"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm ngân hàng "big 4" vừa đồng loạt tăng lãi suất ở tất cả các kỳ hạn, biên độ từ 0,3 - 0,6 điểm phần trăm, dâng sóng huy động tiền gửi cao điểm cuối năm. Nắm giữ hơn 7,5 triệu tỷ đồng, động thái của nhóm ngân hàng quốc doanh làm nóng cuộc đua lãi suất toàn thị trường và phản ánh sự dịch chuyển trong chiến lược huy động.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD “Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Đồng loạt tăng lãi suất 0,3 - 0,6%

Diễn biến lãi suất huy động ngày 17/12 cho thấy, các ngân hàng "big 4" tăng đồng loạt lãi suất huy động và rõ nét ở tất cả các kỳ hạn, phản ánh áp lực huy động vốn gia tăng mạnh vào giai đoạn cao điểm cuối năm. Đáng chú ý, mức tăng không chỉ tập trung ở kỳ hạn ngắn mà đã lan rộng sang các kỳ hạn dài hơn.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, Agribank điều chỉnh lãi suất lên 2,4%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm, trong khi Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng lên mức 2,1%/năm, với biên độ tăng mạnh hơn, tới 0,5 điểm phần trăm. Việc lãi suất kỳ hạn rất ngắn tăng nhanh cho thấy nhu cầu bổ sung thanh khoản tức thời của các ngân hàng trong bối cảnh chi trả cuối năm và cạnh tranh hút tiền gửi ngắn hạn diễn ra gay gắt.

"Big 4" nắm hơn chi phối 7,5 triệu tỷ đồng tiền gửi

Thống kê tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,3 triệu tỷ đồng 9 tháng đầu năm 2025, tăng 9,6% so với đầu năm và thấp hơn. Trong đó, BIDV dẫn đầu với gần 2,09 triệu tỷ đồng, tăng 7%, tiếp đến là Agribank với khoảng 2,04 triệu tỷ đồng. VietinBank và Vietcombank lần lượt nắm gần 1,8 triệu tỷ và hơn 1,6 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 11% và 6%. Nhóm "Big4" nắm giữ trên 7,5 triệu đồng, chiếm 52,7% tổng tiền gửi nhóm khảo sát.

BIDV đã duy trì mức lãi suất huy động 1,6%/năm trong thời gian dài, từ tháng 3/2025 đến giữa tháng 12/2025. Đây là mức lãi suất thấp kỷ lục trong nhiều năm, phản ánh chủ trương giữ chi phí vốn ở mức thấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích tín dụng và góp phần thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế.

Hiện BIDV đang triển khai bộ ba giải pháp tiền gửi linh hoạt gồm chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 1 - 24 tháng lãi suất cố định, CD - Flex linh hoạt bán lạ và đầu tư sinh lời tự động, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu dòng tiền nhàn rỗi trong bối cảnh thị trường biến động. Các giải pháp đáp ứng tiêu chí an toàn, linh hoạt hiệu quả, đồng thời đi kèm chương trình khuyến mại cuối năm với giá trị lớn.

Trong tháng cuối năm, Vietcombank cũng triển khai chương trình ưu đãi tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, dành cho khách hàng gửi tiền từ 200 triệu đồng trở lên tại quầy, kỳ hạn 6 hoặc 12 tháng được nhận ưu đãi tiền mặt hoặc chuyển khoản tương ứng 0,05% giá trị khoản tiền gửi.

Sang kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nhích lên rõ rệt. Agribank nâng lãi suất lên 2,7%/năm (tăng 0,3 điểm phần trăm), còn ba ngân hàng quốc doanh còn lại đồng loạt áp dụng mức 2,4%/năm, với mức tăng lên tới 0,5 điểm phần trăm.

Ở nhóm kỳ hạn trung hạn 6, xu hướng tăng lãi suất trở nên rõ ràng và đồng đều hơn. Agribank đưa lãi suất lên 3,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. Trong khi đó, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết mức 3,5%/năm, với biên độ tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Đây là kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn vì mức sinh lời cao hơn kỳ hạn ngắn, thời gian gửi không quá dài, linh hoạt xoay vòng vốn và phù hợp với nhu cầu chi tiêu, đầu tư hoặc tái gửi khi mặt bằng lãi suất tiếp tục điều chỉnh.

Đối với kỳ hạn dài từ 12 đến 24 tháng, lãi suất đã được đẩy lên mức cao nhất trong biểu lãi suất và được các ngân hàng niêm yết lãi suất bằng nhau. Tại kỳ hạn 12 tháng, "big 4" đều niêm yết mức 5,2%/năm, với mức tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Ở kỳ hạn 24 tháng, lãi suất tiếp tục được nâng lên 5,3%/năm, mức tăng tương tự.

Tín dụng tăng kỷ lục, "big 4" phát tín hiệu mới

Theo giới phân tích, khác với các ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng bước nhỏ, các ngân hàng quốc doanh có xu hướng tăng lãi suất huy động theo kiểu dứt khoát, với biên độ lớn.

Khi "big 4" đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất toàn thị trường lập tức bị kéo lên, tạo hiệu ứng lan tỏa toàn hệ thống và làm nóng thêm "cuộc đua" lãi suất toàn thị trường. Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản cuối năm, đồng thời cho thấy các ngân hàng đang chuẩn bị nguồn vốn cho chu kỳ tín dụng mới.

Mỹ thúc giục Ukraine chấp nhận bảo đảm an ninh 'tiêu chuẩn bạch kim'

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 16,6% so với đầu năm. Đây là mức cao nhất quan sát được kể từ 2013, phản ánh nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế, đặc biệt khi mà rất nhiều các dự án cơ sở hạ tầng được thúc đẩy mạnh vào cuối năm.

Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng lớn khiến lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh hồi đầu tháng 12. Ngân hàng Nhà nước đã chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12.

Thực tế cho thấy, khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động cũng kéo tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản là hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên các mặt bằng lãi suất.

"Trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành sắp tới không chỉ là “bơm đủ vốn”, mà là kiểm soát nhịp độ tăng tín dụng phù hợp với khả năng huy động và sức hấp thụ thực của nền kinh tế; đồng thời, củng cố nền vốn trung dài hạn cho hệ thống ngân hàng để tránh tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc".

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, áp lực từ thị trường liên ngân hàng dần truyền sang thị trường huy động dân cư.

Khi tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để hút vốn đầu vào, nhất là ở các kỳ hạn trung và dài.

"Điều này giải thích vì sao mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên hoặc khó giảm thêm, dù định hướng chung vẫn là ổn định lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng" - ông Huân nhận định.

Lãi suất cho vay vì thế chịu sức ép tăng theo, nhưng theo vị chuyên gia này, mức độ truyền dẫn không hoàn toàn, do các ngân hàng phải chia sẻ một phần chi phí vốn tăng thêm để giữ khách hàng và hỗ trợ phục hồi kinh tế. Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, nhất là ở những ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn chưa đủ dày.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính mới phát hành ngày 17/12, theo ước tính của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng thương mại cổ phần lớn đã tăng 91 điểm cơ bản trong năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 20 điểm cơ bản từ nay cho đến cuối năm.

Trong bối cảnh giải ngân đầu tư công chưa có sự bứt phá, cùng nhu cầu rút tiền mặt gia tăng do gần Tết, lãi suất tiền gửi sẽ chịu áp lực tăng thêm trong các tháng tới.

"Lãi suất huy động VND kỳ vọng sẽ tăng thêm 88 điểm cơ bản trong 2026. Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất giai đoạn trước Covid-19" - bộ phận phân tích Techcombank đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80