Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng đang hướng tới con số 20%, cao nhất trong nhiều năm. Theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, mức tăng trưởng mạnh này cho thấy sức bật của nền kinh tế, song cũng cần lưu ý rủi ro kéo theo, nếu để dòng tiền lệch hướng. Theo đó, cần tiếp tục kiểm soát chặt an toàn tín dụng và phân bổ vốn đúng hướng.
aa

PV: Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 10/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng gần 15% so với cuối năm 2024 và hơn 20% so với cùng kỳ; riêng 27 ngân hàng niêm yết, chiếm tới 80% tổng dư nợ hệ thống, cũng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng cao nhất trong 5 năm. Đà tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ này cho thấy những tín hiệu gì, thưa ông?

Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng
TS. Châu Đình Linh

TS. Châu Đình Linh: Tăng trưởng tín dụng là lực đẩy trực tiếp đối với nền kinh tế thực. Mức tăng trưởng tín dụng cao trong 10 tháng năm 2025 phản ánh sự dồn nén nhu cầu vốn, đồng thời cũng là hiệu ứng từ chính sách tiền tệ tương đối cởi mở, nới lỏng.

Động lực đầu tiên đến từ quá trình phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế sau các cú sốc từ đại dịch Covid-19, biến động địa chính trị, thuế quan và nhiều yếu tố bất định khác. Tốc độ tăng trưởng GDP 3 năm gần đây liên tục cải thiện và năm nay có thể vượt 8%. Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2025 ghi nhận kết quả rất khả quan, đứng đầu khu vực Đông Nam Á.

Xuất khẩu - một trong những động lực tăng trưởng chính - tăng hơn 17% so với cùng kỳ, kéo theo nhu cầu bổ sung nguồn vốn. Cùng với đó, dòng vốn FDI thực hiện 10 tháng đạt 21,3 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ, cao nhất 5 năm qua. Điều này đẩy cầu tín dụng tăng mạnh từ phía doanh nghiệp để phục vụ sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, bao gồm cả khối doanh nghiệp FDI, vốn là phân khúc được nhiều ngân hàng trong nước phát triển dịch vụ chuyên biệt. Cùng lúc, nhu cầu tiêu dùng gia tăng tạo ra cầu tín dụng thật, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Cầu tín dụng cũng đến từ các định hướng ưu tiên của Chính phủ.

Động lực thứ hai xuất phát từ chính sách tiền tệ nới lỏng. Mặt bằng lãi suất được định hướng giảm, lãi suất điều hành giữ ổn định, tạo lực hỗ trợ đáng kể cho dòng tín dụng đổ vào nền kinh tế.

Định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2025 khoảng 16% được công bố từ đầu năm, nhưng không "cào bằng" như trước, mà dựa vào nhu cầu và chỉ tiêu đánh giá của từng ngân hàng. Từ đó, tiến tới dỡ bỏ dần hạn mức tín dụng, tập trung vào quản lý sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng.

Vì vậy, tính đến hết quý III/2025, có ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao hơn bình quân toàn ngành, thậm chí tiệm cận mức 30%. Những ngân hàng có chỉ số tốt, sức mạnh tài chính mạnh còn được nới room tín dụng cao hơn, như VPBank tăng gần 30%, MB tăng khoảng 20%... Tuy nhiên, đằng sau đà tăng trưởng tín dụng còn nhiều vấn đề cần bàn thêm.

Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng
Nguồn: Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính, Ngân hàng Techcombank

PV: Theo ông, đâu là những rủi ro mà hệ thống ngân hàng cần đặc biệt lưu ý để tăng trưởng tín dụng chất lượng, giữ vững an toàn hệ thống?

TS. Châu Đình Linh: Tôi cho rằng, không nên dựa hoàn toàn vào chính sách tiền tệ nới lỏng để tạo động lực tăng trưởng. Nền tảng tăng trưởng phải đến từ kinh tế thực, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra hàng hóa có giá trị, dựa trên chính nội lực của doanh nghiệp trong nước.

Chỉ khi đó, chính sách tiền tệ mới cân bằng và vận hành bền vững. Nếu tăng trưởng chủ yếu được thúc đẩy bằng tiền, thì rất dễ tạo ra rủi ro. Công thức kinh điển của Friedman, MV = PQ (trong đó M là cung tiền, V là vòng quay của tiền, P là giá cả hàng hóa - dịch vụ và Q là sản lượng hàng hóa - dịch vụ trong năm) cho thấy, chỉ cần cung tiền tăng mạnh và vòng quay cao, GDP sẽ được đẩy lên.

