Dự báo NIM ngành ngân hàng tăng tới 50 điểm cơ bản, vẫn cần thận trọng nhiều rủi ro

Ánh Tuyết
Năm 2026, Chứng khoán KAFI dự báo NIM toàn ngành ngân hàng tăng 5 - 50 điểm cơ bản, khi lãi suất cho vay nhích lên, qua đó, thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng 21,5%. Cùng với điều hành tín dụng hiệu quả, chọn lọc hơn từ cơ quan quản lý, dòng vốn được kỳ vọng bám sát nhu cầu thực và hạn chế rủi ro. Nợ xấu, rủi ro chu kỳ bất động sản... vẫn là những rủi ro cần theo dõi.
aa
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%
Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Lãi suất cho vay tăng, NIM kỳ vọng tăng nhẹ

Trong báo cáo về ngành ngân hàng với tựa đề "Vững đà tăng trưởng", Công ty Cổ phần Chứng khoán KAFI cho rằng, ngành ngân hàng được đánh giá tích cực, nhờ bối cảnh kinh tế vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng; đồng thời, khung pháp lý của ngành tiếp tục được nâng cấp, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Theo đó, tăng trưởng tín dụng được dự báo hạ nhiệt so với năm 2025 do trong năm 2026, các ngân hàng ưu tiên mục tiêu tăng trưởng bền vững hơn sau một năm 2025 tăng trưởng mạnh. Tuy vậy, tín dụng vẫn duy trì ở mức cao, nhờ các động lực tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì, cùng với chính sách tài khóa mở rộng.

"Chúng tôi kỳ vọng cơ quan quản lý sẽ điều hành tín dụng hiệu quả hơn, phân bổ vốn vào những lĩnh vực ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước và gắn với nhu cầu tín dụng thực, hạn chế những lĩnh vực rủi ro" - Chứng khoán Kafi nêu bật.

"NIM sẽ tăng nhẹ 5 - 50 điểm cơ bản, nhờ cho vay bán lẻ tiếp tục đà phục hồi, hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ dần đi vào ổn định, các ngân hàng mở rộng cho vay dài hạn và việc dần tháo gỡ room tín dụng giúp lãi suất cho vay được tái định giá" - Chứng khoán Kafi nhận định.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Kafi, ước tính biên lãi ròng (NIM) toàn ngành sẽ tăng nhẹ nhờ 4 yếu tố.

Thứ nhất, lãi suất cho vay tăng nhẹ, lợi suất tài sản được cải thiện khi các ngân hàng gia tăng cho vay trung và dài hạn.

Thứ hai, hoạt động xử lý nợ xấu diễn ra nhanh chóng hơn, góp phần định hướng dòng vốn vào các tài sản có hiệu suất tốt.

Chất lượng tài sản được cải thiện nhờ môi trường vĩ mô thuận lợi, các dự án bất động sản từng bước được tháo gỡ vướng mắc pháp lý và thu nhập của người dân gia tăng. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành được dự báo giảm xuống mức 1,57% trong năm 2026, so với 1,61% trong năm 2025. Chi phí tín dụng dự kiến đi ngang khi tỷ lệ hình thành nợ xấu mới của ngành ngân hàng giảm và nợ xấu được xử lý nhanh hơn nhờ Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã được luật hóa từ năm 2025.

Thứ ba, hoạt động cho vay bán lẻ cải thiện khi nhu cầu vay vốn phục hồi và chất lượng tín dụng được nâng cao.

Thứ tư, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn ngành duy trì ổn định trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được thúc đẩy.

Dự báo NIM ngành ngân hàng tăng tới 50 điểm cơ bản, vẫn cần thận trọng nhiều rủi ro

"Lợi nhuận của các ngân hàng tăng trưởng khả quan hơn năm 2026 nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, NIM cải thiện nhẹ, thu nhập ngoài lãi mở rộng và chất lượng tài sản được kiện toàn" - Chứng khoán Kafi đánh giá. Theo đó, lợi nhuận toàn ngành được dự báo tăng 18,6%, cao hơn mức tăng năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, NIM cải thiện nhẹ, qua đó, thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng trưởng 21,5% cùng kỳ.

