"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm ngân hàng "big 4" vừa đồng loạt tăng lãi suất ở tất cả các kỳ hạn, biên độ từ 0,3 - 0,6 điểm phần trăm, dâng sóng huy động tiền gửi cao điểm cuối năm. Nắm giữ hơn 7,5 triệu tỷ đồng, động thái của nhóm ngân hàng quốc doanh làm nóng cuộc đua lãi suất toàn thị trường và phản ánh sự dịch chuyển trong chiến lược huy động.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD “Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Đồng loạt tăng lãi suất 0,3 - 0,6%

Diễn biến lãi suất huy động ngày 17/12 cho thấy, các ngân hàng "big 4" tăng đồng loạt lãi suất huy động và rõ nét ở tất cả các kỳ hạn, phản ánh áp lực huy động vốn gia tăng mạnh vào giai đoạn cao điểm cuối năm. Đáng chú ý, mức tăng không chỉ tập trung ở kỳ hạn ngắn mà đã lan rộng sang các kỳ hạn dài hơn.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, Agribank điều chỉnh lãi suất lên 2,4%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm, trong khi Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng lên mức 2,1%/năm, với biên độ tăng mạnh hơn, tới 0,5 điểm phần trăm. Việc lãi suất kỳ hạn rất ngắn tăng nhanh cho thấy nhu cầu bổ sung thanh khoản tức thời của các ngân hàng trong bối cảnh chi trả cuối năm và cạnh tranh hút tiền gửi ngắn hạn diễn ra gay gắt.

"Big 4" nắm hơn chi phối 7,5 triệu tỷ đồng tiền gửi

Thống kê tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,3 triệu tỷ đồng 9 tháng đầu năm 2025, tăng 9,6% so với đầu năm và thấp hơn. Trong đó, BIDV dẫn đầu với gần 2,09 triệu tỷ đồng, tăng 7%, tiếp đến là Agribank với khoảng 2,04 triệu tỷ đồng. VietinBank và Vietcombank lần lượt nắm gần 1,8 triệu tỷ và hơn 1,6 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 11% và 6%. Nhóm "Big4" nắm giữ trên 7,5 triệu đồng, chiếm 52,7% tổng tiền gửi nhóm khảo sát.

BIDV đã duy trì mức lãi suất huy động 1,6%/năm trong thời gian dài, từ tháng 3/2025 đến giữa tháng 12/2025. Đây là mức lãi suất thấp kỷ lục trong nhiều năm, phản ánh chủ trương giữ chi phí vốn ở mức thấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích tín dụng và góp phần thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế.

Hiện BIDV đang triển khai bộ ba giải pháp tiền gửi linh hoạt gồm chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 1 - 24 tháng lãi suất cố định, CD - Flex linh hoạt bán lạ và đầu tư sinh lời tự động, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu dòng tiền nhàn rỗi trong bối cảnh thị trường biến động. Các giải pháp đáp ứng tiêu chí an toàn, linh hoạt hiệu quả, đồng thời đi kèm chương trình khuyến mại cuối năm với giá trị lớn.

Trong tháng cuối năm, Vietcombank cũng triển khai chương trình ưu đãi tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, dành cho khách hàng gửi tiền từ 200 triệu đồng trở lên tại quầy, kỳ hạn 6 hoặc 12 tháng được nhận ưu đãi tiền mặt hoặc chuyển khoản tương ứng 0,05% giá trị khoản tiền gửi.

Sang kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nhích lên rõ rệt. Agribank nâng lãi suất lên 2,7%/năm (tăng 0,3 điểm phần trăm), còn ba ngân hàng quốc doanh còn lại đồng loạt áp dụng mức 2,4%/năm, với mức tăng lên tới 0,5 điểm phần trăm.

Ở nhóm kỳ hạn trung hạn 6, xu hướng tăng lãi suất trở nên rõ ràng và đồng đều hơn. Agribank đưa lãi suất lên 3,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. Trong khi đó, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết mức 3,5%/năm, với biên độ tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Đây là kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn vì mức sinh lời cao hơn kỳ hạn ngắn, thời gian gửi không quá dài, linh hoạt xoay vòng vốn và phù hợp với nhu cầu chi tiêu, đầu tư hoặc tái gửi khi mặt bằng lãi suất tiếp tục điều chỉnh.

Đối với kỳ hạn dài từ 12 đến 24 tháng, lãi suất đã được đẩy lên mức cao nhất trong biểu lãi suất và được các ngân hàng niêm yết lãi suất bằng nhau. Tại kỳ hạn 12 tháng, "big 4" đều niêm yết mức 5,2%/năm, với mức tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Ở kỳ hạn 24 tháng, lãi suất tiếp tục được nâng lên 5,3%/năm, mức tăng tương tự.

Tín dụng tăng kỷ lục, "big 4" phát tín hiệu mới

Theo giới phân tích, khác với các ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng bước nhỏ, các ngân hàng quốc doanh có xu hướng tăng lãi suất huy động theo kiểu dứt khoát, với biên độ lớn.

Khi "big 4" đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất toàn thị trường lập tức bị kéo lên, tạo hiệu ứng lan tỏa toàn hệ thống và làm nóng thêm "cuộc đua" lãi suất toàn thị trường. Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản cuối năm, đồng thời cho thấy các ngân hàng đang chuẩn bị nguồn vốn cho chu kỳ tín dụng mới.

Mỹ thúc giục Ukraine chấp nhận bảo đảm an ninh 'tiêu chuẩn bạch kim'

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 16,6% so với đầu năm. Đây là mức cao nhất quan sát được kể từ 2013, phản ánh nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế, đặc biệt khi mà rất nhiều các dự án cơ sở hạ tầng được thúc đẩy mạnh vào cuối năm.

Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng lớn khiến lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh hồi đầu tháng 12. Ngân hàng Nhà nước đã chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12.

Thực tế cho thấy, khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động cũng kéo tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản là hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên các mặt bằng lãi suất.

"Trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành sắp tới không chỉ là “bơm đủ vốn”, mà là kiểm soát nhịp độ tăng tín dụng phù hợp với khả năng huy động và sức hấp thụ thực của nền kinh tế; đồng thời, củng cố nền vốn trung dài hạn cho hệ thống ngân hàng để tránh tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc".

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, áp lực từ thị trường liên ngân hàng dần truyền sang thị trường huy động dân cư.

Khi tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để hút vốn đầu vào, nhất là ở các kỳ hạn trung và dài.

"Điều này giải thích vì sao mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên hoặc khó giảm thêm, dù định hướng chung vẫn là ổn định lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng" - ông Huân nhận định.

Lãi suất cho vay vì thế chịu sức ép tăng theo, nhưng theo vị chuyên gia này, mức độ truyền dẫn không hoàn toàn, do các ngân hàng phải chia sẻ một phần chi phí vốn tăng thêm để giữ khách hàng và hỗ trợ phục hồi kinh tế. Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, nhất là ở những ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn chưa đủ dày.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính mới phát hành ngày 17/12, theo ước tính của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng thương mại cổ phần lớn đã tăng 91 điểm cơ bản trong năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 20 điểm cơ bản từ nay cho đến cuối năm.

Trong bối cảnh giải ngân đầu tư công chưa có sự bứt phá, cùng nhu cầu rút tiền mặt gia tăng do gần Tết, lãi suất tiền gửi sẽ chịu áp lực tăng thêm trong các tháng tới.

"Lãi suất huy động VND kỳ vọng sẽ tăng thêm 88 điểm cơ bản trong 2026. Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất giai đoạn trước Covid-19" - bộ phận phân tích Techcombank đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00