Chất lượng dòng vốn mới là then chốt

"Tăng trưởng tín dụng xét cho cùng chỉ là con số, điều cốt lõi phải bàn là chất lượng. Đó là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, của từng chủ thể kinh tế và dòng vốn đi đúng đích hay không. Hiệu quả sử dụng vốn sẽ phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng và khả năng hoàn trả của khách hàng, đây là yếu tố then chốt. Vì thế, nếu chỉ tập trung đẩy vốn ra mà không đánh giá đầy đủ, giám sát dòng vốn, bài toán xử lý rủi ro sẽ kéo dài" - TS. Châu Đình Linh.

Rõ ràng, tăng trưởng tín dụng và GDP là điều tốt, nhưng phải dựa trên yếu tố thật, cộng với sự thúc đẩy của chính sách tiền tệ, thì mới bền vững. Còn nếu cố gắng bơm 2 đồng tín dụng để tạo ra 1 đồng tăng trưởng GDP, có thể gánh hậu quả lạm phát về sau. Cùng với đó, nếu lạm dụng, không dựa trên khả năng hấp thụ của nhu cầu thực, của nền kinh tế, không tạo ra hàng hóa tương ứng, thì tiền rất dễ chảy vào những lĩnh vực đầu cơ. Từ đó, tài sản gia tăng, nhưng không tạo thêm hàng hóa hay giá trị gia tăng.

Thực tế, dư nợ tín dụng lên tới 137% GDP, lệ thuộc rất lớn vào hệ thống ngân hàng, kéo rủi ro chung của nền kinh tế tăng lên rõ rệt. Bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng, thị trường vốn cũng cần phát huy tích cực hơn, cùng hòa nhịp trong dòng vốn cho nền kinh tế.

PV: Nợ xấu dù tăng chậm lại qua các quý, nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng tín dụng và nợ nhóm 5 chiếm hơn 50%. Theo ông, trong bối cảnh tín dụng tăng tốc, các ngân hàng cần làm gì để kiểm soát chất lượng tín dụng?

TS. Châu Đình Linh: Chúng ta cần sớm đưa ra cảnh báo và nhìn lại quá trình chuyển giao nợ sang Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), khi một phần khoản nợ lại quay về hạch toán trên bảng cân đối của các ngân hàng thương mại.

Bên cạnh đó, việc trì hoãn tái cơ cấu nợ theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN trước đây có thể tạo ra "làn sóng" nợ xấu mới, bởi sau tái cơ cấu, khả năng phục hồi của nhiều khoản vay vẫn bấp bênh. Đó là những “zombie company” - các doanh nghiệp “xác sống” không thể hồi phục và buộc phải ghi nhận nợ xấu.

Cùng với đó, trong thời gian dài, các ngân hàng tăng trích lập dự phòng, gia tăng lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn nhằm giải quyết nợ xấu sau này. Tuy nhiên, chỉ nhóm ngân hàng tốp đầu làm tốt; các ngân hàng phía dưới vẫn còn nhiều thứ phải lo toan, hạn chế.

Do vậy, áp lực lớn về nợ xấu bị trì hoãn giai đoạn 2021 - 2024 đẩy về hiện nay, chưa kể tăng trưởng tín dụng sau này lại tiếp tục tạo thêm rủi ro nợ xấu. Nếu không có những công cụ đủ mạnh để quản trị rủi ro tín dụng, không đảm bảo an toàn, ổn định hệ thống thì sẽ phải xử lý “cục máu đông” từ nợ xấu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tín dụng tăng nóng, chuẩn an toàn vốn cần siết chặt

TS. Châu Đình Linh nhấn mạnh, tăng trưởng tín dụng phải đi cùng chất lượng, gắn với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và năng lực quản trị rủi ro của từng ngân hàng, từ đó, tạo ra quỹ đạo tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh và áp lực nợ xấu dồn tích, Ngân hàng Nhà nước cần bước đi quyết liệt hơn trong giám sát, kiểm soát dòng chảy tín dụng đúng đích và hạn chế rủi ro hệ thống.