Cùng với đó, thu nhập ngoài lãi dự kiến tăng trưởng khoảng 9%, nhờ hoạt động xử lý nợ xấu được đẩy nhanh, mảng phân phối bảo hiểm qua ngân hàng bước vào chu kỳ phục hồi, hoạt động kinh doanh ngoại hối hưởng lợi từ biến động tỷ giá, cùng với sự tăng trưởng mạnh của thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, đà tăng chậm lại từ nền cao năm 2025.

Nhiều rủi ro cần dè chừng

Tuy nhiên, ngành ngân hàng cũng đối mặt nhiều rủi ro năm 2026. Chứng khoán Kafi cho rằng, thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo suy giảm khi xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, kìm hãm thương mại quốc tế, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị kéo dài và nợ công tại nhiều quốc gia ở mức cao.

Thứ hai, nợ xấu tăng cao hơn kỳ vọng. Giai đoạn tăng trưởng tín dụng nhanh trong năm 2025 có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng, trong trường hợp các ngân hàng chưa đáp ứng đầy đủ năng lực quản trị rủi ro và khả năng xử lý tài sản bảo đảm còn hạn chế.

Theo Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng bất động sản đạt trên 4 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong đó, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản đạt khoảng 1,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 30% so với đầu năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống trước nguy cơ hình thành "bong bóng" giá, nhiều ngân hàng chủ động giảm tốc độ giải ngân cho vay bất động sản; đồng thời, định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thứ ba, rủi ro chu kỳ bất động sản. "Giá bất động sản đang ở mức cao so với thu nhập của người dân, trong khi nguồn cung nhà ở tầm trung hạn chế làm giảm thanh khoản thị trưởng, ảnh hưởng đến dòng tiền của chủ đầu tư và nhà đầu tư" - nhóm phân tích nhấn mạnh.

Thứ tư, NIM chưa phục hồi như kỳ vọng. Nhu cầu huy động tiền gửi nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể làm gia tăng chi phí vốn của các ngân hàng, từ đó tạo áp lực lên NIM.

Thứ năm, chi phí hoạt động và chi phí tín dụng gia tăng tại một số ngân hàng quy mô nhỏ dưới tác động của các chính sách mới.

Trong đó, Nghị định số 86/2024/NĐ-CP quy định chặt chẽ hơn trong việc xác định giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm khi trích lập dự phòng. Do đó, các ngân hàng có dư nợ nhóm 5 tồn đọng trong thời gian dài có thể đối mặt với nguy cơ chi phí tín dụng tăng lên./.

Nhóm ngân hàng "sáng giá"

Một số ngân hàng được Chứng khoán Kafi đánh giá cao, đó là Vietcombank, nhờ chất lượng tài sản dẫn đầu và mô hình kinh doanh bền vững. Chất lượng tài sản dự kiến tiếp tục được củng cố trong năm 2026. Ước tính tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 0,75% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) năm 2026 lên tới 201%.

Còn MB phát huy lợi thế tập khách hàng lớn và hệ sinh thái MB, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng cao, ước đạt 24% năm 2026. Năng lực kiểm soát chi phí vốn hiệu quả giúp NIM đạt khoảng 4,3%, tăng 10 điểm cơ bản. Kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,6%, trong khi LLR đạt 108%, nhờ quản trị rủi ro vững chắc, tập khách hàng chất lượng.

Techcombank ước tăng trưởng tín dụng đạt 21%, thuộc nhóm dẫn dắt. NIM được kỳ vọng cải thiện nhờ thị trường bất động sản ổn định, tỷ lệ CASA vượt trội; đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi giúp lợi nhuận trước thuế năm 2026 tăng 18,7%.

ACB tiếp tục duy trì ROE (tỷ số lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu) khoảng 20%, thuộc nhóm cao nhất khối ngân hàng bán lẻ. Cùng các chính sách thúc đẩy như: bất động sản phía Nam phục hồi thúc đẩy cho vay mua nhà; Nghị quyết số 68-NQ/TW nâng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ; hộ kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng ước đạt 18,4% năm 2026. Kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu 1,08% và tỷ lệ LLR 97%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

(TBTCO) - BIDV vừa lên tiếng và khẳng định tiếp tục đồng hành, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh xuất hiện thông tin tạm dừng tiếp cận dự án bất động sản mới, khi room tín dụng bị siết chặt và lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng quốc doanh đã lên khoảng 14%/năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 04:00