BIDV lãi 23.600 tỷ đồng, trở thành ngân hàng đầu tiên có tổng tài sản vượt 3 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - BIDV ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất 9 tháng năm 2025 đạt 23.632 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ, nhờ thu nhập lãi thuần duy trì đà tăng và nguồn thu ngoài lãi bứt phá. Tổng tài sản của BIDV chính thức vượt 3 triệu tỷ đồng, củng cố vị thế dẫn đầu hệ thống, cùng chất lượng tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, hướng tới kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,6%.
aa
Đại hội đồng cổ đông BIDV: Dồn lực tăng vốn trên 90 nghìn tỷ đồng, sẵn sàng ứng phó tác động thuế quan BIDV tiến sát mốc 3 triệu tỷ đồng tổng tài sản, lợi nhuận vượt 16.000 tỷ đồng nửa đầu năm BIDV tiến sát mốc 80.000 tỷ đồng tín dụng xanh, mở rộng hệ sinh thái tài chính bền vững

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - mã Ck: BID) vừa công bố báo cáo tài chính quý III/2025.

Theo báo cáo tài chính BIDV vừa được công bố, lợi nhuận trước thuế hợp nhất 9 tháng năm 2025 đạt 23.632 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ. Mức tăng này đến từ nhiều yếu tố cấu thành, phản ánh hiệu quả hoạt động cốt lõi ổn định, giúp tổng thu nhập hoạt động của BIDV trong 9 tháng năm 2025 tăng tới 11,9% so với cùng kỳ.

Sau 9 tháng năm 2025, hoạt động kinh doanh của BIDV được duy trì ổn định, an toàn, hiệu quả, bám sát kế hoạch đề ra. Hoạt động huy động vốn đảm bảo cân đối vốn, tín dụng tăng trưởng khá, chất lượng tín dụng được kiểm soát, các chỉ tiêu hiệu quả cải thiện.

Quy mô tín dụng của BIDV tiếp đà mở rộng, giúp thu nhập lãi thuần tăng 4,1% lên 44.110 tỷ đồng, đóng góp lớn nhất vào tổng lợi nhuận.

Bên cạnh đó, nguồn thu ngoài lãi bật tăng 38,6% so với cùng kỳ. Trong đó, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng lên 5.159 tỷ đồng. Lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh tăng mạnh 80,6%, đạt 328 tỷ đồng; hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư đảo chiều lãi 1.310 tỷ đồng và trở thành điểm sáng nổi bật trong mảng thu nhập ngoài lãi.

Ngân hàng cũng tăng trích lập dự phòng lên 16.862 tỷ đồng, thể hiện chính sách quản trị rủi ro chủ động và thận trọng, nhằm tăng cường “bộ đệm” an toàn tín dụng trong bối cảnh mở rộng quy mô cho vay.

BIDV lãi hơn 23.600 tỷ đồng, vững vị thế ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tính đến cuối tháng 9/2025, tổng tài sản hợp nhất của BIDV đạt trên 3,07 triệu tỷ đồng và là ngân hàng duy nhất vượt ngưỡng 3 triệu tỷ đồng, tiếp tục giữ vững vị thế quy mô tổng tài sản lớn nhất tại Việt Nam.

Hoạt động tín dụng tăng trưởng khá, với dư nợ tăng 8,8% so với đầu năm, đạt 2,23 triệu tỷ đồng. Chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ, mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức dưới 1,6% vào cuối năm 2025. Ngân hàng cũng thực hiện đầy đủ việc trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, đảm bảo đáp ứng các chỉ tiêu an toàn hoạt động.

Trong đó, tín dụng tăng đều ở cả phân khúc bán lẻ và bán buôn. Dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân tăng 9,2%, duy trì thị phần tín dụng bán lẻ số 1 thị trường. Dư nợ khối khách hàng doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng tốt của phân khúc FDI, tăng 29,4% so với đầu năm.

Cùng với đó, hoạt động huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo an toàn thanh khoản. Tính đến cuối tháng 9/2025, huy động vốn từ tổ chức và dân cư đạt trên 2,29 triệu tỷ đồng, tăng 6,5% so với đầu năm.

Bên cạnh hiệu quả kinh doanh ghi nhận kết quả tích cực, BIDV tiếp tục khẳng định vị thế ngân hàng dẫn đầu với những kết quả nổi bật trong chuyển đổi toàn diện hoạt động, tối ưu hóa vận hành, tiên phong triển khai chiến lược “kép” số hóa, xanh hóa, tăng cường hợp tác quốc tế.

Ngân hàng cũng chủ động ứng dụng công nghệ, mở rộng hệ sinh thái số hóa. Với khách hàng bán lẻ, BIDV triển khai nhân rộng mô hình thúc đẩy bán lẻ mới, ra mắt nhiều tính năng mới trên ứng dụng SmartBanking phiên bản X. Với khách hàng bán buôn, ngân hàng ra mắt BIDV SCF và tiếp tục nâng cấp ứng dụng BIDV Direct ngân hàng số chuyên biệt cho doanh nghiệp.

