USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều tín hiệu cho thấy, căng thẳng Mỹ - Israel với Iran góp phần củng cố sức mạnh đồng USD. Chỉ số DXY nhiều thời điểm vượt 99 điểm, mức cao nhất từ cuối tháng 1/2026. Diễn biến này lan tỏa gián tiếp khiến tỷ giá USD trong nước nhích lên, USD tự do tiến sát 27.000 đồng. Trong bối cảnh đó, điều hành tỷ giá linh hoạt và kiểm soát lạm phát hiệu quả sẽ giúp Việt Nam vượt biến động.
aa
Tỷ giá nhích tăng do tình hình Trung Đông căng thẳng Bất ổn địa chính trị tại Trung Đông: “Phép thử” với doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường Halal Thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp tại Trung Đông

Nhiều tín hiệu cho thấy USD mạnh lên

Những ngày vừa qua, Mỹ phối hợp với Israel tiến hành các đợt không kích nhằm vào nhiều mục tiêu tại Iran. Ngay sau đó, Iran đã đáp trả bằng các cuộc tấn công vào những địa điểm liên quan đến Mỹ và Israel trong khu vực. Diễn biến này khiến căng thẳng tại Trung Đông leo thang nhanh chóng, đồng thời làm gia tăng rủi ro địa chính trị trên phạm vi toàn cầu.

Đánh giá xung quanh sự kiện xung đột Mỹ - Israel với Iran và tác động tới Việt Nam, ông Trần Minh Hoàng - Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) đánh giá, chiến sự Mỹ - Israel với Iran không tác động trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam, song tác động lan tỏa đến các kênh gián tiếp lên tỷ giá; thị trường hàng hóa; rủi ro nhập khẩu lạm phát.

USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động
Nguồn: VCBS.

Theo chuyên gia VCBS, rủi ro chính hiện nay nằm ở mức độ bất định cao của cục diện xung đột. Trong bối cảnh căng thẳng vẫn chưa có tín hiệu hạ nhiệt rõ ràng, DXY - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác - có khả năng duy trì xu hướng tăng. Bên cạnh yếu tố tâm lý phòng thủ, yếu tố nền tảng cũng phần nào hỗ trợ USD khi Mỹ hiện là nước xuất khẩu năng lượng ròng.

Trong trường hợp giá dầu và khí đốt tiếp tục tăng do rủi ro gián đoạn nguồn cung, cán cân năng lượng của Mỹ có thể cải thiện tương đối so với nhiều nền kinh tế nhập khẩu ròng, qua đó, củng cố sức mạnh tương đối của USD.

Một tuần gần đây, chỉ số DXY nhiều thời điểm vượt 99 điểm, cao nhất tính từ cuối tháng 1/2026 đến nay.

"Việc DXY đảo chiều sang xu hướng mạnh lên có thể tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND trong thời gian tới. Áp lực này càng gia tăng trong bối cảnh thị trường đang kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì mặt bằng lãi suất hiện tại trong thời gian dài hơn dự kiến, thậm chí, một số quan chức Fed không loại trừ khả năng tái thắt chặt chính sách tiền tệ nếu lạm phát vẫn dai dẳng".

- Ông Trần Minh Hoàng - Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích VCBS

Ngoài ra, nhóm phân tích VCBS cũng lưu ý rủi ro lạm phát nhập khẩu trong trường hợp USD mạnh lên, đồng thời giá năng lượng tăng cao.

"Việt Nam có thể chịu tác động kép từ biến động tỷ giá và giá hàng hóa quốc tế, qua đó, tạo áp lực lên CPI trong các quý tiếp theo, nếu căng thẳng địa chính trị kéo dài" - VCBS nhận định.

Thực tế cho thấy, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng trên cả thị trường chính thức và tự do so với cuối tuần trước.

Ngày 5/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.055 VND/USD, tăng 3 đồng so với phiên trước và cao hơn khoảng 11 đồng so với cuối tuần trước. Nếu xu hướng này tiếp diễn, tỷ giá trung tâm có khả năng chốt tuần trong trạng thái tăng nhẹ so với tuần trước, qua đó, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp.