Việc triển khai các yêu cầu trong Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đặt ra nhiều vấn đề lớn, với các câu hỏi như: các ngân hàng thực hiện thế nào, khả năng đáp ứng bộ đệm phản chu kỳ (CcyB) và bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) ra sao, năng lực tăng vốn tự có và giám sát tài sản có rủi ro tín dụng theo chuẩn Basel III có bao nhiêu ngân hàng theo kịp.

“Hiện chỉ nhóm ngân hàng tốp trên, đặc biệt là các ngân hàng “big 4”, đang triển khai tích cực; các ngân hàng thương mại cổ phần lớn cũng có lợi thế nhờ thừa hưởng và tiếp nhận tri thức quốc tế, nên mức độ đáp ứng tốt hơn” - ông Linh nhận định.

Tuy nhiên, các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, nội bộ chưa ổn định, kinh doanh chưa bền vững, chưa tạo ra nguồn thu liên tục, nợ xấu vẫn nhiều, năng lực cạnh tranh còn thua thiệt. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu về CAR, tiêu chuẩn an toàn hệ thống là rất khó.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực cho thị trường vốn

Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực cho thị trường vốn

(TBTCO) - Việc cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện huy động vốn và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các sản phẩm, dịch vụ mới được kỳ vọng tạo thêm động lực phát triển thị trường chứng khoán. Trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư, ông Nguyễn Kim Long, Giám đốc bộ phận Luật và Kiểm soát Tuân thủ, Công ty cổ phần Chứng khoán SSI cho rằng, cải cách thủ tục cần gắn với nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm của các chủ thể và hiệu quả giám sát thị trường.
Phát triển kinh tế biển: Mở không gian tăng trưởng mới từ doanh nghiệp và công nghệ

Phát triển kinh tế biển: Mở không gian tăng trưởng mới từ doanh nghiệp và công nghệ

(TBTCO) - Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia và phát huy các động lực tăng trưởng mới. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (VSA), để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh, cần lấy doanh nghiệp làm chủ thể, công nghệ tiên tiến làm động lực và tích hợp đa ngành làm phương thức phát triển.
Mở dư địa huy động vốn dài hạn qua kênh trái phiếu chính phủ

Mở dư địa huy động vốn dài hạn qua kênh trái phiếu chính phủ

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Thảo Hạnh, Chuyên gia Nghiên cứu tín dụng và Tài chính bền vững, FiinRatings cho rằng, trước nhu cầu vốn dài hạn ngày càng lớn, việc cải thiện thanh khoản, phát triển các kỳ hạn và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng huy động vốn qua trái phiếu chính phủ.
Cải cách thuế từ tư duy quản lý đến tinh thần đồng hành

Cải cách thuế từ tư duy quản lý đến tinh thần đồng hành

(TBTCO) - Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt lớn trong tiến trình hoàn thiện thể chế chính sách quản lý thuế của Việt Nam. Cải cách không chỉ được đánh giá qua số lượng văn bản được ban hành, mà còn ở việc đơn giản hóa thủ tục và giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam.
Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lê Tiến Trung, Giảng viên Tài chính Ngân hàng, Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa cho rằng, chi phí vốn gia tăng đang ảnh hưởng đến kế hoạch phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trong khi khả năng huy động vốn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng tín dụng và năng lực trả nợ.
Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

(TBTCO) - Sau bước tiến về nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết và đổi mới cơ chế giao dịch. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lương Duy Phước – Giám đốc Phân tích, Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi cho rằng, những cải cách về tổ chức thị trường, giao dịch và thanh toán cần được triển khai đồng bộ với nâng cao năng lực quản trị rủi ro, qua đó tạo nền tảng thu hút dòng vốn dài hạn.
Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

(TBTCO) - Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cụ thể hóa đột phá trong thu hút đầu tư nước ngoài, từ hoàn thiện thể chế đến phát triển hệ sinh thái đầu tư đồng bộ. Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư về những chuyển động chính sách nhằm nâng chất dòng vốn FDI và tăng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

(TBTCO) - Dù chiếm tỷ trọng đáng kể trong cộng đồng doanh nghiệp, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận vốn. Theo bà Từ Thu Hiền - Giám đốc Sáng kiến Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh (WISE), cải thiện khả năng tiếp cận vốn sẽ tạo điều kiện để nhóm doanh nghiệp này phát huy tiềm năng, mở rộng hoạt động và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều