲150K 17,250 ▲150K
NL 99.90 15,550 ▲80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,580 ▲80K
Trang sức 99.9 16,440 ▲150K 17,140 ▲150K
Trang sức 99.99 16,450 ▲150K 17,150 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,697 ▲12K 17,272 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,697 ▲12K 17,273 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,694 ▲1526K 1,724 ▲1553K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,694 ▲1526K 1,725 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,674 ▲1508K 1,709 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,708 ▲1386K 169,208 ▲1386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,438 ▲1050K 128,338 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,474 ▲952K 116,374 ▲952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,509 ▲854K 104,409 ▲854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,895 ▲817K 99,795 ▲817K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,522 ▲583K 71,422 ▲583K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 ▲12K 1,727 ▲12K
Cập nhật: 10/04/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18074 18349 18924
CAD 18500 18777 19393
CHF 32686 33070 33723
CNY 0 3800 3870
EUR 30206 30480 31508
GBP 34591 34983 35915
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15073 15658
SGD 20121 20404 20930
THB 735 798 852
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/04/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80