"Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm ngân hàng "big 4" vừa đồng loạt tăng lãi suất ở tất cả các kỳ hạn, biên độ từ 0,3 - 0,6 điểm phần trăm, dâng sóng huy động tiền gửi cao điểm cuối năm. Nắm giữ hơn 7,5 triệu tỷ đồng, động thái của nhóm ngân hàng quốc doanh làm nóng cuộc đua lãi suất toàn thị trường và phản ánh sự dịch chuyển trong chiến lược huy động.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD “Sóng” lãi suất dâng cao cuối năm, nhiều công cụ can thiệp phải kích hoạt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Đồng loạt tăng lãi suất 0,3 - 0,6%

Diễn biến lãi suất huy động ngày 17/12 cho thấy, các ngân hàng "big 4" tăng đồng loạt lãi suất huy động và rõ nét ở tất cả các kỳ hạn, phản ánh áp lực huy động vốn gia tăng mạnh vào giai đoạn cao điểm cuối năm. Đáng chú ý, mức tăng không chỉ tập trung ở kỳ hạn ngắn mà đã lan rộng sang các kỳ hạn dài hơn.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, Agribank điều chỉnh lãi suất lên 2,4%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm, trong khi Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng lên mức 2,1%/năm, với biên độ tăng mạnh hơn, tới 0,5 điểm phần trăm. Việc lãi suất kỳ hạn rất ngắn tăng nhanh cho thấy nhu cầu bổ sung thanh khoản tức thời của các ngân hàng trong bối cảnh chi trả cuối năm và cạnh tranh hút tiền gửi ngắn hạn diễn ra gay gắt.

"Big 4" nắm hơn chi phối 7,5 triệu tỷ đồng tiền gửi

Thống kê tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,3 triệu tỷ đồng 9 tháng đầu năm 2025, tăng 9,6% so với đầu năm và thấp hơn. Trong đó, BIDV dẫn đầu với gần 2,09 triệu tỷ đồng, tăng 7%, tiếp đến là Agribank với khoảng 2,04 triệu tỷ đồng. VietinBank và Vietcombank lần lượt nắm gần 1,8 triệu tỷ và hơn 1,6 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 11% và 6%. Nhóm "Big4" nắm giữ trên 7,5 triệu đồng, chiếm 52,7% tổng tiền gửi nhóm khảo sát.

BIDV đã duy trì mức lãi suất huy động 1,6%/năm trong thời gian dài, từ tháng 3/2025 đến giữa tháng 12/2025. Đây là mức lãi suất thấp kỷ lục trong nhiều năm, phản ánh chủ trương giữ chi phí vốn ở mức thấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích tín dụng và góp phần thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế.

Hiện BIDV đang triển khai bộ ba giải pháp tiền gửi linh hoạt gồm chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 1 - 24 tháng lãi suất cố định, CD - Flex linh hoạt bán lạ và đầu tư sinh lời tự động, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu dòng tiền nhàn rỗi trong bối cảnh thị trường biến động. Các giải pháp đáp ứng tiêu chí an toàn, linh hoạt hiệu quả, đồng thời đi kèm chương trình khuyến mại cuối năm với giá trị lớn.

Trong tháng cuối năm, Vietcombank cũng triển khai chương trình ưu đãi tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, dành cho khách hàng gửi tiền từ 200 triệu đồng trở lên tại quầy, kỳ hạn 6 hoặc 12 tháng được nhận ưu đãi tiền mặt hoặc chuyển khoản tương ứng 0,05% giá trị khoản tiền gửi.

Sang kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nhích lên rõ rệt. Agribank nâng lãi suất lên 2,7%/năm (tăng 0,3 điểm phần trăm), còn ba ngân hàng quốc doanh còn lại đồng loạt áp dụng mức 2,4%/năm, với mức tăng lên tới 0,5 điểm phần trăm.

Ở nhóm kỳ hạn trung hạn 6, xu hướng tăng lãi suất trở nên rõ ràng và đồng đều hơn. Agribank đưa lãi suất lên 3,8%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm. Trong khi đó, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết mức 3,5%/năm, với biên độ tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Đây là kỳ hạn được nhiều người gửi tiền lựa chọn vì mức sinh lời cao hơn kỳ hạn ngắn, thời gian gửi không quá dài, linh hoạt xoay vòng vốn và phù hợp với nhu cầu chi tiêu, đầu tư hoặc tái gửi khi mặt bằng lãi suất tiếp tục điều chỉnh.

