Dự báo NIM ngành ngân hàng tăng tới 50 điểm cơ bản, vẫn cần thận trọng nhiều rủi ro

Ánh Tuyết
Năm 2026, Chứng khoán KAFI dự báo NIM toàn ngành ngân hàng tăng 5 - 50 điểm cơ bản, khi lãi suất cho vay nhích lên, qua đó, thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng 21,5%. Cùng với điều hành tín dụng hiệu quả, chọn lọc hơn từ cơ quan quản lý, dòng vốn được kỳ vọng bám sát nhu cầu thực và hạn chế rủi ro. Nợ xấu, rủi ro chu kỳ bất động sản... vẫn là những rủi ro cần theo dõi.
aa
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%
Ngân hàng kích hoạt nhiều giải pháp cản đà giảm của NIM

Lãi suất cho vay tăng, NIM kỳ vọng tăng nhẹ

Trong báo cáo về ngành ngân hàng với tựa đề "Vững đà tăng trưởng", Công ty Cổ phần Chứng khoán KAFI cho rằng, ngành ngân hàng được đánh giá tích cực, nhờ bối cảnh kinh tế vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng; đồng thời, khung pháp lý của ngành tiếp tục được nâng cấp, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Theo đó, tăng trưởng tín dụng được dự báo hạ nhiệt so với năm 2025 do trong năm 2026, các ngân hàng ưu tiên mục tiêu tăng trưởng bền vững hơn sau một năm 2025 tăng trưởng mạnh. Tuy vậy, tín dụng vẫn duy trì ở mức cao, nhờ các động lực tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì, cùng với chính sách tài khóa mở rộng.

"Chúng tôi kỳ vọng cơ quan quản lý sẽ điều hành tín dụng hiệu quả hơn, phân bổ vốn vào những lĩnh vực ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước và gắn với nhu cầu tín dụng thực, hạn chế những lĩnh vực rủi ro" - Chứng khoán Kafi nêu bật.

"NIM sẽ tăng nhẹ 5 - 50 điểm cơ bản, nhờ cho vay bán lẻ tiếp tục đà phục hồi, hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ dần đi vào ổn định, các ngân hàng mở rộng cho vay dài hạn và việc dần tháo gỡ room tín dụng giúp lãi suất cho vay được tái định giá" - Chứng khoán Kafi nhận định.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Kafi, ước tính biên lãi ròng (NIM) toàn ngành sẽ tăng nhẹ nhờ 4 yếu tố.

Thứ nhất, lãi suất cho vay tăng nhẹ, lợi suất tài sản được cải thiện khi các ngân hàng gia tăng cho vay trung và dài hạn.

Thứ hai, hoạt động xử lý nợ xấu diễn ra nhanh chóng hơn, góp phần định hướng dòng vốn vào các tài sản có hiệu suất tốt.

Chất lượng tài sản được cải thiện nhờ môi trường vĩ mô thuận lợi, các dự án bất động sản từng bước được tháo gỡ vướng mắc pháp lý và thu nhập của người dân gia tăng. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành được dự báo giảm xuống mức 1,57% trong năm 2026, so với 1,61% trong năm 2025. Chi phí tín dụng dự kiến đi ngang khi tỷ lệ hình thành nợ xấu mới của ngành ngân hàng giảm và nợ xấu được xử lý nhanh hơn nhờ Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã được luật hóa từ năm 2025.

Thứ ba, hoạt động cho vay bán lẻ cải thiện khi nhu cầu vay vốn phục hồi và chất lượng tín dụng được nâng cao.

Thứ tư, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn ngành duy trì ổn định trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được thúc đẩy.

Dự báo NIM ngành ngân hàng tăng tới 50 điểm cơ bản, vẫn cần thận trọng nhiều rủi ro

"Lợi nhuận của các ngân hàng tăng trưởng khả quan hơn năm 2026 nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, NIM cải thiện nhẹ, thu nhập ngoài lãi mở rộng và chất lượng tài sản được kiện toàn" - Chứng khoán Kafi đánh giá. Theo đó, lợi nhuận toàn ngành được dự báo tăng 18,6%, cao hơn mức tăng năm 2025.

Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, NIM cải thiện nhẹ, qua đó, thúc đẩy thu nhập lãi thuần tăng trưởng 21,5% cùng kỳ.

Cùng với đó, thu nhập ngoài lãi dự kiến tăng trưởng khoảng 9%, nhờ hoạt động xử lý nợ xấu được đẩy nhanh, mảng phân phối bảo hiểm qua ngân hàng bước vào chu kỳ phục hồi, hoạt động kinh doanh ngoại hối hưởng lợi từ biến động tỷ giá, cùng với sự tăng trưởng mạnh của thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, đà tăng chậm lại từ nền cao năm 2025.

Nhiều rủi ro cần dè chừng

Tuy nhiên, ngành ngân hàng cũng đối mặt nhiều rủi ro năm 2026. Chứng khoán Kafi cho rằng, thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo suy giảm khi xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, kìm hãm thương mại quốc tế, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị kéo dài và nợ công tại nhiều quốc gia ở mức cao.

Thứ hai, nợ xấu tăng cao hơn kỳ vọng. Giai đoạn tăng trưởng tín dụng nhanh trong năm 2025 có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng, trong trường hợp các ngân hàng chưa đáp ứng đầy đủ năng lực quản trị rủi ro và khả năng xử lý tài sản bảo đảm còn hạn chế.

Theo Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng bất động sản đạt trên 4 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong đó, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản đạt khoảng 1,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 30% so với đầu năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống trước nguy cơ hình thành "bong bóng" giá, nhiều ngân hàng chủ động giảm tốc độ giải ngân cho vay bất động sản; đồng thời, định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thứ ba, rủi ro chu kỳ bất động sản. "Giá bất động sản đang ở mức cao so với thu nhập của người dân, trong khi nguồn cung nhà ở tầm trung hạn chế làm giảm thanh khoản thị trưởng, ảnh hưởng đến dòng tiền của chủ đầu tư và nhà đầu tư" - nhóm phân tích nhấn mạnh.

Thứ tư, NIM chưa phục hồi như kỳ vọng. Nhu cầu huy động tiền gửi nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 có thể làm gia tăng chi phí vốn của các ngân hàng, từ đó tạo áp lực lên NIM.

Thứ năm, chi phí hoạt động và chi phí tín dụng gia tăng tại một số ngân hàng quy mô nhỏ dưới tác động của các chính sách mới.

Trong đó, Nghị định số 86/2024/NĐ-CP quy định chặt chẽ hơn trong việc xác định giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm khi trích lập dự phòng. Do đó, các ngân hàng có dư nợ nhóm 5 tồn đọng trong thời gian dài có thể đối mặt với nguy cơ chi phí tín dụng tăng lên./.

Nhóm ngân hàng "sáng giá"

Một số ngân hàng được Chứng khoán Kafi đánh giá cao, đó là Vietcombank, nhờ chất lượng tài sản dẫn đầu và mô hình kinh doanh bền vững. Chất lượng tài sản dự kiến tiếp tục được củng cố trong năm 2026. Ước tính tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 0,75% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) năm 2026 lên tới 201%.

Còn MB phát huy lợi thế tập khách hàng lớn và hệ sinh thái MB, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng cao, ước đạt 24% năm 2026. Năng lực kiểm soát chi phí vốn hiệu quả giúp NIM đạt khoảng 4,3%, tăng 10 điểm cơ bản. Kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,6%, trong khi LLR đạt 108%, nhờ quản trị rủi ro vững chắc, tập khách hàng chất lượng.

Techcombank ước tăng trưởng tín dụng đạt 21%, thuộc nhóm dẫn dắt. NIM được kỳ vọng cải thiện nhờ thị trường bất động sản ổn định, tỷ lệ CASA vượt trội; đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi giúp lợi nhuận trước thuế năm 2026 tăng 18,7%.

ACB tiếp tục duy trì ROE (tỷ số lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu) khoảng 20%, thuộc nhóm cao nhất khối ngân hàng bán lẻ. Cùng các chính sách thúc đẩy như: bất động sản phía Nam phục hồi thúc đẩy cho vay mua nhà; Nghị quyết số 68-NQ/TW nâng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ; hộ kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng ước đạt 18,4% năm 2026. Kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu 1,08% và tỷ lệ LLR 97%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30