Khẳng định vai trò tiên phong trong lĩnh vực tài chính xanh và phát triển bền vững, trong 9 tháng năm 2025, dư nợ tín dụng xanh của BIDV đạt khoảng 81.000 tỷ đồng, chiếm 3,7% tổng dư nợ, giữ vững vị thế dẫn đầu toàn hệ thống ngân hàng về quy mô tài trợ xanh.

Trong thời gian tới, lãnh đạo BIDV cho biết, ngân hàng tiếp tục bám sát diễn biến thị trường và hệ thống, điều hành hoạt động kinh doanh theo hướng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; đồng thời, tập trung đẩy mạnh các nguồn thu phi lãi, tăng cường các dịch vụ ngân hàng điện tử, tối đa hóa các nguồn thu và kiểm soát chi phí..., phấn đấu hoàn thành kế hoạch năm đã đề ra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 6/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.147 đồng, tăng 9 đồng trong tuần, đánh dấu tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Chỉ số DXY kết tuần tại 100,06 điểm, tăng 0,65% và lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu việc làm Mỹ vượt kỳ vọng, qua đó, củng cố khả năng Fed có thể tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng 12.
Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn với mức điều chỉnh lên tới gần 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về quanh ngưỡng 149 - 153 triệu đồng/lượng.
Bộ Tài chính bãi bỏ thủ tục chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm từ ngày 1/7

Bộ Tài chính bãi bỏ thủ tục chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1381/QĐ-BTC công bố bãi bỏ thủ tục hành chính “Chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm”. Theo quy định hiện hành, việc chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm cấp trước ngày 1/1/2023 phải hoàn thành trước ngày 30/6/2026, các chứng chỉ chưa được chuyển đổi sẽ hết hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,880 14,380
Kim TT/AVPL 13,880 14,380
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,880 14,380
Nguyên Liệu 99.99 13,780 ▲100K 13,980 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,730 ▲100K 13,930 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲20K 14,200 ▲20K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲20K 14,150 ▲20K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲20K 14,130 ▲20K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,800 143,800
Hà Nội - PNJ 138,800 143,800
Đà Nẵng - PNJ 138,800 143,800
Miền Tây - PNJ 138,800 143,800
Tây Nguyên - PNJ 138,800 143,800
Đông Nam Bộ - PNJ 138,800 143,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,880 14,380
Miếng SJC Nghệ An 13,880 14,380
Miếng SJC Thái Bình 13,880 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,380
NL 99.90 13,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,570 14,270
Trang sức 99.99 13,580 14,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,388 14,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,388 14,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,386 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,386 1,437
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,366 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,236 ▼600K 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,288 ▼600K 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,734 ▼60K 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,503 ▼600K 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,912 ▼600K 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 1,438
Cập nhật: 09/06/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18050 18324 18900
CAD 18353 18629 19245
CHF 32375 32758 33401
CNY 0 3845 3938
EUR 29758 29980 31058
GBP 34356 34748 35679
HKD 0 3230 3432
JPY 157 161 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15003 15591
SGD 19921 20203 20775
THB 718 781 835
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26160 26408
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,408
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,929 29,953 31,262
JPY 160.24 160.53 169.57
GBP 34,584 34,678 35,738
AUD 18,262 18,328 18,947
CAD 18,567 18,627 19,238
CHF 32,673 32,775 33,615
SGD 20,069 20,131 20,846
CNY - 3,817 3,947
HKD 3,301 3,311 3,436
KRW 15.99 16.68 18.07
THB 766.52 775.99 827.82
NZD 14,997 15,136 15,526
SEK - 2,750 2,837
DKK - 4,005 4,129
NOK - 2,738 2,824
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,072.45 - 6,826.82
TWD 754.7 - 910.71
SAR - 6,910.55 7,251.9
KWD - 83,619 88,623
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,137 26,407
EUR 29,804 29,924 31,110
GBP 34,521 34,660 35,677
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,524 32,655 33,570
JPY 160.39 161.03 168.53
AUD 18,239 18,312 18,904
SGD 20,060 20,141 20,722
THB 783 786 821
CAD 18,545 18,619 19,186
NZD 15,041 15,576
KRW 16.33 17.89
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26408
AUD 18203 18303 19228
CAD 18525 18625 19640
CHF 32598 32628 34214
CNY 3823.2 3848.2 3983.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29925 29955 31678
GBP 34627 34677 36438
HKD 0 3355 0
JPY 160.9 161.4 171.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15089 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20066 20196 20927
THB 0 746.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13800000 13800000 14500000
SBJ 12000000 12000000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,142 26,407
USD20 26,173 26,142 26,407
USD1 23,893 26,142 26,407
AUD 18,251 18,351 19,458
EUR 30,042 30,042 31,451
CAD 18,484 18,584 19,896
SGD 20,113 20,263 20,823
JPY 161.34 162.84 167.41
GBP 34,497 34,847 35,711
XAU 14,248,900 0 14,651,100
CNY 0 3,732 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/06/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80