Nhiều ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh năm 2025, với tổng tài sản tăng tốc mạnh

(TBTCO) - Thông tin về kết quả kinh doanh năm 2025 vừa được nhiều ngân hàng hé lộ cho thấy, quy mô tổng tài sản toàn hệ thống tiếp tục mở rộng mạnh mẽ. Các chỉ tiêu quan trọng khác như dư nợ tín dụng, huy động vốn và lợi nhuận đều duy trì đà tăng tích cực.
aa
BIDV lãi 23.600 tỷ đồng, trở thành ngân hàng đầu tiên có tổng tài sản vượt 3 triệu tỷ đồng Ngân hàng lớn giữ nhịp khi dòng tín dụng "bơm" thêm 2,8 triệu tỷ đồng Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Thông tin từ Hội nghị triển khai nhiệm vụ, kế hoạch kinh doanh năm 2026 do BIDV vừa tổ chức cho thấy, tính đến hết ngày 31/12/2025, BIDV đã hoàn thành và vượt toàn bộ chỉ tiêu do Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao.

Cụ thể, tổng tài sản đạt trên 3,25 triệu tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2024, tiếp tục khẳng định vị thế ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất Việt Nam; dư nợ tín dụng đạt trên 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 15,2%. Cùng với đó, huy động vốn đạt trên 2,4 triệu tỷ đồng, tăng 13,7%.

Chất lượng tín dụng được kiểm soát chặt chẽ với tỷ lệ nợ xấu theo Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ở mức 1,2%. Kết thúc năm 2025, lợi nhuận trước thuế hợp nhất của BIDV đạt trên 36.000 tỷ đồng, ước tăng trên 12%. Các chỉ tiêu an toàn và hiệu quả hoạt động được đảm bảo, với ROA (tỷ suất lợi nhuận/tổng tài sản) đạt 1,01%, ROE (tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu) đạt 19,02% và hệ số an toàn vốn (CAR) đạt 9%.

Nhiều ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh 2025, với tổng tài sản tăng tốc mạnh
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Từ các thông tin về kết quả kinh doanh năm 2025 mới được các ngân hàng cung cấp, BIDV giữ vững vị thế dẫn đầu về quy mô tổng tài sản với 3,25 triệu tỷ đồng, tăng 20% so với cuối năm 2024. Agribank đạt 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 12,1%. MB tăng bứt phá gần 33%, đưa tổng tài sản lên 1,5 triệu tỷ đồng.

Năm 2024, BIDV đứng đầu hệ thống với tổng tài sản gần 2,8 triệu tỷ đồng; Agribank đạt 2,23 triệu tỷ đồng, đứng thứ 3 và MB đạt 1,1 triệu tỷ đồng, xếp vị trí thứ 5 trong hệ thống.

BIDV tiếp tục bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, với vốn chủ sở hữu riêng ngân hàng đạt 163.000 tỷ đồng, tăng 19,6%; vốn điều lệ trên 70.000 tỷ đồng; giá trị vốn hóa đạt khoảng 273.000 tỷ đồng (tương đương 10,5 tỷ USD). Ngân hàng nộp ngân sách trên 12.700 tỷ đồng, thuộc nhóm doanh nghiệp dẫn đầu về đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp.

Đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, BIDV đã chủ động tiết giảm chi phí, chấp nhận giảm thu nhập hơn 5.600 tỷ đồng để hạ lãi suất cho vay.

Trong năm 2025, ngân hàng hỗ trợ gần 400.000 khách hàng với mức giảm lãi suất 0,5 - 2%/năm; đồng thời cơ cấu lại thời hạn trả nợ, triển khai chương trình cho vay nhà ở xã hội quy mô 30.000 tỷ đồng, chương trình tháo gỡ khó khăn cho lĩnh vực lâm sản, thủy sản với dư nợ giải ngân 22.000 tỷ đồng và đẩy mạnh tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Bước sang năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15 - 16% theo hạn mức Ngân hàng Nhà nước giao, kiểm soát nợ xấu không quá 1,5%; lợi nhuận trước thuế tăng khoảng 10% và tiếp tục tuân thủ đầy đủ các tỷ lệ an toàn hoạt động.

MB cũng đạt được nhiều chỉ tiêu tích cực. Trong gửi cán bộ, nhân viên đầu năm 2026, Tổng Giám đốc MB thông tin, lợi nhuận trước thuế năm 2025 của ngân hàng dự kiến đạt 33.700 tỷ đồng, tăng khoảng 17% so với năm 2024, vượt kế hoạch đề ra (lợi nhuận hợp nhất 31.712 tỷ đồng, tăng 10%). Tổng tài sản đến cuối năm 2025 của MB ước đạt gần 1,5 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 33% so với đầu năm và vượt xa kế hoạch đề ra (1,37 triệu tỷ đồng); huy động vốn đạt khoảng 1,05 triệu tỷ đồng.

Đối với Agribank, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Agribank cho biết, kết thúc năm 2025, tổng tài sản của ngân hàng đạt trên 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 12,1% so với đầu năm; dư nợ cho vay nền kinh tế đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 16%; huy động vốn đạt 2,35 triệu tỷ đồng.

Trước đó, Agribank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2025 ở mức 28.688 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 2,39 - 2,45 triệu tỷ đồng, dư nợ tín dụng tăng tối đa 12,5% và tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 1,5%.

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2026, lãnh đạo Agribank cho biết, trong năm 2025, ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng với tổng quy mô lên tới 685 nghìn tỷ đồng, áp dụng mặt bằng lãi suất thấp hơn thông thường 1 - 2%. Trong đó nổi bật là gói 60 nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và công nghệ số, cùng gói 28 nghìn tỷ đồng dành cho tín dụng xanh, nông nghiệp sạch, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30