Dự báo NIM ngành ngân hàng tăng tới 50 điểm cơ bản, vẫn cần thận trọng nhiều rủi ro

Ánh Tuyết
Năm 2026, Chứng khoán KAFI dự báo NIM toàn ngành ngân hàng tăng 5 - 50 điểm cơ bản, khi lãi suất cho vay nhích lên, qua đó, thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng 21,5%. Cùng với điều hành tín dụng hiệu quả, chọn lọc hơn từ cơ quan quản lý, dòng vốn được kỳ vọng bám sát nhu cầu thực và hạn chế rủi ro. Nợ xấu, rủi ro chu kỳ bất động sản... vẫn là những rủi ro cần theo dõi.
aa
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%
Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Lãi suất cho vay tăng, NIM kỳ vọng tăng nhẹ

Trong báo cáo về ngành ngân hàng với tựa đề "Vững đà tăng trưởng", Công ty Cổ phần Chứng khoán KAFI cho rằng, ngành ngân hàng được đánh giá tích cực, nhờ bối cảnh kinh tế vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng; đồng thời, khung pháp lý của ngành tiếp tục được nâng cấp, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Theo đó, tăng trưởng tín dụng được dự báo hạ nhiệt so với năm 2025 do trong năm 2026, các ngân hàng ưu tiên mục tiêu tăng trưởng bền vững hơn sau một năm 2025 tăng trưởng mạnh. Tuy vậy, tín dụng vẫn duy trì ở mức cao, nhờ các động lực tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì, cùng với chính sách tài khóa mở rộng.

"Chúng tôi kỳ vọng cơ quan quản lý sẽ điều hành tín dụng hiệu quả hơn, phân bổ vốn vào những lĩnh vực ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước và gắn với nhu cầu tín dụng thực, hạn chế những lĩnh vực rủi ro" - Chứng khoán Kafi nêu bật.

"NIM sẽ tăng nhẹ 5 - 50 điểm cơ bản, nhờ cho vay bán lẻ tiếp tục đà phục hồi, hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ dần đi vào ổn định, các ngân hàng mở rộng cho vay dài hạn và việc dần tháo gỡ room tín dụng giúp lãi suất cho vay được tái định giá" - Chứng khoán Kafi nhận định.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Kafi, ước tính biên lãi ròng (NIM) toàn ngành sẽ tăng nhẹ nhờ 4 yếu tố.

Thứ nhất, lãi suất cho vay tăng nhẹ, lợi suất tài sản được cải thiện khi các ngân hàng gia tăng cho vay trung và dài hạn.

Thứ hai, hoạt động xử lý nợ xấu diễn ra nhanh chóng hơn, góp phần định hướng dòng vốn vào các tài sản có hiệu suất tốt.

Chất lượng tài sản được cải thiện nhờ môi trường vĩ mô thuận lợi, các dự án bất động sản từng bước được tháo gỡ vướng mắc pháp lý và thu nhập của người dân gia tăng. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành được dự báo giảm xuống mức 1,57% trong năm 2026, so với 1,61% trong năm 2025. Chi phí tín dụng dự kiến đi ngang khi tỷ lệ hình thành nợ xấu mới của ngành ngân hàng giảm và nợ xấu được xử lý nhanh hơn nhờ Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã được luật hóa từ năm 2025.

Thứ ba, hoạt động cho vay bán lẻ cải thiện khi nhu cầu vay vốn phục hồi và chất lượng tín dụng được nâng cao.

Thứ tư, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn ngành duy trì ổn định trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được thúc đẩy.

Dự báo NIM ngành ngân hàng tăng tới 50 điểm cơ bản, vẫn cần thận trọng nhiều rủi ro

"Lợi nhuận của các ngân hàng tăng trưởng khả quan hơn năm 2026 nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, NIM cải thiện nhẹ, thu nhập ngoài lãi mở rộng và chất lượng tài sản được kiện toàn" - Chứng khoán Kafi đánh giá. Theo đó, lợi nhuận toàn ngành được dự báo tăng 18,6%, cao hơn mức tăng năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, NIM cải thiện nhẹ, qua đó, thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng trưởng 21,5% cùng kỳ.

Cùng với đó, thu nhập ngoài lãi dự kiến tăng trưởng khoảng 9%, nhờ hoạt động xử lý nợ xấu được đẩy nhanh, mảng phân phối bảo hiểm qua ngân hàng bước vào chu kỳ phục hồi, hoạt động kinh doanh ngoại hối hưởng lợi từ biến động tỷ giá, cùng với sự tăng trưởng mạnh của thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, đà tăng chậm lại từ nền cao năm 2025.

Nhiều rủi ro cần dè chừng

Tuy nhiên, ngành ngân hàng cũng đối mặt nhiều rủi ro năm 2026. Chứng khoán Kafi cho rằng, thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo suy giảm khi xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, kìm hãm thương mại quốc tế, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị kéo dài và nợ công tại nhiều quốc gia ở mức cao.

Thứ hai, nợ xấu tăng cao hơn kỳ vọng. Giai đoạn tăng trưởng tín dụng nhanh trong năm 2025 có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng, trong trường hợp các ngân hàng chưa đáp ứng đầy đủ năng lực quản trị rủi ro và khả năng xử lý tài sản bảo đảm còn hạn chế.

Theo Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng bất động sản đạt trên 4 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong đó, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản đạt khoảng 1,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 30% so với đầu năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống trước nguy cơ hình thành "bong bóng" giá, nhiều ngân hàng chủ động giảm tốc độ giải ngân cho vay bất động sản; đồng thời, định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thứ ba, rủi ro chu kỳ bất động sản. "Giá bất động sản đang ở mức cao so với thu nhập của người dân, trong khi nguồn cung nhà ở tầm trung hạn chế làm giảm thanh khoản thị trưởng, ảnh hưởng đến dòng tiền của chủ đầu tư và nhà đầu tư" - nhóm phân tích nhấn mạnh.

Thứ tư, NIM chưa phục hồi như kỳ vọng. Nhu cầu huy động tiền gửi nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể làm gia tăng chi phí vốn của các ngân hàng, từ đó tạo áp lực lên NIM.

Thứ năm, chi phí hoạt động và chi phí tín dụng gia tăng tại một số ngân hàng quy mô nhỏ dưới tác động của các chính sách mới.

Trong đó, Nghị định số 86/2024/NĐ-CP quy định chặt chẽ hơn trong việc xác định giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm khi trích lập dự phòng. Do đó, các ngân hàng có dư nợ nhóm 5 tồn đọng trong thời gian dài có thể đối mặt với nguy cơ chi phí tín dụng tăng lên./.

Nhóm ngân hàng "sáng giá"

Một số ngân hàng được Chứng khoán Kafi đánh giá cao, đó là Vietcombank, nhờ chất lượng tài sản dẫn đầu và mô hình kinh doanh bền vững. Chất lượng tài sản dự kiến tiếp tục được củng cố trong năm 2026. Ước tính tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 0,75% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) năm 2026 lên tới 201%.

Còn MB phát huy lợi thế tập khách hàng lớn và hệ sinh thái MB, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng cao, ước đạt 24% năm 2026. Năng lực kiểm soát chi phí vốn hiệu quả giúp NIM đạt khoảng 4,3%, tăng 10 điểm cơ bản. Kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,6%, trong khi LLR đạt 108%, nhờ quản trị rủi ro vững chắc, tập khách hàng chất lượng.

Techcombank ước tăng trưởng tín dụng đạt 21%, thuộc nhóm dẫn dắt. NIM được kỳ vọng cải thiện nhờ thị trường bất động sản ổn định, tỷ lệ CASA vượt trội; đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi giúp lợi nhuận trước thuế năm 2026 tăng 18,7%.

ACB tiếp tục duy trì ROE (tỷ số lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu) khoảng 20%, thuộc nhóm cao nhất khối ngân hàng bán lẻ. Cùng các chính sách thúc đẩy như: bất động sản phía Nam phục hồi thúc đẩy cho vay mua nhà; Nghị quyết số 68-NQ/TW nâng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ; hộ kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng ước đạt 18,4% năm 2026. Kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu 1,08% và tỷ lệ LLR 97%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80