Tại các ngân hàng thương mại, giá bán USD cũng nhích lên cùng giai đoạn. Đáng chú ý, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn khi tỷ giá USD áp sát 27.000 đồng, hiện giao dịch ở mức 26.850 - 26.900 VND/USD, tăng 220 đồng so với cuối tuần trước. Diễn biến này cho thấy áp lực lên tỷ giá gia tăng trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và rủi ro địa chính trị toàn cầu gia tăng.

USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động
Nguồn: VCBS.

Phát biểu tại họp báo Chính phủ vừa qua, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nhận định, diễn biến leo thang căng thẳng địa chính trị, quân sự tại khu vực Trung Đông khiến giá dầu tăng cao, tạo áp lực lên lạm phát.

"Các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, trong đó có Fed, trở nên thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất, có ngân hàng trung ương đã phát tín hiệu tăng lãi suất sớm trong tháng 3/2026 để kiểm soát lạm phát, tạo sức ép lên tỷ giá và thị trường tiền tệ trong nước" - lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đánh giá.

Còn theo TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam, áp lực đối với tỷ giá có thể xảy ra, nếu chênh lệch lãi suất và dòng vốn quốc tế dịch chuyển theo chiều hướng bất lợi. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu, biến động tỷ giá có thể làm gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát, qua đó, tạo thêm sức ép lên mặt bằng giá trong nước.

Tác động nhiều chiều các lĩnh vực

Eo biển Hormuz là “nút cổ chai” chiến lược của hệ thống năng lượng toàn cầu, nối vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương. Hiện khoảng 15 - 20% nguồn cung dầu thô thế giới, tương đương trên 14 triệu thùng/ngày được vận chuyển qua eo biển Hormuz, chủ yếu từ Saudi Arabia, UAE, Kuwait, Iraq và Iran.

Đồng thời, gần 20% thương mại khí hóa lỏng (LNG) toàn cầu, phần lớn từ Qatar, cũng phụ thuộc vào hành lang hàng hải này. Với quy mô chi phối lớn như vậy, rủi ro gián đoạn tại Hormuz đều có thể tạo ra cú sốc cung tức thời, khiến giá dầu và khí đốt phản ứng mạnh.

USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động
USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông. Ảnh minh họa.

Theo chuyên gia VCBS, với quy mô chi phối lớn như vậy, bất kỳ rủi ro gián đoạn nào tại Hormuz đều có thể tạo ra cú sốc cung tức thời, khiến giá dầu và khí đốt phản ứng mạnh. Trong kịch bản căng thẳng leo thang, tác động ban đầu thường xuất hiện qua kênh bảo hiểm và logistics trước khi sản lượng vật lý bị ảnh hưởng.

"Việc gia tăng rủi ro an ninh tại vịnh Ba Tư có thể khiến phí bảo hiểm tàu biển tăng vọt, thậm chí một số hãng bảo hiểm hạn chế hoặc từ chối bảo hiểm cho tàu đi qua khu vực. Khi chi phí vận tải và bảo hiểm leo thang, giá dầu giao ngay và hợp đồng kỳ hạn thường tăng trước do thị trường định giá rủi ro địa chính trị, kể cả khi nguồn cung thực tế chưa suy giảm đáng kể" - ông Trần Minh Hoàng đánh giá.

Đánh giá lên tác động ngành ngân hàng, chuyên gia VCBS cho rằng, chiến tranh kéo dài và giá dầu tăng cao có thể tác động mạnh lên lạm phát nói chung của các nền kinh tế lớn. Theo đó, nhiều khả năng tác động tới chính sách tiền tệ theo hướng tạm ngừng nới lỏng, tạo ra áp lực về tỷ giá tiềm tàng đối với Việt Nam.

"Trong kịch bản xấu, mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó có thể giảm, ảnh hưởng tới chi phí vốn của các ngân hàng nội địa" - chuyên gia VCBS nhìn nhận.

Do đó, thực trạng lãi suất cao, đặc biệt với các khoản vay bất động sản có thể sẽ tiếp tục duy trì trong thời gian tới. Điều này sẽ đặt áp lực đến bức tranh tài chính của các doanh nghiệp bất động sản, cũng như tỷ lệ hấp thụ của các đợt mở bán./.

Kiểm soát lạm phát và điều hành tỷ giá linh hoạt là tiên quyết

Trong bối cảnh địa chính trị biến động, chuyên gia VCBS nhấn mạnh, Việt Nam vẫn có thể xoay chuyển thách thức thành cơ hội. Nếu duy trì được ổn định vĩ mô, Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm đến an toàn cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có xu hướng rời xa các khu vực rủi ro. Ngoài ra, với các hiệp định thương mại tự do sâu rộng, Việt Nam có lợi thế trong việc trở thành một mắt xích thiết yếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là kiểm soát tốt lạm phát chi phí đẩy và điều hành tỷ giá linh hoạt. Sự kết hợp giữa ổn định chính trị và chính sách tài khóa sẽ giúp Việt Nam thành một "điểm sáng" tăng trưởng hiếm hoi trong bức tranh kinh tế toàn cầu nhiều biến số hiện nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

(TBTCO) - Sáng 30/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 14 đồng lên 25.320 đồng/USD, tiếp tục lập vùng cao nhất từ trước đến nay, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại giảm nhẹ. Chỉ số DXY phục hồi lên 100,87 điểm sau quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed, song thị trường vẫn kỳ vọng Fed có thể tăng lãi suất một lần trước cuối năm.
Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

(TBTCO) - Fed giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 3,5% - 3,75% trong kỳ họp thứ 5 liên tiếp, nhưng kết quả biểu quyết 9 - 3 với ba thành viên ủng hộ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm phát đi tín hiệu chính sách vẫn nghiêng về hướng "diều hâu". Lạm phát còn cao hơn mục tiêu 2%, để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt nếu áp lực giá cả chưa giảm như kỳ vọng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/7): Tỷ giá trung tâm neo ở đỉnh lịch sử, thị trường chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/7): Tỷ giá trung tâm neo ở đỉnh lịch sử, thị trường chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/7, tỷ giá trung tâm giữ nguyên mức 25.306 đồng, neo ở vùng đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm mạnh, nới rộng khoảng cách với các ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 101,39 điểm trước thềm cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), thị trường vẫn thận trọng và nghiêng về kịch bản giữ nguyên lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (28/7): Tỷ giá trung tâm vượt đỉnh lịch sử, DXY duy trì vùng cao trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (28/7): Tỷ giá trung tâm vượt đỉnh lịch sử, DXY duy trì vùng cao trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 28/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.306 đồng, tăng 13 đồng so với cuối tuần trước và chính thức vượt đỉnh lịch sử 25.298 đồng thiết lập ngày 25/8/2025. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,05% lên 101,51 điểm, duy trì vùng cao. Thị trường hiện tập trung vào cuộc họp của Fed, đặc biệt là phát biểu của Chủ tịch Fed trong bối cảnh giá năng lượng giảm đang hỗ trợ hạ nhiệt lạm phát.
Tỷ giá USD hôm nay (27/7): USD tăng đầu tuần, kỳ vọng nhiều ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (27/7): USD tăng đầu tuần, kỳ vọng nhiều ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 27/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lên 25.293 đồng trong phiên đầu tuần, trong bối cảnh chỉ số DXY vẫn duy trì trên mốc 110 điểm. Thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cùng giữ nguyên lãi suất, khi giá dầu lao dốc hơn 5% nhờ kỳ vọng căng thẳng tại Trung Đông hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cập nhật: 03/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18713
CAD 18179 18455 19072
CHF 31823 32204 32861
CNY 0 3850 3943
EUR 29644 29866 30949
GBP 34563 34955 35893
HKD 0 3220 3422
JPY 160 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15094 15685
SGD 19947 20229 20808
THB 703 766 820
USD (1,2) 26011 0 0
USD (5,10,20) 26052 0 0
USD (50,100) 26081 26090 26460
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26475
AUD 18060 18160 19085
CAD 18366 18466 19480
CHF 32113 32143 33721
CNY 3830.5 3855.5 3990.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29836 29866 31589
GBP 34857 34907 36660
HKD 0 3355 0
JPY 163.92 164.42 174.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20108 20238 20965
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80