Đối với kỳ hạn dài từ 12 đến 24 tháng, lãi suất đã được đẩy lên mức cao nhất trong biểu lãi suất và được các ngân hàng niêm yết lãi suất bằng nhau. Tại kỳ hạn 12 tháng, "big 4" đều niêm yết mức 5,2%/năm, với mức tăng phổ biến 0,5 - 0,6 điểm phần trăm. Ở kỳ hạn 24 tháng, lãi suất tiếp tục được nâng lên 5,3%/năm, mức tăng tương tự.

Tín dụng tăng kỷ lục, "big 4" phát tín hiệu mới

Theo giới phân tích, khác với các ngân hàng tư nhân thường điều chỉnh lãi suất theo từng bước nhỏ, các ngân hàng quốc doanh có xu hướng tăng lãi suất huy động theo kiểu dứt khoát, với biên độ lớn.

Khi "big 4" đồng loạt nâng lãi suất, mặt bằng lãi suất toàn thị trường lập tức bị kéo lên, tạo hiệu ứng lan tỏa toàn hệ thống và làm nóng thêm "cuộc đua" lãi suất toàn thị trường. Diễn biến này phản ánh áp lực thanh khoản cuối năm, đồng thời cho thấy các ngân hàng đang chuẩn bị nguồn vốn cho chu kỳ tín dụng mới.

Mỹ thúc giục Ukraine chấp nhận bảo đảm an ninh 'tiêu chuẩn bạch kim'

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến cuối tháng 11, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 16,6% so với đầu năm. Đây là mức cao nhất quan sát được kể từ 2013, phản ánh nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế, đặc biệt khi mà rất nhiều các dự án cơ sở hạ tầng được thúc đẩy mạnh vào cuối năm.

Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng lớn khiến lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh hồi đầu tháng 12. Ngân hàng Nhà nước đã chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12.

Thực tế cho thấy, khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động cũng kéo tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, áp lực thanh khoản là hệ quả tất yếu và đã bộc lộ khá rõ trên các mặt bằng lãi suất.

"Trong bối cảnh tín dụng đã tăng mạnh, bài toán điều hành sắp tới không chỉ là “bơm đủ vốn”, mà là kiểm soát nhịp độ tăng tín dụng phù hợp với khả năng huy động và sức hấp thụ thực của nền kinh tế; đồng thời, củng cố nền vốn trung dài hạn cho hệ thống ngân hàng để tránh tích tụ rủi ro thanh khoản mang tính cấu trúc".

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, áp lực từ thị trường liên ngân hàng dần truyền sang thị trường huy động dân cư.

Khi tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để hút vốn đầu vào, nhất là ở các kỳ hạn trung và dài.

"Điều này giải thích vì sao mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên hoặc khó giảm thêm, dù định hướng chung vẫn là ổn định lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng" - ông Huân nhận định.

Lãi suất cho vay vì thế chịu sức ép tăng theo, nhưng theo vị chuyên gia này, mức độ truyền dẫn không hoàn toàn, do các ngân hàng phải chia sẻ một phần chi phí vốn tăng thêm để giữ khách hàng và hỗ trợ phục hồi kinh tế. Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, nhất là ở những ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn chưa đủ dày.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính mới phát hành ngày 17/12, theo ước tính của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng thương mại cổ phần lớn đã tăng 91 điểm cơ bản trong năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 20 điểm cơ bản từ nay cho đến cuối năm.

Trong bối cảnh giải ngân đầu tư công chưa có sự bứt phá, cùng nhu cầu rút tiền mặt gia tăng do gần Tết, lãi suất tiền gửi sẽ chịu áp lực tăng thêm trong các tháng tới.

"Lãi suất huy động VND kỳ vọng sẽ tăng thêm 88 điểm cơ bản trong 2026. Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất giai đoạn trước Covid-19" - bộ phận phân tích Techcombank đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80